KINH VÔ LƯỢNG THỌ PHẬT (A DI ĐÀ PHẬT[1])
DANH HIỆU LỢI ÍCH ĐẠI SỰ NHÂN DUYÊN
Tục Tạng kinh Quyển thứ nhất
Đời Tào Ngụy, Thiên Trúc
Tam Tạng Pháp Sư Khang Tăng Khải dịch
Việt dịch: Thích Chiếu Nguyện
Tôi nghe như vậy, một thuở nọ, đức Phật[2]
ở thành Vương Xá trong núi Kỳ Xà Quật cùng với chúng đại Tỳ kheo[3]
một ngàn hai trăm năm mươi người, các lậu[4] đã hết, thần thông tự tại, tên
các vị ấy là: tôn giả A Nan, tôn giả Mục Kiền Liên, tôn giả Xá Lợi Phất, tôn
giả Đại Ngưu Vương, tôn giả Ma Ha Ca Diếp, tôn giả Đại Châu Na, tôn giả Danh
Văn Ca Diếp, tôn giả Đại Tịnh Tâm Chí v.v... đều là những vị đứng đầu trong
chúng.
Lại có Phổ Hiền Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ
Tát, Tín Tịnh Huệ Bồ Tát, Thiện Giải Thoát Bồ Tát là các vị chánh sĩ lớn, đầy
đủ vô lượng hạnh nguyện, ở nơi các pháp công đức không thể nghĩ bàn, trí huệ
sáng suốt. Chư Bồ Tát[5] như vậy không thể đếm kể đều
đến dự hội.
Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói với ngài A Nan
rằng: quá khứ cách đây lâu xa vô lượng vô biên vô số kiếp, có Tỳ kheo tên là
Pháp Tạng gặp vô số trăm ngàn vị Phật, viên mãn vô lượng đại nguyện, đã thực
hành tất cả các pháp hạnh của chư Phật. Pháp Tạng Tỳ kheo đó nay đã thành Chánh
giác, hiện ở cõi An Lạc Thanh Tịnh Phương Tây[6], hiệu là Bất Khả Tư Nghì Quang
Vô Lượng Thọ Như Lai.
Nguyện lực[7] của đức Phật ấy là: Ngài dùng
thần lực oai đức không thể nghĩ bàn biến khắp mười phương thế giới, dùng âm
thanh lớn để tuyên nói công đức danh hiệu Vô Lượng Thọ. Cho nên ở mười phương
thế giới, chúng sanh[8] nào nghe và tin hiểu công đức
danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ, thì sẽ được nhập vào chánh định[9],
sẽ được sanh vào nước An Lạc Thanh Tịnh của đức Phật Vô Lượng Thọ.
Tất cả các loài chúng sanh, hoặc ở trong loài
người, chịu nhiều oan trái như câm, điếc, ngu dốt, bệnh tật, điên cuồng, ác độc
v.v... mà sáng suốt niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ sẽ được giải thoát.
Hoặc ở trong ba đường ác[10] chịu nhiều khổ nhọc, thọ khổ
không cùng, do nhân duyên sáng suốt niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ
sẽ được giải thoát.
Khi nghe danh hiệu, quang minh[11]
đức Phật Vô Lượng Thọ mà tin nhận, xưng niệm sẽ diệt trừ được vô lượng vô biên
vô số kiếp sanh tử tội lỗi. Này A Nan! Xưng niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng
Thọ, hoặc một tiếng, mười tiếng cho đến trăm ngàn tiếng. Ở trong mỗi tiếng có
vô số hóa thân đức Phật Vô Lượng Thọ thường bảo hộ người ấy. Lại còn có hai vị
thượng thủ[12] Bồ Tát là Quán Thế Âm và Đại Thế Chí, cùng với chư đại
Bồ Tát cũng thường bảo hộ người ấy. Sau khi người ấy mạng chung sẽ sanh về nước
An Lạc Thanh Tịnh của đức Phật Vô Lượng Thọ. Này A Nan! Ví như có ngọn lửa
mạnh, đầy cả ba ngàn đại thiên thế giới, nếu muốn vượt qua để nghe và tin nhận
danh hiệu của đức Phật Vô Lượng Thọ, thì nhờ danh hiệu ấy, trong lửa tự nhiên
sinh ra hoa sen. Vậy nên danh hiệu của đức Phật Vô Lượng Thọ có một nhân duyên
lợi ích rất lớn không thể nghĩ bàn.
Mười phương[13] chư Phật đều tán thán khen
ngợi nguyện lực, công đức danh hiệu của đức Phật Vô Lượng Thọ, cũng xưng tán
khen ngợi những chúng sanh niệm danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ. Vậy nên tất cả
chúng sanh phải nên tin tưởng và thọ trì danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ.
Đức phật nói với ngài A Nan: Như Lai[14]
xuất hiện ra đời là một sự lợi ích lớn , đó là giảng nói công đức chân thật
không thể nghĩ bàn của quang minh danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ. Việc này ta
nói là khó gặp, khó thấy, khó nghe. Nếu như có chúng sanh nào nghe được pháp
này thì phải nên tin nhận và như pháp tu hành.
Đức Thế Tôn nói với ngài A Nan rằng: Tỳ kheo
Pháp Tạng kia tuy khởi nguyện cứu độ chúng sanh trong mười phương thế giới, tu
vô lượng hạnh nguyện rộng lớn, nhưng thực ra ngài đã thành tựu từ lâu, vì pháp
thân của Ngài thường trụ.
Đức Phật Vô Lượng Thọ có thần lực oai đức
không thể nghĩ bàn, biến hoá khắp mười phương thế giới, giáo hoá cứu độ vô số
chúng sanh, khiến chúng sanh ở yên nơi đạo chân thật tối thượng. Hoặc vì hàng
Sát-đế-lợi[15], quốc vương, Chuyển luân vương[16]. Hoặc vì hàng trưởng giả[17]
tại gia, gia tộc hào quí. Hoặc vì chư thiên cõi dục, Phạm vương. Hoặc vì địa
ngục, ngạ quỉ, súc sanh, a tu la[18]. Ngài thường dùng bốn oai
nghi[19]
để làm phương tiện cứu độ tất cả chúng sanh.
Này A Nan! Đức Phật Vô Lượng Thọ đã thành
Phật từ lâu, vì pháp thân của Ngài thường trụ. Ngươi chớ nghi ngờ!
Ngài A Nan thưa, bạch Đức Thế Tôn! Ngày nay,
Phật thương xót con cùng tất cả chúng sanh vô minh[20] mờ tối mà từ bỏ cảnh giới
Niết Bàn[21]
an lạc, thị hiện vào đời ác trược[22], vào thế giới ác trược này, ở
thành Gìa Da mà giảng nói nhân duyên công đức không thể nghĩ bàn của đức Phật
Vô Lượng Thọ. Đây là đều khó gặp, khó thấy, khó được, khó nghe. Cho nên nếu như
có chúng sanh nào nghe được kinh này thì phải tin nhận như pháp tu hành.
Đức Thế Tôn nói với ngài A Nan, tất cả chúng
sanh bị phiền não[23], ác nghiệp[24] trói buộc, báo chướng[25]
sâu dày. Còn thần lực quang minh danh hiệu đức Phật Vô Lượng Thọ không có
chướng ngại. Cho nên danh hiệu của đức Phật Vô Lượng Thọ là vô ngại, vô đối,
thanh tịnh, trí huệ, hoan hỉ v.v... Trí huệ, oai đức, thần lực, đại từ[26],
đại bi[27]
của đức Phật Vô Lượng Thọ cũng không có chướng ngại.
Tất cả chúng sanh trong đời ác trược kém trí
nên nghi trí vô ngại, trí không thể nghĩ bàn, trí vô lượng, trí Đại thừa tối
thắng, trí vô thượng của Phật. Do nghi hoặc không tin, vì nghi hoặc không tin
nên nhiều đời nhiều kiếp đoạ địa ngục Ba La, hoặc địa ngục Tần Đà La thọ khổ
không cùng, không có ngày ra. Như có chúng sanh nào tin trí huệ Phật liền sẽ
nhập vào chánh định, sẽ được không thối chuyển Đạo vô thượng[28]. Vậy nên danh hiệu đức Phật
Vô Lượng Thọ là một nhân duyên công đức lợi ích rất lớn không thể nghĩ bàn.
Khi đức Phật giảng kinh này, thế giới sáu thứ
chấn động[29],
trời mưa hoa báu. Trong không trung tự nhiên có âm thanh vi diệu lớn xưng tán,
ca ngợi quang minh, danh hiệu không thể nghĩ bàn của đức Phật Vô Lượng Thọ. Lại
nói, ngày nay Đức Thế Tôn giảng nói kinh này là một việc lợi ích rất lớn.
Đức Phật giảng kinh này, có vô lượng chúng
sanh phát tâm vô thượng đạo. Trời, người được quả A-na-hàm[30]. Chư đại Bồ Tát phát bốn đều
nguyện lớn[31] để trang nghiêm công đức, ở đời tương lai sẽ thành Chánh
giác.
Đức Phật giảng kinh này xong, chư đại Bồ Tát,
chư đại Thanh Văn[32], ngài A Nan cùng chúng hội vâng lời Phật dạy, hoan hỉ lễ
Phật mà lui.
Đại đức Thích Chiếu Nguyện dịch năm 2008
CHÚ THÍCH THUẬT NGỮ
1. A Di Đà Phật 阿 彌 陀 佛: Tiếng phạn là Amitàbha, phiên âm là A Di Đà
Phật, dịch nghĩa là Vô lượng thọ, Vô lượng quang và Vô lượng công đức. Vì vậy
mà A Di Đà Phật có khi gọi là Vô Lượng Thọ Phật, Vô Lượng Quang Phật, Vô Lượng
Công Đức Phật. Trong kinh này chỉ lấy hai nghĩa là Vô lượng thọ và Vô lượng
quang nên gọi là Bất Khả Tư Nghì Quang Vô Lượng Thọ Như Lai.
Thông thường khi xưng niệm danh hiệu Ngài
người ta xưng theo âm vì xưng theo âm thì bao hàm hết tất cả các nghĩa. Trì
niệm danh hiệu ngài một cách thành kính, quy ngưỡng người ta thường trì niệm
hồng danh sáu chữ là Nam Mô A Di Đà Phật. Theo lời đức Phật Thích Ca
giảng trong kinh A Di Đà, thì cõi đức Phật A Di Đà ở về phía Tây cách cõi Ta Bà
chúng ta mười vạn ức cõi Phật. Cõi ấy gọi là Cực Lạc Quốc hay Tây Phương Cực Lạc.
Đức Phật A Di Đà hào quang sáng suốt vô lượng, chiếu tới các cõi ở Mười phương
mà không bị gì ngăn che. Đời sống của Ngài và của chư Thánh chúng trong cõi
Ngài dài lâu vô lượng vô biên vô số kiếp. Ai muốn vãng sanh về thế giới của
Ngài thì phải có đầy đủ ba đều kiện là Tín, Nguyện và Hạnh. Tín là tin đức Phật
A Di Đà, tin cõi Tây Phương Cực Lạc. Nguyện là phát nguyện tha thiết muốn được
sanh về thế giới của Ngài. Hạnh là thực hành, nghĩa là phải luôn luôn trì niệm
hồng danh đức Phật A Di Đà. Làm được ba đều này đảm bảo người thực hành sẽ được
sanh về thế giới của Ngài.
Đi theo đức Phật A Di Đà còn có hai vị Bồ Tát
phụ tá để giúp Phật tiếp dẫn chúng sanh là Quán Thế Âm đứng bên phải, Đại Thế
Chí đứng bên trái. Ba vị này được gọi là Tây Phương Tam Thánh.
2. Phật 佛: Tiếng Phạn là Buddha, phiên âm là Phật hay
Phật-đà, dịch nghĩa là giác hoặc trí. Giác có hai giác là giác sát và giác ngộ.
Hiểu biết suy xét (Giác sát) phiền não, khiến nó không gây ra tác hại nữa, như
đời biết nó là giặc, nên gọi là giác sát; đó gọi là Nhất thiết trí. Hiểu rõ sự
lý của chư pháp, rõ ràng rành mạch như người tỉnh giấc mơ thì gọi là Giác ngộ.
Đó gọi là Nhất thiết chủng trí. Tự giác rồi mới có thể giác tha. Tự giác và
giác tha viên mãn thì gọi là Phật.
3. Tỳ
kheo 比 丘: Tiếng Phạn là Bhiksu, Tỳ kheo là tên gọi
chung những người xuất gia thọ Cụ túc giới, nam thì gọi là Tỳ kheo, nữ thì gọi
là Tỳ kheo ni. Tỳ kheo có ba nghĩa là Khất sĩ, Bố ma và Phá ác. Khất sĩ, khất
là xin, trên thì xin giáo pháp của chư Phật để tu tập, dưới thì xin cơm của đàn
na tín thí để nuôi thân và gieo duyên với chúng sanh. Bố ma, bố là sợ, Tỳ kheo
là người đang trên đường đi đến giải thoát giác ngộ, tương lai chẳng những tự
mình giải thoát giác ngộ mà còn cứu độ được nhiều người giải thoát giác ngộ như
mình. Do vậy mà chúng ma rất lo sợ, sợ mất quyến thuộc v.v... vì vậy mà chúng
luôn tìm cách phá hoại Tỳ kheo. Phá ác, nghĩa là phá, là đoạn trừ tham, sân,
si, phiền não, nghiệp chướng làm cho chúng không còn năng lực dẫn dắc mình vào
trong sanh tử luân hồi, tam đồ ác đạo.
4. Lậu 漏: Tiếng Phạn là Àsrava, là tên gọi khác của
phiền não. Lậu có nghĩa là tiết lậu, rò rỉ chảy ra ngoài. Loài hữu tình trong
ba cõi, thông qua sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý suốt đêm ngày chảy
ra phiền não không ngừng, nên gọi là Lậu. Còn chỉ phiền não đang hiện hành
khiến cho cái tâm liên tục bị trôi chảy phân tán không dứt, nên gọi là Lậu.
Phiền não giống như đồ dùng bị thủng, như nhà bị giột. Lậu còn có nghĩa là Lậu
thất (sót quên); Phiền não làm cho quên mất chính đạo, nên có tên là thế. Lại
nữa, phiền não làm cho người ta chìm đắm trong vòng sanh tử, nên gọi là thế.
5. Bồ
Tát 菩 薩: Là chữ viết tắt của danh từ dịch âm Bồ-đề
Tát-đóa 菩 薩 薩 埵, tiếng Phạn là Bodhisatta,
nguyên nghĩa là Giác hữu tình, cũng được dịch nghĩa là Ðại sĩ.
Trong Ðại thừa, Bồ Tát là hành giả sau khi
hành trì Ba-la-mật-đa (Lục độ) đã đạt Phật quả, nhưng nguyện không nhập
Niết-bàn, khi chúng sinh chưa giác ngộ. Yếu tố cơ bản của Bồ Tát là lòng Bi đi
song song với Trí huệ, Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lãnh
tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức mình cho kẻ khác.
Con đường tu học của Bồ Tát bắt đầu bằng luyện tâm Bồ-đề và giữ Bồ Tát hạnh
nguyện. Hành trình tu học của Bồ Tát được chia làm mười giai đoạn, Thập địa.
Hình ảnh Bồ tát của Ðại thừa tương tự như A-la-hán của Tiểu thừa, trong đó
A-la-hán tập trung vào sự giải thoát cho chính mình.
Thật sự thì khái niệm Bồ Tát đã được tìm thấy
trong các kinh Tiểu thừa, nhất là khi nói về các tiền thân đức Phật Thích-ca
(Bản sinh kinh). Trong Ðại thừa, khi nói đến Bồ Tát, người ta xem đó là tiền
thân của các vị Phật tương lai. Ðại thừa chia làm hai hạng Bồ Tát: Bồ Tát đang
sống trên trái đất và Bồ Tát siêu việt. Các vị đang sống trên trái đất là những
người đầy lòng từ bi, giúp đỡ chúng sinh, hướng về Phật quả. Các vị Bồ Tát siêu
việt là người đã đạt các hạnh Ba-la-mật và Phật quả, nhưng chưa nhập Niết-bàn.
Ðó là các vị đã đạt Nhất thiết trí, không còn ở trong luân hồi, xuất hiện trong
thế gian dưới nhiều dạng khác nhau để cứu độ chúng sinh. Ðó là các vị được Phật
tử tôn thờ và đảnh lễ, quan trọng nhất là các vị Quán Thế Âm, Văn-thù, Ðịa
Tạng, Ðại Thế Chí và Phổ Hiền.
6. An Lạc Thanh Tịnh Tây Phương: Chỉ thế giới
Cực Lạc Tây Phương, thường gọi là Tây Phương Cực Lạc. Tức cõi Tịnh độ của đức
Phật A Di Đà. Trong Kinh A Di Đà nói: “Từ đây về phương Tây vượt qua mười
vạn cõi Phật có một Thế giới, tên là Cực Lạc. Cõi đó có đức Phật, hiệu là A Di
Đà, hiện đang thuyết pháp”. Cõi Tây Phương Cực Lạc là một thế giới sung
sướng an lạc tột cùng. Nhà cửa toàn là lầu các trang nghiêm được tạo thành bảy
thứ báu. Ăn mặc tự nhiên tùy tâm liền hiện không phải nấu nướng may dệt. Nhân
dân ở đây đều là hiền thánh, tướng hảo trang nghiêm, thần thông tự tại, sống
lâu vô cùng, không già không bệnh, tất cả đều đạt bậc bất thối chuyển tương lai
nhất định thành Phật.
7.
Nguyện lực 願 力: Chữ Nguyện, tiếng Phạn là Pranidhàna, phiên
âm là Ni-để, dịch nghĩa là Nguyện. Nguyện nghĩa là phát tâm làm lợi ích cho
mình và người bằng những điều mong ước hay những sự việc cụ thể nào đó như phát
nguyện ăn chay trường, phát nguyện tu hành thành Phật, phát nguyện cứu độ chúng
sanh v.v... Người tu hành mà không phát lời thề nguyện, như lái tàu không có la
bàn, lái xe không biết đường thì không biết đi về đâu? Nhưng khi đã phát nguyện
rồi thì phải giữ gìn làm theo như những điều mình đã phát chứ không phải nguyện
suông thì không có kết quả gì. Chư Phật, chư Bồ Tát từ khi phát tâm tu cho đến
ngày thành Phật mỗi vị đều có những điều nguyện riêng như Bồ Tát Quan Âm có 12
lời nguyện, Phật Dược Sư có 12 lời nguyện, Phật A Di Đà có 48 lời nguyện.
Nguyện lực là sức mạnh của lời thề nguyện, sức mạnh này rất lớn, như khi tu tập
mà chưa phát nguyện thì sự tu tập còn lơ là, nhưng khi đã phát nguyện thì rất
siêng năng tinh tấn tu tập theo những gì mình đã nguyện, đã hứa. Chính những
lời thề nguyện này thúc đẩy ta siêng năng tinh tấn tu tập làm cho ta sớm đạt
thành kết quả thành Bồ Tát, thành Phật đó là sức mạnh của Nguyện lực.
8. Chúng
sanh 眾 生: Tiếng Phạn là Sattva, dịch âm là Tát-đoá,
dịch nghĩa là Hữu tình, Chúng sinh. Chúng sanh có nhiều nghĩa: 1. Có nghĩa là
mọi người cùng sinh ra; 2. Các pháp giả hoà hợp mà sinh, cho nên gọi là chúng
sinh; 3. Sự sống chết trải qua nhiều lần, cho nên gọi là chúng sinh. Ở trên là
giải thích theo nghĩa, còn giải thích theo từ, Chúng sanh là chỉ chung cho tất
cả các loài có tâm thức dù có hình hay không có hình sống trong vũ trụ.
9. Chánh định 正 定: Tiếng Phạn là Samyak-samādhi. Chánh là chân thật chơn
chánh ngược với tà ngụy, Định là sự nhiếp tâm, chú tâm không để tâm tán loạn.
Chánh định là định đưa đến giải thoát giác ngộ, thoát khỏi sanh tử luân hồi.
10. Ba đường ác: Thuật ngữ Phật học gọi là
Tam đồ 三 塗, ba đường ác gồm có: Địa ngục, Ngạ qủy, Súc
sanh. Địa ngục là nơi chịu khổ vô cùng, chúng sanh ở đây chịu cảnh dầu sôi lửa
bỏng, ở trong rừng dao biển máu để đền trả những tội lỗi đã gây tạo. Ngạ qủy
thì bị cảnh đói khát dày vò, nếu có được ăn thì ăn toàn đồ phẩn tiểu, máu mủ dơ
nhớp, chúng phải chịu cảnh đói khổ, dơ nhớp như vậy là do lòng tham lam, bỏn
sẻn, ganh tị gây ra. Súc sanh là những loài động vật như trâu, bò, heo, chó,
gà, vịt v.v... súc sanh thì chịu cảnh khổ nằm trên dao thớt, ăn nuốt lẫn nhau,
chúng còn chịu cảnh dơ nhớp như sán, dòi v.v...
11. Quang minh 光 明: Quang là ánh sáng, là hào quang, Minh là sáng suốt.
Quang minh là chỉ hào quang sáng suốt của chư Bồ Tát, chư Phật. Mỗi vị Bồ
Tát, mỗi vị Phật có hào quang chiếu sáng xa gần tuỳ theo lời phát nguyện và
công hạnh tu tập. Riêng hào quang của đức Phật A Di Đà thì chiếu sáng đến vô
lượng vô biên vô số thế giới nên trong Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ gọi là
Vô Lượng Quang Phật, nghĩa là đức Phật có hào quang không có hạn lượng.
12. Thượng thủ 上 首: Chỉ người đứng đầu, người lãnh đạo trong hội chúng.
Trong kinh này gọi hai vị Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí là Thượng thủ, vì
hai vị Bồ Tát này đứng đầu trong các vị Bồ Tát, các vị Thánh ở cõi Tây Phương
Cực Lạc.
13. Mười phương (Thập phương 十 方): Theo sự phân chia của đạo Phật, thế giới có mười
phương gồm: Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, Trên,
Dưới.
14. Như Lai 如 來: Tiếng Phạn là Tathāgata, tiếng Hán dịch là Như Lai, là
một trong mười danh hiệu của đức Phật. Như là Chân như, nắm được đạo Chân như
mà đi từ Nhân đến Qủa, thành tựu chính giác, do vậy gọi là Như lai. Đó là chân
thân Như Lai. Đức Phật đem đạo Chân như đến khắp tam giới mà giáo hoá cứu vớt,
cho nên gọi là Như Lai. Đó là Ứng thân Như Lai. Hoặc như chư Phật mà đến, nên
gọi là Như Lai.
15. Sát-đế-lợi 剎 帝 利: Tiếng Phạn Ksatriya, là một trong bốn giai cấp của Ấn
Độ thời xưa gồm Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Vệ-xá, Thủ-đà-la. Bà-la-môn là giai cấp
nắm quyền về tôn giáo.Vệ-xá là giai cấp nông dân, thợ thuyền chuyên làm ra
lương thực, vật dụng để chu cấp cho hai giai cấp trên. Thủ-đà-la là giai cấp nô
lệ chuyên lo hầu hạ, phục dịch cho hai giai cấp trên. Sát-đế-lợi là giai cấp
nắm quyền về chính trị. Đức Phật Thích Ca thuộc giai cấp này.
16. Chuyển luân vương 轉 輪 王: Tiếng Phạn là
Cakra-varti-ra, vị vua này do phước đức chiêu cảm nên có 32 tướng tốt, 1000
người con mạnh mẽ oai nghiêm và 7 món báu gồm: xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc
báu (viên ngọc to đẹp tỏa ánh sáng khắp cả một vùng rộng lớn), ngọc nữ báu
(người vợ đẹp tuyệt trần), chủ tàng thần báu (vị đại thần có cặp mắt thần nhìn
thấy mọi kho tàng trong lòng đất hay dưới đáy biển sẵn sàng lấy cho vua dùng),
quân đội báu (quân đội hùng mạnh bách chiến bách thắng không có một kẻ thù nào
địch nổi). Vua thường ngồi trên xe báu (Luân bảo) bay đi hàng phục bốn
phương nên gọi là Chuyển luân vương. Đặc biệt, vua không dùng sức mạnh hàng
phục mọi người, vua chỉ lấy đức và 10 điều thiện để cảm hoá nên cũng có khi gọi
vua là Chuyển luân thánh vương.
17. Trưởng giả 長 者: Tiếng Phạn là Drah-pati, Trưởng giả là tên gọi chung
cho những người giàu có, đức độ hay cúng dường, bố thí giúp đỡ mọi người.
18. A tu la 阿 修 羅: Tiếng Phạn là
Asura, dịch nghĩa là Vô đoan, nghĩa là dung mạo xấu xí. A tu la là một loài
chúng sanh có phước mà kém đức, đàn ông thì dung mạo xấu xí nhưng đàn bà thì
rất đẹp, họ rất nóng giận, thường hay gây sự đánh nhau, có khi lên đánh cả cỏi
trời. Người tu hành thường hay cúng dường bố thí nhưng tâm nóng giận, kiêu
căng, thì sẽ sanh vào cõi A tu la.
19. Bốn oai nghi: Thuật ngữ Phật học gọi là
Tứ oai nghi 四 威 儀. Bốn oai nghi là đi, đứng, nằm, ngồi.
20. Vô minh 無 明: Tiếng Phạn là Avidya, phiên âm là A-vĩ-nễ. Vô minh là
chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Nhân quả, Tam bảo và nguyên lí Nghiệp. Vô
minh là yếu tố đầu tiên trong Mười hai nhân duyên, là những nguyên nhân làm con
người vướng trong Luân hồi lục đạo.
Vô minh được xem là gốc của mọi bất thiện
trong thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ. Ðó là tình trạng tâm thức không
thấy sự vật “như nó là”, cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra Khổ. Vô minh
sinh Ái và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự tái sinh.
21. Niết Bàn 涅 槃: Tiếng Phạn là Nirvāna, dịch nghĩa là Diệt, Diệt
tận, Diệt độ, Tịch diệt, Bất sinh, Viên tịch, Giải thoát, Vô vi, An lạc.
Niết-bàn là sự đoạn triệt Luân hồi, tận diệt gốc rễ của ba nghiệp bất thiện là
tham, sân và si. Ðồng thời Niết-bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của
Nghiệp, không còn chịu qui luật nhân duyên, Vô vi (đặc tính của nó là thiếu
vắng sự sinh, thành, hoại, diệt).
Niết Bàn được chia thành nhiều loại, theo Nam
tông (Tiểu thừa) chia làm hai loại:
Hữu dư Niết-bàn: Niết-bàn còn tàn dư,
Niết-bàn trước khi tịch diệt. Niết-bàn này là trạng thái của các bậc thánh nhân
đã dứt bỏ mọi Phiền não, không còn tái sinh. Các vị này còn sống trên đời nên
vẫn còn Ngũ uẩn, còn có nhân trạng nên gọi “hữu dư”. Trong Hữu dư Niết-bàn hành
giả còn khổ vì còn chịu nghiệp cũ. Có lúc hành giả thoát được cái khổ đó một
cách tạm thời trong một số tình trạng thiền định nhất định.
Vô dư Niết-bàn: Là Niết-bàn không còn Ngũ
uẩn, Mười hai xứ, mười tám Giới và các Căn. Niết-bàn vô dư đến với một vị
A-la-hán sau khi chết, không còn tái sinh. Loại Niết-bàn này cũng được gọi là
Niết-bàn toàn phần hay Bát-niết-bàn.
Theo Bắc tông (Đại thừa) chia làm bốn loại
gồm: 1. Bản lai tự tính thanh tịnh Niết-bàn; 2. Hữu dư Niết-bàn (giống như Hữu
dư Niết-bàn trên); 3. Vô dư Niết-bàn (giống Vô dư Niết-bàn trên); 4. Vô trụ xứ
Niết-bàn.
Bản lai tự tính thanh tịnh Niết-bàn: Chân
tâm, tự tính của chúng sanh vốn thanh tịnh, sáng suốt, như như. Do chúng sanh
quên chân tâm, bản tánh của mình mà nhận lầm vọng trần hư dối nên làm chúng
sanh. Chư Bồ Tát, chư Phật giác ngộ, trỡ về sống với bản tánh thanh tịnh , sáng
suốt ấy nên mới thành Bồ Tát, thành Phật. Tuy bản tánh này ở trong chúng sanh
nhưng thể của nó vẫn luôn thanh tịnh, sáng suốt, như như nên gọi là Niết-bàn.
Vô trụ xứ Niết-bàn: Chư Bồ Tát, chư Phật các
ngài đã chứng Niết-bàn, nhưng vì lòng đại từ, đại bi các ngài không nhập
Niết-bàn mà vẫn luôn luôn thị hiện vào đời để cứu độ chúng sanh, tâm nguyện của
các ngài là khi nào độ hết tất cả chúng sanh thì các ngài mới nhập Vô dư
Niết-bàn.
22. Trược (trọc) 濁 : Chỉ nước đục, đục, dơ bẩn, ô uế. Chữ trược
trong kinh thường chỉ cho thân tâm của chúng sanh ô uế, bất tịnh, ác độc. Thuật
ngữ Phật học có từ nói về chữ trược là Ngũ trược. Trong Kinh Phật nói, vào thời
kỳ kiếp giảm, thế giới có năm điều xấu ác (Ngũ trược) đó là: 1. Kiếp trược:
nhiều căn bệnh dấy lên, nạn đói hoành hành, chiến tranh khắp nơi; 2. Kiến
trược: tà kiến thịnh hành (những cái thấy biết sai lầm); 3. Phiền não trược:
chúng sinh có nhiều tham dục, tâm thần phiền loạn; 4. Chúng sinh trược: chúng
sinh không tuân theo luân lí, không sợ quả báo; 5. Mạng trược: thọ mệnh của con
người ngắn dần.
23. Phiền não 煩 惱: Tiếng Phạn là Klesa. Ðặc tính của tâm thức chuyên sinh
ra các pháp Bất thiện và làm con người bị vướng mãi trong Luân hồi. Khi dứt bỏ
tất cả phiền não, hành giả xem như đạt thánh quả A-la-hán.
Có nhiều cách phân loại phiền não. Trong luận
Thanh tịnh đạo, Ðại sư Phật Âm chia phiền não ra làm 10 loại: tham, sân (giận
dữ), si (mê mờ), mạn (kiêu mạn), kiến (kiến giải sai lầm, tà kiến), nghi (nghi
ngờ), hôn trầm (buồn ngủ mệt mỏi), trạo cử (lăng xăng vọng động), vô tàm (không
biết tự thẹn), vô quí (không biết thẹn với người).
Có khi người ta cũng chia phiền não ra hai
nhóm, Căn bản phiền não và Tuỳ phiền não (phiền não phụ thuộc), cấu uế trong
tâm, được gọi là Tùy phiền não. Căn bản phiền não gồm có tham, sân, si, mạn,
nghi, đảo kiến (tin có tự ngã, tin nơi sự thường hằng, tin nơi sự hủy diệt, phủ
nhận nghiệp, chấp chặt vào tri kiến sai lầm, cho rằng giáo pháp sai lầm có thể
cứu độ). Tùy phiền não là các tâm bất thiện đi liền với các Căn bản phiền não.
Ðôi lúc phiền não cũng được hiểu là Năm chướng ngại. Nếu đảo kiến tương đối dễ
đối trị thì các phiền não khác không thuộc suy luận mà thuộc về cảm giác thụ
tưởng nên rất khó khắc phục. Muốn đối trị chúng, hành giả phải chuyên tu tập
thiền định.
24. Ác nghiệp 惡 業: Hành động trái với đạo lý gọi là ác. Thân khẩu ý tạo
tác gọi là nghiệp. Hành vi do trái với đạo lý gọi là ác nghiệp, như Ngũ nghịch,
Thập ác, v.v...
25. Báo chướng 報 障: Một trong ba chướng (Phiền não chướng, Nghiệp chướng,
Báo chướng). Báo là quả báo. Do phiền não và hoặc nghiệp mà phải bị quả báo đọa
vào ác đạo như địa ngục, ngạ qủy,súc sinh v.v... Lại nữa, tuy được thụ sanh vào
cõi trời, cõi người, nhưng do không có đức tin, khiến cho bị chướng ngại, che
bít cái thiện căn thánh đạo, thì cũng gọi là báo chướng.
26. Đại từ 大 慈: Là tình yêu thương rộng lớn của chư Bồ Tát, chư Phật
luôn luôn muốn chúng sanh được an vui.
27. Đại bi 大 悲: Là tình yêu thương rộng lớn của chư Bồ Tát, chư Phật
luôn luôn muốn chúng sanh được hết khổ.
Hai danh từ Đại từ, Đại bi thường đi chung
với nhau gọi là Đại từ đại bi, Từ là ban vui, Bi là cứu khổ. Đại từ đại bi chỉ
cho tình yêu thương rộng lớn của chư Bồ Tát, chư Phật luôn luôn tìm cách ban
vui, cứu khổ chúng sanh.
28. Đạo vô thượng: Thuật ngữ Phật học gọi là
Vô thượng đạo 無 上 道. Đạo là con đường, chữ Đạo trong kinh chỉ con đường tu
tập để đạt đến giải thoát giác ngộ. Đạo vô thượng là con đường tu tập đạt đến
quả vị giác ngộ cao nhất, con đường này là Phật đạo (con đường tu tập đạt đến
quả vị Phật).
29. Sáu thứ chấn động: Thuật ngữ gọi là Lục
chủng chấn động 六 種 震 動. Có nhiều nguyên nhân
khiến cho thế giới sáu thứ chấn động như khi Phật đản sanh, khi Phật nhập Niết
Bàn v.v... Sáu thứ chấn động là: đông vọt lên tây chìm xuống, tây vọt lên đông
chìm xuống, nam vọt lên bắc chìm xuống, bắc vọt lên nam chìm xuống, bốn bên vọt
lên ở giữa chìm xuống, giữa vọt lên bốn bên chìm xuống. Có thuyết nói sáu thứ
chấn động là: Động, Khởi, Dũng, Chấn, Kích (khua đập), Hống (gầm rống), Bộc
(nổ).
30. A-na-hàm 阿 那 含: Tiếng Phạn là Anàgàmin
ànagàmi, dịch là Bất hoàn, Bất lai. Tên gọi bậc thánh đã cắt đứt hết phiền não
cõi Dục. Đây chỉ vị tu hành đã đạt được cấp thứ ba của Tứ quả Sa Môn
(Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán), đã giải thoát khỏi năm Trói buộc.
Ðó là ngã kiến (bám vào cái tôi), nghi ngờ, giới cấm thủ (sự trói buộc vào giới
luật), dục tham, sân hận. Người đắc quả Bất hoàn không tái sinh vào thế giới
này nữa.
31. Bốn đều nguyện lớn: Thuật ngữ gọi là Tứ
hoằng thệ nguyện 四 弘 誓 願 gồm:
Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phật đạo vô thượng thệ ngyuện thành.
32. Thanh Văn 聲 聞: Dịch âm là Xá-la-bà-ca là người nghe giáo pháp của đức
Phật mà giác ngộ lý Tứ đế, dứt bỏ mê hoặc kiến tư mà nhập Niết-bàn. Thanh Văn
là một trong những hàng thánh (Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật) đã đạt giác
ngộ giải thoát, thoát khỏi sanh tử luân hồi. Việc tự giác tự lợi các ngài đã
xong, nhưng còn việc giác tha lợi tha (giáo hóa chúng sanh được giác ngộ, được
lợi ích) thì chưa viên mãn. Muốn đạt đến quả Phật thì phải tự giác giác tha,
giác hạnh viên mãn mới thành. Vì vậy mà đức Phật khuyến hóa hàng Thanh Văn xả
bỏ quả vị Thanh Văn chuyển qua tu Bồ Tát hạnh, thị hiện vào đời cứu độ chúng
sanh, khi công tròn quả mãn thì các ngài sẽ thành Phật.
48 ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ
1. Khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
2. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
3. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
4. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
5. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha
kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
6. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước
chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
7. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na
do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
8. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong
trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
9. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na
do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
10. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác.
11. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở
nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác.
12. Khi tôi thành Phật, quang minh có hạn
lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì
tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
13. Khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn
lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác.
14. Khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong
nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều
thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được
số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
15. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu
chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
16. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi mà còn nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
17. Khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng
chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác.
18. Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được
sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
19. Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương phát tâm Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về
nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ.
Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
20. Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức,
chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng
lấy ngôi chánh giác.
21. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác.
22. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi
nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có
bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ
tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương,
khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô
thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền.
Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
23. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi
thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô
số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
24. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi
ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có
đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
25. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi
chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
26. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi
chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
27. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và
tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt
lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt
được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
28. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng
vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
29. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi
nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì
tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
30. Khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của
Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
31. Khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh
soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương,
như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy
ngôi chánh giác.
32. Khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư
không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước
tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp
kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ
Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy
ngôi chánh giác.
33. Khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh
của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến
thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi
chẳng lấy ngôi chánh giác.
34. Khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh
của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được
Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
35. Khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô
lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát
tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người
nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
36. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô
lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ
chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng
lấy ngôi chánh giác.
37. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong
vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo
xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và
người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
38. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật
khen ngợi tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng
lấy ngôi chánh giác.
39. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước
tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác.
40. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý
muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được
toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ
trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
41. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc
độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân
còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
42. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc
độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam
muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế
Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác.
43. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc
độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu
không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
44. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc
độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội
công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
45. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc
độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ
trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất
cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
46. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong
nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được
nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
47. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc
độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển
thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
48. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc
độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn
và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì
tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.
