Thứ Sáu, 14 tháng 4, 2023

NGHI THỨC NIỆM PHẬT


NGHI THỨC NIỆM PHẬT

Biên soạn: Thích Chiếu Nguyện


(Đứng thẳng, chắp tay, tụng bài tán Phật.)

KỆ TÁN PHẬT

Pháp vương vô thượng tôn

Tam giới vô luân thất

Thiên nhơn chi Đạo sư

Tứ sanh chi từ phụ

Ư nhứt niệm quy y

Năng diệt tam kỳ nghiệp

Xưng dương nhược tán thán

Ức kiếp mạc năng tận.

QUÁN TƯỞNG

Năng lễ, sở lễ tánh không tịch

Cảm ứng đạo giao nan tư nghì

Ngã thử đạo tràng như Đế châu

Thập phương chư Phật ảnh hiện trung

Ngã thân ảnh hiện chư Phật tiền

Đầu diện tiếp túc quy mạng lễ.

LỄ PHẬT

      Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Tận Hư Không, Biến Pháp Giới, Quá Hiện Vị Lai, Thập Phương Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, Thường Trụ Tam Bảo. (1 lạy)

      Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Ta Bà Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát, Hộ Pháp Chư Tôn Bồ Tát, Linh Sơn Hội Thượng Phật Bồ Tát. (1 lạy)

      Chí tâm đảnh lễ: Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát, Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát, Thanh Tịnh Đại Hải chúng Bồ Tát. (1 lạy)

KỆ NIỆM PHẬT

(Ngồi xuống, vào chuông mỏ đồng niệm Phật)

A Di Đà Phật thân kim sắc

Tướng hảo quang minh vô đẳng luân

Bạch hào uyển chuyển ngũ tu di

Cám mục trừng thanh tứ đại hải

Quang trung hóa Phật vô số ức

Hóa Bồ Tát chúng diệc vô biên

Tứ thập bát nguyện độ chúng sanh

Cửu phẩm hàm linh đăng bỉ ngạn.

     Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.

    NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT. (Niệm 1 giờ, 2 giờ, 3 giờ,  hay nhiều ít tùy ý)

   Nam Mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát(3 lần)

   Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)

   Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

  Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

MƯỜI ĐẠI NGUYỆN PHỔ HIỀN

    Đệ tử chúng đẳng

    Tùy thuận tu tập

    Phổ Hiền Bồ Tát

    Thập chủng đại nguyện

    Nhất giả lễ kính chư Phật

    Nhị giả xưng tán Như Lai

    Tam giả quảng tu cúng dường

    Tứ giả sám hối nghiệp chướng

    Ngũ giả tùy hỷ công đức

    Lục giả thỉnh chuyển pháp luân

    Thất giả thỉnh Phật trụ thế

    Bát giả thường tùy Phật học

    Cửu giả hằng thuận chúng sanh

    Thập giả phổ giai hồi hướng.

HỒI HƯỚNG

Niệm Phật công đức thù thắng hạnh

Vô biên thắng phước giai hồi hướng

Phổ nguyện pháp giới chư chúng sanh

Tốc vãng vô lượng quang Phật sát

Nguyện tiêu tam chướng trừ phiền não

Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu

Phổ nguyện tội chướng tất tiêu trừ

Thế thế thường hành Bồ Tát đạo

Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung

Cửu phẩm Liên hoa vi phụ mẫu

Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh

Bất thối Bồ Tát vi bạn lữ.

Nguyện dĩ thử công đức

Phổ cập ư nhứt thiết

Ngã đẳng dữ chúng sanh

Giai cộng thành Phật đạo.

LỜI PHÁT NGUYỆN VÃNG SANH

      Nam Mô A Di Đà Phật

      Con thế danh:……….

      Pháp danh:………….

      Con nguyện đem công đức niệm Phật, công đức tu tập, công đức làm việc lành, hồi hướng được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

      Ngưỡng mong Đức Phật A Di Đà, Bồ Tát Đại Bi Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, tiếp dẫn Con về Tây Phương Cực Lạc.

      Con Nguyện đến lúc lâm chung, biết trước ngày giờ, thân không bệnh khổ, tâm không điên đảo, Tín Hạnh Nguyện đầy đủ, mạng chung liền được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, diện kiến Đức Phật A Di Đà, được Phật Thọ Ký, sớm thành Phật Đạo.

      Nam Mô A Di Đà Phật

TỰ QUY Y

      Tự quy y Phật, đương nguyện chúng sanh, thể giải đại đạo, phát vô thượng tâm. (1 lạy)

       Tự quy y Pháp, đương nguyện chúng sanh, thâm nhập kinh tạng, trí huệ như hải. (1 lạy)

       Tự quy y Tăng, đương nguyện chúng sanh, thống lý đại chúng, nhất thiết vô ngại. (1 lạy)

Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.

PHỤ LỤC

NHỮNG LỜI DẠY CỦA PHẬT BỒ TÁT KHUYÊN NGƯỜI NIỆM PHẬT

       Kinh A Di Đà

     Kinh A Di Đà, đoạn Đức Phật dạy cách niệm Phật để được sanh về Cực Lạc:

      “Xá Lợi Phất! Nếu có hàng thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói Đức Phật A Di Ðà, rồi chấp trì danh  hiệu Đức Phật đó, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, một lòng không tạp loạn.

     Thời người đó đến lúc lâm chung Đức Phật A Di Ðà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân trước người đó.

      Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Ðà.

      Xá Lợi Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế.

    Nếu có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc”.

     Kinh Vô Lượng Thọ

     Nguyện thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, ngài Pháp Tạng phát nguyện như vầy:

    “Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng ở ngôi chánh giác”.

       Đoạn Đức Phật dạy về Ba phẩm vãng sanh:

    “Nầy A Nan! Chúng sanh ở mười phương, những người và chư thiên nguyện cầu sanh về nước an lạc của đức Vô Lượng Thọ Phật có ba hạng:

      Hạng thượng phẩm là những người bỏ nhà lìa ái dục mà làm Sa Môn, phát tâm Bồ Đề, chuyên một lòng niệm Vô Lượng Thọ Phật, tu các công đức, nguyện sanh về nước ấy. Lúc chúng sanh này lâm chung, Đức Vô Lượng Thọ Phật cùng hàng Thánh chúng hiện ra trước người ấy, liền theo Đức Phật sanh về nước An Lạc, tự nhiên hóa sanh từ trong hoa sen thất bảo, ở bực bất thối chuyển, trí huệ dũng mãnh, thần thông tự tại.

     Vì thế nên, nầy A Nan! Có ai muốn hiện đời được thấy Đức Vô Lượng Thọ Phật thì phải phát tâm Vô thượng Bồ Đề tu những công đức nguyện sanh về nước An Lạc.

     Nầy A Nan! Hạng trung phẩm là những người và chư thiên ở các thế giới mười phương, có ai chí tâm nguyện sanh về nước ấy, dầu chẳng làm Sa Môn tu các công đức lớn được, nhưng phải phát tâm Vô thượng Bồ Đề chuyên một mặt niệm Vô Lượng Thọ Phật, làm lành hoặc ít hoặc nhiều, giữ gìn giới Bát quan trai, xây dựng tháp tượng, trai tăng, treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương, dùng đây để hồi hướng nguyện sanh về nước An Lạc. Lúc người nầy lâm chung, Đức Vô Lượng Thọ Phật hóa hiện thân ra đủ tướng tốt và quang minh như chơn Phật cùng với Thánh chúng đến trước người ấy, liền theo Đức Hóa Phật sanh về nước An Lạc ở bực bất thối chuyển. Công đức trí huệ kế bực thượng phẩm.

     Nầy A Nan! Hạng hạ phẩm là có những người và chư thiên ở các thế giới mười phương chí tâm muốn sanh về nước An Lạc, giả sử chẳng làm được các công đức, họ phải phát tâm Vô thượng Bồ Đề, một mặt chuyên tâm niệm Vô Lượng Thọ Phật cho đến mười niệm nguyện sanh nước An Lạc, hoặc nghe pháp Ðại thừa vui mừng tin ưa chẳng sanh nghi hoặc niệm Vô Lượng Thọ Phật cho đến một niệm, dùng tâm chí thành nguyện sanh nước An Lạc. Người ấy lúc lâm chung chiêm bao thấy Đức Vô Lượng Thọ Phật cũng được vãng sanh, công đức trí huệ kế bực trung phẩm”.

     Kinh Niệm Phật Ba La Mật

    Đoạn Đức Phật dạy pháp Niệm Phật trong kinh Niệm Phật Ba La Mật:

    “Giáo nghĩa này, chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật hiện tại đang nói, và chư Phật vị lai sẽ nói. Tất cả chúng sanh đời Mạt pháp sẽ nương nơi giáo nghĩa này mà được giải thoát rốt ráo, mãi mãi xa lìa các đường ác, hiện đời an ổn, sau khi mạng chung đuợc sanh về cõi Phật, chứng ngôi vị Bất thối, dần dần tu tập cho đến khi đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề…

    Chư Phật đã dùng Phật nhãn quán sát khắp mười phương, thấy rõ nghiệp lực chúng sanh lành dữ không đồng đều, thấy thân tướng và cảnh giới của chúng sanh xấu tốt có sai biệt. Nhưng điểm sanh khởi chẳng rời sát na tâm sanh diệt, chỗ hội quy cũng không rời sát na tâm sanh diệt. Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát na tâm sanh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp NIỆM PHẬT.

      Diệu Nguyệt cư sĩ, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, đủ lòng tin thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Nam Mô A DI ĐÀ PHẬT, suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được Y báo, và Chánh báo của Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc. Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp nối liền nhau, lập tức vào Phổ Đẳng Tam Muội của Đức A Di Đà, được Phật tiếp dẫn về Tịnh độ Tây phương. Vĩnh viễn xa lìa các đường ác, không còn luân hồi sanh tử. Đó gọi là quả vị Bất Thối Chuyển. Từ lúc ấy nhẫn lại về sau, vượt qua Thập địa, chứng Vô Thượng Giác.

     Diệu Nguyệt nên biết, đây thật là pháp vi diệu thù thắng đệ nhất, mà chư Phật dùng để cứu độ khắp hết thảy chúng sanh.

     Đây thật là môn tu thích đáng khế hợp mọi căn cơ mà chư Phật dùng để đưa hết thảy muôn loài xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết Bàn tại thế, thành Phật trong một đời.

      Đây là môn tu Đại Oai Lực Đại Phước Đức mà chư Phật giúp chúng sanh vượt thắng thân phàm phu, mà thâm nhập cảnh giới Chơn thường.

Đây là môn tu Đại Bát Nhã Đại Thiền Định, mà chư Phật dùng làm thuyền bè đưa hết thảy chúng sanh qua thấu bờ bên kia, không còn sanh già bịnh chết, hoàn toàn hưởng dụng pháp lạc.

       Đây là môn tu Đại Trang Nghiêm Đại Thanh Tịnh, mà chư Phật dùng để đưa hết thảy chúng sanh vào giới luật, nhiếp chúng sanh vào oai nghi, an ổn khoái lạc.

      Đây là một môn tu Đại Nhu Hòa Đại Nhẫn Nhục, mà chư Phật giúp hết thảy chúng sanh tự tại giữa khổ và vô thường mà thành tựu Tri Kiến Phật.

     Đây là môn tu Đại Bồ Đề Đại Siêu Việt, mà chư Phật dùng làm cứu cánh để giúp hết thảy chúng sanh thành Phật như Phật ngay trong một kiếp.

       Đây là môn tu Đại Từ Bi Đại Dũng Mãnh, mà chư Phật dùng để giúp chúng sanh có được cái Tâm bằng Tâm chư Phật, có được cái nguyện bằng Nguyện chư Phật, mau chóng vượt qua địa vị phàm phu và tự chứng Pháp thân từng phần.

     Lại nữa trong quá khứ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp nhẫn lại đến nay, chư Phật cũng chỉ dùng một pháp Niệm Phật nầy để độ khắp chúng sanh. Trong hiện tại cũng có vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật ở mười phương, cũng đang thuyết giảng giáo nghĩa Niệm Phật nầy để rộng cứu vớt chúng sanh.

     Trong đời vị lai, tất cả chư Phật nếu muốn cứu vớt hết mọi chúng sanh, thì cũng phải do nơi pháp Niệm Phật này. Do đó mà Như Lai bảo rằng: Niệm Phật là Vua của tất cả các Pháp”.

     Đại Thế Chí Bồ Tát niệm Phật viên thông, trích Kinh Lăng Nghiêm

      Đại Thế Chí Bồ Tát do niệm Phật mà chứng viên thông, nhẫn đến tu Bồ Tát đạo, giáo hóa chúng sinh đều không rời pháp môn niệm Phật.

       Trong pháp hội Thủ Lăng Nghiêm, lúc Đức Bổn Sư hỏi về nguyên do chứng nhập viên thông của Thánh chúng, đức Đại Thế Chí Bồ Tát bạch Phật rằng:

      “Con nhớ lại hằng hà sa số kiếp về trước, Đức Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai dạy cho con pháp Niệm Phật Tam Muội. Ví như hai người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, Hai người như thế, dù có gặp nhau cũng như không gặp, dù có thấy nhau cũng như không thấy. Nếu hai người tha thiết nhớ nhau, thời hai người nhớ in sâu, như hình với bóng chẳng xa cách nhau.

     Thập phương chư Phật thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con trốn tránh, mẹ nhớ ích gì. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thời mẹ con trải qua nhiều kiếp chẳng xa trái nhau.

      Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, niệm Phật thời hiện tại hay tương lai, nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng nhờ phương tiện nào khác mà tự mở ngộ tâm mình. Như người nhiễm hương, thân có mùi hương, như thế gọi là Hương quang trang nghiêm. Trước đây con vốn do tâm niệm Phật mà chứng nhập vô sanh nhẫn, nay ở thế giới này, đón tiếp người niệm Phật, về nơi Tịnh Độ.

      Phật hỏi viên thông, con không chọn lựa, chỉ thu nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục, được thành chánh định, đó là đệ nhất”.

    Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát khuyên tấn chúng hội niệm Phật, trích trong kinh “Quán Phật Tam Muội Hải”

“Lúc đức Thế Tôn giảng pháp “Quán Phật Tam Muội” xong, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo đại chúng rằng:

    Về thuở quá khứ, thời kỳ Phật Bửu Oai Ðức Như Lai, đồng tử Giới Hộ, con trai của một ông Trưởng giả, từng thọ pháp Tam Quy khi còn ở trong thai mẹ. Năm lên tám, một hôm cha mẹ thỉnh Đức Bửu Oai Ðức Phật về nhà cúng dường. Ðồng tử Giới Hộ thấy đức Phật cử chỉ đoan trang đi chậm rãi, dưới chơn Phật, mỗi bước mọc hoa sen, thân Phật tỏa ánh sáng rực rỡ, thời mừng rỡ cung kính, liền cúi đầu đảnh lễ. Lễ Phật rồi, đồng tử chí thành chăm nhìn Phật không rời.

      Ðồng tử Giới Hộ nhơn vì một lần được thấy Phật và nhìn Phật đó mà tiêu trừ được tội sanh tử của trăm nghìn ức na do tha kiếp. Từ đó về sau, đời đời luôn đặng gặp chư Phật, nhiều đến số trăm ức na do tha hằng hà sa Đức Phật. Các Đức Thế Tôn ấy đều giảng dạy pháp “Quán Phật Tam Muội” đúng như lời của Đức Bổn Sư vừa giảng.

      Sau đó có trăm vạn Đức Phật ra đời đồng một hiệu: Chiên Ðàn Hải. Ðồng tử chầu chực khắp tất cả chư Phật, thường lễ Phật, cúng dường, chấp tay nhìn Phật. Do công đức quán Phật, nên rồi lại đặng gặp trăm vạn a tăng kỳ Đức Phật liền chứng đặng trăm vạn ức “Niệm Phật tam muội”, chứng đặng trăm vạn a tăng kỳ “triền đà la ni môn”. Khi đồng tử đã chứng các môn tam muội và đà la ni, chư Phật liền hiện thân thuyết vô tướng pháp cho. Khi đồng tử đặng nghe vô tướng pháp, trong giây lát bèn chứng đặng “Thủ Lăng Nghiêm tam muội”.

     Thuật xong, đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát kết luận: “Ðồng tử Giới Hộ tối sơ do nhờ thọ pháp Tam Quy, một lần chí thành lễ Phật, quán Phật, tâm không mỏi nhàm, nên rồi được gặp vô số chư Phật. Huống là người chuyên lòng luôn tưởng nơi Phật!

     Ðồng tử Giới Hộ đó không phải ai đâu lạ, chính là tiền thân của tôi đấy!”.

     Văn Thù Sư Lợi nói dứt lời, Đức Bổn Sư phán với ngài A Nan: “Ông nên đem lời của Văn Thù Sư Lợi nói lại cho khắp tất cả đại chúng và tất cả chúng sanh đời sau.

Nếu ai có thể lễ Phật, ai có thể niệm Phật, ai có thể quán Phật, thời người ấy sẽ đồng với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát”.

     Cũng như Bồ Tát Phổ Hiền, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng có lời tự nguyện về Cực Lạc thế giới, chép trong kinh “Văn Thù Phát Nguyện” như sau:

Nguyện tôi đến lúc mạng chung

Trừ hết tất cả những chướng ngại

Diện kiến Đức Phật A Di Đà

Liền được vãng sanh Cực Lạc quốc…”

       Mã Minh Bồ Tát khuyên người niệm Phật

      Bồ Tát Mã Minh là một trong những vị Tổ nổi tiếng, khi Ngài sinh ra, cảm bầy ngựa trong nhà hí vang, nhân đó mà đặt tên là Mã Minh. Đời Ngài cực lực hoằng dương Đại Thừa, đặc biệt là Tịnh Độ, Ngài viết rất nhiều bộ luận để xiểng dương Đại Thừa. Bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận có đoạn dạy dạy người niệm Phật như sau:

“Nên mạnh mẽ tinh tấn, ngày đêm sáu thời, lễ bái chư Phật; thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng về quả Bồ Ðề. Tu tập như thế không thôi nghỉ thì sẽ được khỏi các chướng, căn lành thêm lớn. Lại nói: “Như Lai có thẳng phương tiện để nhiếp hộ kẻ tín tâm. Ấy là dùng nhân duyên chuyên nhớ niệm Phật tùy nguyện cầu sanh về Tịnh Ðộ ở phương khác, do được thường thấy Phật nên vĩnh viễn xa lìa ác đạo”. Như trong Tu Đa La nói: “Nếu người chuyên niệm Phật A Di Đà ở phương Tây, đem những căn lành mình tu hồi hướng về cõi kia, thì được vãng sanh. Do thường thấy Phật nên không còn lo thối chuyển”.

NHỮNG MẪU CHUYỆN NIỆM PHẬT VÃNG SANH

       Hòa Thượng Tăng Huyền

      Tăng Huyền hòa thượng người Tinh Châu. Hòa thượng thâm đạt thiền tông, thông giáo lý. Giải cùng hạnh đều trọn đủ. Năm 96 tuổi, thấy Đạo Xước thiền sư giảng Quán Kinh cùng trứ tác Tịnh Độ luận, Hòa thượng mới hồi tâm lo niệm Phật. Sợ rằng tuổi đã quá già không còn sống bao lâu nên hòa thượng tu Tịnh nghiệp rất chuyên cần: Mỗi ngày lễ Phật một nghìn lạy, niệm Phật chín vạn câu, luôn như vậy trọn 5 năm không một ngày thiếu trễ.

      Một hôm nhuốm bịnh nhẹ, Hòa Thượng hội đệ tử lại mà bảo rằng:  “Đức A Di Đà Phật trao cho ta chiếc áo thơm đẹp, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí cùng Thánh Chúng đều đứng trước ta, vô số hóa Phật chật cả hư không. Ai nấy ở lại gắng tu. Ta xin đi”. Dứt lời Hòa Thượng liền tịch. Mùi thơm lạ ngào ngạt trọn bảy ngày mà chưa tan.

     Bấy giờ có Khải Phương pháp sư và Viên Quả pháp sư mục kích Hòa Thượng vãng sanh. Hai người đều phát tâm cầu sanh Tịnh Độ. Đồng đến chùa Ngộ Chơn kiết thất ba tháng chuyên niệm A Di Đà Phật. Hai pháp sư bẻ một nhành dương tươi đem để trong tay tượng Đức Quán Thế Âm rồi đồng vái rằng: “Nếu chúng tôi sẽ được vãng sanh Cực Lạc nguyện nhành dương này không héo”. Qua bảy ngày sau nhánh dương ấy càng xanh tươi hơn. Hai pháp sư rất mừng, ngày đêm niệm Phật không ngớt.

      Năm tháng sau, một hôm đương lúc tịnh tọa hai pháp sư tự thấy mình đến ao báu. Thấy Đức Quán Thế Âm cùng Đức Đại Thế Chí ngồi trên hai hoa sen báu lớn. Trong ao báu ấy có cả nghìn vạn hoa sen lớn đẹp sáng. Kế thấy Đức A Di Đà từ phương Tây đi đến, ngự trên một hoa sen lớn nhứt. Thân Phật tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Hai pháp sư lễ Phật rồi bạch rằng: “Chúng sanh trong cõi Ta Bà y theo lời dạy trong kinh mà niệm Phật, không rõ có đươc sinh về đây không?” Phật dạy: “Đừng nghi! Quyết định sanh về cõi nước của ta”. Hai pháp sư lại nghe văng vẳng tiếng Phật Thích Ca Mâu Ni và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tán thán kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trên thềm báu thấy có rất đông người, bảo là ở Ta Bà niệm Phật mà được sanh về đây.

      Sau khi xuất định Khải Phương, Viên Quả thuật lại với hàng đệ tử các ngài.

      Hai Sa Di

     Ở Văn Châu có hai ông Sa di đồng chí niệm Phật được năm năm. Một hôm ông lớn chết, thần thức đến Tịnh Độ lễ Phật mà bạch rằng: “Con còn một người bạn đồng tu, chẳng biết rồi được sanh về đây chăng?” Phật dạy: “Lúc trước nhờ ông Sa di nhỏ đó khuyên ông, nên ông mới phát tâm niệm Phật. Nay ông trở về gắng tu Tịnh nghiệp thêm Ba năm sau hai người sẽ đồng đến nơi đây”.

      Ông Sa di lớn sống lại thuật chuyện gặp Phật với ông Sa di nhỏ và mọi người. Từ đó hai ông càng chuyên cần tu niệm.

     Ba năm sau cả hai ông đồng thấy Phật và Thánh Chúng từ phương Tây đến. Khắp đại địa rúng động, hoa trời bay rưới. Cả hai ông đồng vãng sanh.

       Ni Toại Khâm

      Sư ni Toại Khâm người Vô Tích, xuất gia thủa mới lên chín. Khi tuổi trưởng thành, gặp một sư ni khuyến khích chuyên trì hồng danh của Phật, cô liền phát tâm tinh tấn niệm Phật. Ít lâu sau cô trụ trì am Bạch Y ở Tô Châu, công phu niệm Phật càng chí thiết. Đến 50 tuổi cô mới thọ cụ túc giới.

     Tháng 3 cô được 55 tuổi, một đêm nọ gà vừa gáy canh đầu, cô kêu các đệ tử đến mà nói rằng: “Tôi sắp về Phật!”. Các đệ tử đều khóc thưa: “Thầy không bịnh hoạn chi sao lại nỡ nói thế?”. Cô bảo: “Sao ngu si thế, khóc lóc có ích lợi gì? Nên nhận chơn tinh tiến niệm Phật mà thôi”. Rồi cô ngồi kiết già, xây mặt về hướng Tây, cùng các đệ tử đồng thanh niệm Phật. Khi tàn một cây nhang thì cô tịch. Bấy giờ nhằm năm Càng Long thứ 53.

        Vua Ô Trành

      Ô Trành Quốc Vương rất mến Phật pháp. Một hôm vua bảo các quan rằng: “Trẫm ở ngôi vua hưởng phước, nhưng rồi chẳng trốn khỏi vô thường. Nghe kinh nói cõi Tây Phương Cực Lạc là nơi giải thoát, trẫm phải phát nguyện cầu sanh về cõi ấy”. Từ đó ngày đêm sáu thời nhà vua hành đạo niệm Phật. Thường khi trai tăng, nhà vua cùng hoàng hậu đích thân dâng cơm nước cúng dường. Nhà vua tinh tấn tu hành như vậy ngót 30 năm. Đến cuối đời, nhà vua an nhiên, tự tại mà vãng sanh, dung sắc nhà vua tươi vui và hiện rất nhiều điềm tốt.

      Hai thợ rèn triều Tống

      Ông Lý ngạn Thông người Cối Kê làm thợ rèn, tình cờ đến chơi nơi hội quán hội Niệm Phật tại làng. Ông nghĩ đến thân mạng vô thường bèn phát tâm niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Một hôm phải bịnh ông bảo người nhà: “Tôi mơ đến Cực Lạc thấy hai cửa ngõ bằng vàng ngọc đóng kỹ. Sư tăng tự xưng hiệu Tông Lợi mở cửa dắt tôi vào. Thấy đền đài cao lớn sáng đẹp, Phật và Bồ Tát ngự trong ấy. Tôi sắp sẽ được về Tịnh độ”. Ông cho người thỉnh tăng Hy Kinh và Đạo Quả đến bên giường để sách tấn ông. Ông bảo gia quyến đồng thanh niệm Phật, giây lát ông tự chổi dậy ngồi ngay thẳng, xây mặt về hướng Tây mà mất.

      Ông Huỳnh Sanh người Đàm Châu, sống bằng nghề thợ rèn. Tay đập sắt, miệng niệm Phật. Một ngày nọ ông nhờ người láng giềng chép dùm bài kệ từ trần, rồi ông đọc rằng:

Đang, đang, đang, đang

Cửu luyện thành cang.

Thái Bình tương cận

Ngã vãng Tây Phang.

     Ông lại dặn: “Sau khi tôi vãng sanh nên đem bài kệ này truyền bá khắp nơi để khuyên người niệm Phật”. Dứt lời ông đoan tọa mà qua đời.

       Mụ Trần

      Người ở Thường Thục, làm nghề kéo chỉ vải. Mụ qui tín Phật pháp, niệm Phật theo tiếng kéo chỉ luôn cả ngày không ngớt tiếng. Ba mươi năm như vậy. Một ngày nọ mụ kêu con trai lại nói rằng: “Con không thấy bảo cái tràng phan đó ư? Mẹ vãng sanh đây”. Dứt lời mụ vỗ tay cười lớn. Sau khi đi pha nước tắm gội xong, mụ liền chắp tay mà mất. Bấy giờ nhằm năm Thuận Trị thứ 10.

      Thượng Thơ Ông Thúc Ngươn lúc đó còn hàn vi, được tin đích thân đến xem, vẫn thấy mụ còn ngồi ngay thẳng vững vàng, khắp nhà mùi hương lạ bay ngào ngạt. Về sau khi trứ tác bộ “Tịnh Độ Ước Thuyết” Thượng Thơ ghi việc ấy vào để làm bằng chứng. 

        Trương Thiện Hòa

      Trương Thiện Hòa người nhà Đường, làm nghề giết bò. Lúc bịnh ngặt, thấy vài mươi con bò đến đòi mạng nói tiếng người rằng: “Mầy giết chúng tao phải đền mạng”.

     Ông Hòa hối vợ thỉnh Sư tăng. Sư tăng bảo: “Trong Quán Kinh nói: “Nếu chúng sanh nào gây tạo ác nghiệp, đang đọa vào ác đạo mà chí tâm xưng niệm A Di Đà Phật đủ mười niệm thời tiêu tội, được vãng sanh Cực Lạc thế giới”.

      Ông Hòa nói: “Lửa địa ngục đến rồi, không thể chờ lư hương được”. Ông liền tay tả cầm lửa, tay hữu cầm  hương, hướng về Tây Phương to tiếng niệm Phật. Chưa đầy mười hơi, ông bỗng nói: “Phật đã đến trao tôi tòa sen báu”. Dứt lời liền tắt hơi.

        Chim két niệm Phật vãng sanh

      Xưa có vị Tăng nuôi một con chim két. Hàng ngày, vị Tăng dạy nó niệm Phật, nó  niệm theo.

      Lúc đầu, vị Tăng dạy nó mới niệm. Sau một thời gian, nó quen câu niệm Phật, lúc này không dạy mà mỗi khi thấy vị Tăng hay khách chim liền cất tiếng niệm Phật. Lại một thời gian sau, không đợi thấy vị Tăng hay khách mà sáng, trưa, chiều, tối, chim đều cất niệm Phật, tiếng nghe rất thanh, rất tha thiết.

      Một hôm, chim đứng trong lồng cất tiếng niệm Phật mà thoát hóa. Vị Tăng đem chim chôn sau vườn chùa, cách ba ngày sau, ở nơi ấy mọc lên một hoa sen rất đẹp, vị Tăng thấy lạ bèn đào lên xem thử, lạ lùng thay, hoa sen mọc lên từ miệng của chim. Đây là một sự việc hi hữu từ xưa đến nay hiếm có.