Thứ Năm, 23 tháng 3, 2023

PHÁP MÔN TRÌ DANH NIỆM PHẬT VÃNG SANH CỰC LẠC



PHÁP MÔN TRÌ DANH NIỆM PHẬT VÃNG SANH CỰC LẠC

Tác giả: Huỳnh Lão cư sĩ

Hải Huyền Viên Giáo dịch

 

Lời người dịch

Lời nói đầu

Tựa.

Dẫn nhập

Ðời người mong cầu.

Ðời người vui vẻ.

Vì sao cần học Phật?

Vì sao cần tu hành?

Tu hành là thế nào?

Chỗ tốt đẹp của pháp môn trì danh niệm Phật

Giải thích nghi ngờ.

A. Phật giáo không phải là mê tín.

B. Phật giáo không đồng với sự thần kỳ của trời đất

C. Phật giáo chẳng phải là tiêu cực - trốn đời

D. Phật giáo là trí tín không phải mê tín.

E. Phật pháp và khoa học.

CHƯƠNG I

Giải thích sơ lược về Phật học.

A - Ý nghĩa và lược sử đức Phật

B - Phật chẳng phải là thần.

C - Phật học.

D - Mục đích học Phật

E - Chuyển mê khai ngộ.

F - Lìa khổ được vui

G - học lý của Phật học.

1. Tam pháp ấn.

2. Mười hai duyên khởi (mười hai hữu chi)

3. Bốn thánh đế:

4. Tám chánh đạo.

5. Ba quy y.

6. Bồ đề tâm.

7. Luật nhân quả (nhân duyên quả báo)

8. Sám hối

9. Năm giới

Không sát sinh.

Không trộm cắp.

Không tà dâm.

Không nói vọng.

Không uống rượu.

10. Mười thiện nghiệp.

A. Phật nói kinh “thập thiện nghiệp”

B. Thập thiện nghiệp.

11. Sáu pháp ba la mật và bốn phép nhiếp.

A. Bố thí (vưng làm các điều thiện)

B. Trì giới (không làm các việc ác)

C. Nhẫn nhục.

D. Tinh tấn.

E. Thiền định.

F. Trí huệ (bát nhã)

G. Bốn phép nhiếp.

12. Bốn tâm vô lượng.

13. Tự tịnh kỳ ý (tâm thanh tịnh)

A/ nhìn rõ – buông rời

B/ tâm bình thường.

14. Sanh tử và nghiệp.

15. Ba cõi và sáu đường.

16. Phiền não.

17. Hồi hướng.

18. Pháp môn trì danh niệm Phật

19. Nói đơn giản – A Di Ðà Phật

Ăn chay.

Ăn chay là vấn đề nguyên tắc.

 CHƯƠNG II

Pháp môn trì danh niệm Phật

Nhất tâm niệm Phật

Niệm phật nhiều.

Trong tâm có Phật

Sự tối kỵ trong niệm Phật

Chẳng niệm gì cả - chỉ niệm A Di Ðà Phật

Chỉ sớm tối mỗi ngày niệm một lần niệm Phật thì lực chẳng đủ.

Nuôi thành thói quen niệm Phật

Niệm phật có nề nếp.

Nhất niệm lúc lâm chung rất là quan trọng.

Học Phật cần kịp thời

Pháp niệm niệm phật

Ðịnh khóa sớm tối

 CHƯƠNG III

Tu hành cần biết

Sửa tâm bệnh đổi tập khí

Pháp môn tu: tự lực và tha lực.

Phương pháp pháp môn tu tịnh độ.

Tín – hạnh – nguyện.

Tu hành không được do dự.

Tu hành cần bền lòng không biến đổi

Ðánh mở sự kết buộc nơi tâm..

Vạn ma không đẩy lùi được tâm bồ đề.

Nhỏ nhẹ khiêm tốn.

Thành tựu.

Trong sạch tâm ít ham muốn – trừ phiền não.

Phương pháp đoạn trừ phiền não.

Ngã chấp.

Lúc niệm phật vọng tưởng nhiều.

Chẳng nên vọng cầu cảm ứng.

Cuộc sống qua đi thì tốt

Tiêu trừ niệm tham..

Tiêu trừ niệm sân.

Tiêu trừ niệm si

Tiêu trừ ngã kiến.

Tiêu trừ chấp trước.

Sự chết tốt đẹp.

Người niệm Phật tốt nhất là chẳng vọng cầu khai ngộ.

Sự hữu dụng sau khi tĩnh tọa dậy.

Học Phật tu hành chẳng nên sợ khó.

Ðuổi đi lo sầu.

Một nụ cười giải tỏa nghìn sầu.

Mô phạm của người niệm Phật

Tham khảo kinh điển.

KẾT LUẬN..


LỜI NGƯỜI DỊCH 

Ðạo Phật có rất nhiều pháp môn, nhiều tông phái để tu trì như: Thiền tông, Mật tông, Tịnh độ tông v.v... Một cách giản dị, tôi suy nghĩ như thế này: Thiền quán muốn có kết quả, Mật tông muốn có linh nghiệm... thì dù bất cứ một môn nào, tông nào, điều trước nhất là “Phật tại tâm” ta phải đựơc sáng lên. Muốn thế thì nên nhất tâm niệm Phật; Trong Kinh Di Ðà sớ sao có câu: “Niệm Phật tức là niệm tâm, sanh kia không lìa sanh đây”. Hơn nữa Pháp môn niệm Phật, theo kinh nói, là pháp môn rất thích ứng cho chúng sinh trong thời pháp nhuợc ma cường (mạt pháp), dễ hành trì, đạt hiệu quả, quan trọng là cần chuyên tâm.

Một duyên may hi hữu, tôi gặp được quyển “Pháp môn trì danh niệm Phật vãng sanh Cực Lạc” này, của một vị pháp hữu biếu, quyển nguyên bản chữ Hán được in từ Ðài Loan, quyển này tác giả là Hùynh Lão cư sĩ (giới thiệu trong lời tựa), nhưng chỉ đề là “niệm Phật hành nhơn” (tức là người tu hành pháp môn niệm Phật). Càng đọc, tôi càng thấy thích thú say sưa, nội dung có thứ lớp, dễ hiểu, khả thi; người muốn tu, đọc đó, dễ bước vào pháp môn để hành trì. Tôi nghĩ rằng cần phải được dịch ra để mọi người cùng đọc, cùng học, cùng thực hành, cùng nguyện cầu pháp giới chúng sinh đều thành Phật đạo.

Chưa biết đã có ai dịch hay chưa, không ngại chính mình văn thô chữ thiển, nhưng sự nhiệt tình đang trỗi dậy trong lòng, mạo muội làm chiếc cầu nối, nối liền giữa tác giả và rộng rãi những người hữu duyên, tôi quyết định dịch quyển sách này. Ngưỡng mong sự hỉ xả chỉ dạy của chư vị cao minh, đồng nguyện cầu pháp giới chúng sinh cùng hít thở hương sen Cực Lạc.

Mái hiên tây, tịnh thất chùa Ðại Giác

Bảo Lộc – ba tháng mùa hè – 2000

Người dịch kính bái.

LỜI NÓI ÐẦU 

Niệm Phật tu hành bằng chơn tâm là biết được tánh trọng yếu của vấn đề niệm Phật, không quản ngại công tác nhiều, sự tình bề bộn, tuy thân bận rộn mà tâm không bận rộn, không để việc đời vướng mắc mà bị chuyển đổi. Như gương chiếu hình, hình hiện lên không chỗ nương cậy, hình mất đi không lưu dấu; cả ngày công việc đoanh vây, mà vẫn thong dong ngoài vật. Bởi vậy, hàng ngày lợi dụng những lúc: ngủ dậy, trước khi ngủ, trước và sau khi ăn, trước khi làm việc, sau khi làm việc, lúc nghỉ ngơi rảnh rỗi... Tùy thời tùy chỗ mà niệm Phật. Lúc công tác dụng tâm suy nghĩ, tạm thời gác câu niệm Phật, công việc xong rồi lại tiếp tục câu Phật hiệu. Niệm Phật nhiều để thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật thì sẽ được nhất tâm bất loạn; hiện đời này chứng được “niệm Phật tam muội” càng hay. Ðó là: không làm các việc ác, vưng làm các pháp lành, tự thanh tịnh nơi ý, ba nghiệp thân, miệng, ý thanh tịnh thì lúc mệnh chung mới có thể biết trước giờ chết, thân không bệnh khổ, thần trí trong sáng thì chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo, ngồi hoặc nằm niệm Phật mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Cuộc sống hiện đời yên ổn, tốt đẹp, tự tại, vui vẻ.

Niệm Phật tu hành không chơn là không niệm Phật nhiều, hoặc cho rằng lúc mạng mất tâm còn mời người đến trợ niệm là được; lòng ham muốn phần nhiều chỉ là thành gia, lập nghiệp, mua xe, mua nhà... các điều bận rộn. Bận rộn mãi với miếng ăn, thức uống, chơi bời, dục lạc hưởng thụ bèn nói rằng không có thời gian niệm Phật. Lúc bình thường thì không biết niệm Phật, trong tâm không có Phật. Ba nghiệp thân, miệng, ý lại không thanh tịnh, lúc mệnh chung bệnh khổ rất nhiều, thần trí hôn mê, ác nghiệp hiện ra trước mặt, bàng hoàng lo sợ, sáu thần không chủ, tình ái lại không bỏ được, tà nghiệp hiện tiền, tâm sanh điên đảo, không biết niệm Phật, càng không thể nói là chuyên nhất niệm Phật được, có người trợ niệm cũng uổng vậy. Bởi vì sao? Vì thần trí của người hôn mê, tà niệm hiện tiền, tâm sanh điên đảo, không biết niệm Phật. Người không dựa vào chính mình được, dựa vào người khác cũng dựa không được. Người nhà cũng không biết thời gian người mệnh chung, người nhà chỉ trông nom bệnh tình của người, đến lúc mời đoàn trợ niệm (ban hộ niệm) đến để trợ niệm, có người trợ niệm chẳng vãng sanh, lúc không có người trợ niệm thì đã chết rồi! Người không như lời dạy, không như pháp thì nhân như thế, quả như thế đó!

Cho là việc đời bận rộn ư! Vì lúc hưởng thọ dục lạc, há có thể chẳng e dè thấy nhân sâu xa; chợt vì cái vui khoảnh khắc, chuốc lấy họa ương nhiều đời.

Cần phải biết rằng, giả như giàu có, vàng ngọc đầy nhà, gia thế rạng rỡ, cũng khó tránh khỏi lúc suy tàn già bệnh; có đủ ngàn điều khoái lạc,vô thường đến lúc kề bên, một khi mất thân người rồi, khổ ơi là khổ! Hãy xem người xưa mấy ai có được tốt đẹp trọn đời? Chỉ có niệm Phật tu hành - vãng sanh thế giới Cực Lạc. Lìa khổ được vui - chơn lạc - mới là đường chánh.

Tác giả

TỰA 

Ðức Phật vì một đại sự nhân duyên mà xuất hiện nơi đời, dạy ngay cho chúng ta con đường ra khỏi sanh tử. Song pháp của Phật thì mênh mông như biển cả, rộng lớn sâu xa, các pháp môn, hạnh môn rất nhiều. Cần phải xét ngay chỗ cứu cánh, nghiền ngẫm thấu triệt, đối với kẻ phàm phu hời hợt thật chẳng dễ vậy. Ðức Như Lai thương xót chúng sanh thời mạt pháp, nghiệp dày phước mỏng, khó thành đạo nghiệp, không vì sự thưa thỉnh mà tự nói “pháp môn niệm Phật”, các kinh đều rộng khen, chư Phật đều tôn vinh công đức bất khả tư nghì này. Ðức Phật chỉ thẳng cho chúng sanh cửa ngõ giải thoát, phương tiện tối thắng nương vào: tự lực, Phật lực và tha lực mà thành tựu. Song pháp môn này tuy dễ thực hành được, nhưng kẻ phàm phu ngay trong khi thực hành chỉ cầu phước báo thế gian: tiêu tai, cầu phuớc... mà không biết việc thành Phật, tác Tổ của pháp xuất thế, không biết Phật là thế nào? Ðức Phật A Di Ðà là như thế nào mà thành tựu được trang nghiêm thanh tịnh, mà phát tâm học tập nơi Phật, thành Phật độ chúng sanh, càng không biết niệm Phật như thế nào để đạt đến “nhất tâm bất loạn”, “niệm Phật tam muội” hiện đời này thành Phật, lìa khổ được vui.

Quyển sách này tác giả là Huỳnh Lão Cư Sĩ vì từ bi, thương cảm đối với việc: khó được thân người, khó nghe Phật pháp, khó gặp thiện tri thức, nên đặc biệt soạn ra quyển: “Trì danh niệm Phật vãng sanh Cực Lạc pháp” chỉ thẳng vào tâm con người, vào chơn tâm niệm Phật tu hành. Như thế nào là niệm? Như thế nào là tu chứng? Ðể cùng lúc phá trừ một hạng người học Phật tu hành muốn cắt xén tâm tốt, có người ngã mạn cầu thần thông cảm ứng, có người cầu khai ngộ, có người đem tâm vọng tưởng làm chỗ tôn thờ, “dục tốc bất đạt”, cho đến nỗi tạo thành tập khí tồi tệ, tẩu hỏa nhập ma so ra đều là như thế. Quyển sách này mở bày việc cần biết để tu hành, phân đoạn giản dị, rõ ràng, dễ hiểu, trực tiếp ngay một mũi kim mà thấy máu, nương nơi pháp Phật mà tuần tự lần tiến tới, đi vào quy củ, chánh tri, chánh kiến, loại trừ tâm bệnh của chúng sanh, đoạn dứt phiền não. Như thế là học tập tu hành và diệt khổ ngay trong sinh hoạt thuờng ngày. Không đi vào cực đoan, sạch trừ sự hấp tấp trong tâm, Phật tánh mới có thể hiển hiện ra lần hồi cái tâm thanh tịnh của tự tánh. Tâm thanh tịnh tức là Phật, là tâm là Phật. Ðây là một quyển sách hay để làm gương soi, nên lưu truyền rộng khắp, mong những người có tâm cùng nhau hoằng dương, đồng nguyện, đồng thực hành, đồng về tịnh độ của Phật A Di Ðà. 

Ngày 16 - tháng Giêng năm Dân quốc thứ 87

Nhà tịnh ở Phật đường Bảo Quang

DUY NHẤT đề.

 

NHẬP 

Phật tử là người Quảng Ðông, sinh năm Dân quốc thứ 18, lúc nhỏ thì không tin Phật, không bái thần, có thể nói trong rối rắm càng mơ hồ rối rắm lộn xộn, hơn nửa đời người, đến lúc sắp đậy nắp quan tài luận tội, mới tin Phật, học Phật tu hành, đáng tiếc muộn một chút, nhưng hãy còn chưa chậm. Trong bảy mươi hai năm, cơ duyên chín muồi, ngẫu nhiên gặp trên báo liên hợp xuất bản có in giúp “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Ða linh dị lục”, theo đó được mấy bản in giúp, sau đó nhận được quyển “Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Ða linh dị lục”. Lại nhận được mấy tờ tạp chí của “Phật giáo tạp chí xã” từng kỳ gởøi đến, và thỉnh được mấy quyển sách Phật, được nghe Phật pháp, mới để tâm với việc lớn sanh tử, nhân quả (thiện có báo thiện, ác có báo ác). Con người từ đâu sanh ra? Chết đi về đâu? Thế giới ta bà là biển khổ! Người nghèo khổ, người giàu cũng khổ! Khổ nhiều vui ít, ra khỏi ba cõi sáu đường, lìa khổ được vui - gọi là Chơn lạc. Khái lược có nhận thức, chỉ hơi tin Phật mà không học Phật tu hành thì không ra khỏi vòng luân hồi của ba cõi sáu đường, chính như vậy mà bắt đầu học Phật tu hành.

Nhân vì cảm thấy: khó được thân người, khó sinh nơi trung tâm quốc gia, khó nghe được Phật pháp, khó gặp được thiện tri thức, khó sanh được tín tâm, lên một tầng khó hơn một tầng.

Khó được thân người: Con người đời đời kiếp kiếp đều ở trong lục đạo luân hồi, may mắùn có thể được thân người, thật chẳng phải dễ!

Khó sinh nơi quốc gia trung tâm: không phải sanh nơi có Phật giáo thôi, mà Phật giáo lại phải thịnh hành. Trên thế giới, địa phương có Phật giáo không nhiều, mà chỗ Phật giáo thịnh hành càng ít. Như ở Ðại Lục ngày trước thì có Phật giáo mà lại thịnh hành, nay chỉ có Phật giáo mà không thịnh hành. Mỹ quốc ngày trước không có Phật giáo, ngày nay có mà không thịnh hành. Ðài Loan là nơi có Phật giáo lại thịnh hành...

Khó nghe Phật pháp: pháp môn tịnh độ trì danh, niệm Phật lại càng khó nghe. Kinh Phật là kinh dùng văn nói, văn tả, hiện đại kinh người ta đọc là văn bạch thoại, nếu người không đọc qua văn nói, xem kinh Phật thì không hiểu, lại không thể nói được Phật pháp thông đạt, hiểu rõ ngh


Ðạo là chỉ chung cho Hành. Cần diệt đau khổ, dứt hết nhân tập, chứng được Niết bàn. Ðạo là tu hành dẫn đến Niết bàn, có thể lìa luân hồi sinh tử mà vào ở nơi Niết bàn. Ðạo này lấy trung dung mà cầu giải thoát, cũng gọi là chánh đạo. Như thế ở trên cuộc sống tu hành cần làm thế nào mới phù hợp với trung đạo ư? Thế thì ắt cần nương lần theo “bát chánh đạo” mà tu trì.

CHƯƠNG I

4. TÁM CHÁNH ÐẠO

Người cầu đạo, vì đạt đến giác ngộ thật rốt ráo, nên phải tu học tám món chánh đạo.

Không tà gọi là chánh, thông đạt không trở ngại gọi là đạo. Chánh đạo âý có thể khiến chúng sinh trọn dứt khổ và tập, đạt đến cảnh giới của thánh hiền niết bàn tịch tịnh, cho nên tám món chánh đạo ấy cũng được gọi là tám món “thánh đạo”

Trong tám chánh đạo lấy “chánh kiến” làm cần thiết đầu tiên, đối với thế giới mới có thể nhận thức chính xác, cũng mới có thể phá trừ được cái biết cái thấy của thế tục một cách lầm vọng sai lệnh, mà ngộ nhập chánh đạo. Trừ chánh kiến ra, bảy món chánh đạo kia được phân chia là: chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định.

4.1. Chánh kiến (thấy chân chánh): là thấy hiểu chính xác, phá trừ vô minh. Ðối với đạo lý duyên khởi và bốn thánh đế cũng như thế giới quan và nhân sinh quan của Phật pháp đã giảng khả năng chính xác gia dĩ lý giải và tín thọ phụng hành, chẳng phải là chỗ mê lầm (hoặc) thấy biết của thế tục.

4.2. Chánh tư duy (suy nghĩ chân chánh): Một khi suy nghĩ được phát ra, phần nhiều do vọng tưởng mà khởi. Nếu người tu hành đã thấy bốn thánh đế, dùng chánh kiến tương ứng, phá trừ tưởng pháp tà ác, mà khiến cho chơn trí tăng trưởng, đoạn trừ mê hoặc, xa lìa tất cả niệm ác.

4.3. Chánh ngữ (nói lời chân chánh): lấy lời nói chánh đáng mà tu khẩu nghiệp, lìa các món nói láo, nói ác, nói luồn lách, nói hai chiều. Chỉ nói lời khả ái (ái ngữ) thì khẩu nghiệp tự tịnh.

4.4. Chánh nghiệp (nghiệp chân chánh): Người ta khởi tâm động niệm, không gì chẳng tạo nghiệp. Tu thân, cần phải không tạo sát sinh, trộm cắp, tà dâm, không làm hành nghiệp hại chúng sinh dù trực tiếp hay là gián tiếp; như nghiệp sát sinh, nghiệp dâm, nghiệp đánh bạc, buôn lậu... các hành nghiệp xấu ác.

4.5.Chánh mạng (cuộc sống chân chánh): mạng gọi là nhờ lấy sinh kế của cuộc sống, thanh tịnh những việc cuộc sống hổ thẹn, mà đem công việc chính đáng mưu lấy cuộc sống.

4.6. Chánh tinh tấn (siêng năng chân chánh): Hướng đến phương trời xuất thế, đạo niết bàn, nỗ lực tiến tới, đưa ba nghiệp được thanh tịnh. Chẳng từ việc đối nơi thân miệng khổ nhọc mà khổ hạnh, hoặc mê tín của thế tục và pháp không rốt ráo (cứu cánh) của ngoại đạo.

4.7. Chánh niệm (niệm chân chánh): Niệm từ tâm khởi, tâm chẳng lìa đạo, xa lìa tà niệm, chỉ niệm chân như thật tướng, vả lại từng lúc từng lúc không quên lời giảng của Ðức Phật: vô thường, khổ, vô ngã... Không luận làm việc gì, đều cùng với chánh pháp tương ưng, tâm không có động mất.

4.8. Chánh định (định một cách chân chánh): Chánh định là xa lìa bất định, tà định, lấy chánh niệm vô thượng giữ gìn tâm, an việc thiền định ở trong trí vô phân biệt mà được.

Ðạo diệt khổ gọi là “bát chánh đạo”. Tu bát chánh đạo (tám món chánh đạo), làm nhân cho “Diệt đế”, đó gọi là kim chỉ nam của người tu tập đạo pháp, khiến tâm tham ái và chấp trước không xả đó sẽ bị diệt yếu đi và diệt hết, để lợi ích cho việc tu hành.

5. BA QUY Y

Phật, Pháp, Tăng là tam bảo (ba ngôi báu) trong cửa Phật. Quy y tam bảo tức là quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng. Quy là ý quay về, y là ý nương nhờ.

Phật, là nói tắt của chữ “Phật đà” của Ấn Ðộ ngữ, Trung Quốc dịch thành là Giác, tức là người chứng ngộ chân lý. Hàm chứa ý tự mình giác ngộ và lợi ích cho người khác, cả hai việc ấy viên mãn đầy đủ.

Pháp, Ấn độ gọi là “Ðạt ma”, nói theo nghĩa hẹp, tức là ý chân lý, nghĩa rộng là ý tất cả sự vật tồn tại. Tổng quát là Ðức Phật nói bày giáo pháp chơn nghĩa của toàn thể vũ trụ.

Tăng, là tiếng nói tắt chữ “Tăng già” của Ấn Ðộ, là đoàn thể có hành vi đạo đức đầy đủ.

Nương Phật làm thầy, nhân vì Ngài hay dạy rõ cho chúng ta chân lý tuyệt đối chính xác không lầm, mà dẫn dắt chúng ta tiến vào cõi cảnh không có phiền não. Cho nên quy y Phật, có thể khiến chúng ta giác mà không mê, nên người học Phật lấy Phật làm bổn sư quy y, mà bỏ ngoại đạo.

Nương Pháp làm thuốc, nhân vì Pháp (chân lý) có công dụng hiệu quả bỏ trừ được phiền não, khiến chúng ta Chánh mà chẳng Tà, đều gọi là chúng sinh chuyển mê khai ngộ, lìa khổ được vui, không nương nơi tà pháp của ngoại đạo.

Nương Tăng làm bạn, nhân vị họ có thể đem chánh pháp sắp truyền bá mà truyền trao cho chúng ta, khiến chúng ta lìa khổ được vui, nên người học Phật quy y Tăng, có thể khiến cho chúng ta tịnh mà không nhiễm. Ðây chính là chánh tín mà vào chánh giác, không nương nơi đồ chúng ngoại đạo.

Bao quát mà nói, tức là tam bảo Phật, Pháp, Tăng hay khiến cho chúng sinh xa lìa biển khổ sinh tử, được Niết bàn (giải thoát), cho nên nói là chỗ của chúng sinh rốt cuộc phải quy y.

Người ban đầu học Phật, tín tâm chưa kiên cố, lực lượng chưa sung túc, nên cần phải quy y tam bảo, được sự giúp đỡ, mới thành tựu đạo nghiệp, song thì sau cùng đệ tử ắt cần phải nương nơi sức chính mình, mới có thể thành Phật; đây là chỗ không đồng nhất giữa Phật giáo và các tôn giáo khác. Phật Ðà (Thích Ca Mâu Ni) trong lúc nói pháp, đều dạy răn thẳng cho đệ tử cần phải “tự y”, “pháp y” và “bất dị y”; tức là nương cậy tự lực, nương chánh pháp để tu học và không nương nhờ ở các lực lượng khác. Cho nên nghĩa sâu xa sau cùng của quy y tam bảo tức là quay về chính mình, tự tâm vốn có Phật, tự mình có thể thành Phật, tâm mình ngay nơi thể, tức là đầy đủ chánh pháp (chân lý); tự mình nương nơi pháp tu học, tự thân và Tăng già “nhất thể”. Như thế tam bảo Phật, Pháp, Tăng đều là không lìa tự thân, tức là chính thân tâm mình tam bảo có thể hiển hiện. Nhìn từ bên ngoài, quy y là sự dẫn dắt tha lực “tín nguyện”. Nhưng nhìn sâu, đây chỉ là “tăng thượng duyên” (điều kiện giúp đỡ tiến bộ). Trên thực tế, dốc sức chính mình, thực hiện lý tưởng, đây mới là ý nghĩa chân thật của vấn đề quy y tam bảo.

Cửa Phật giáo đều hướng đến chỗ có nhân loại mà mở bày. Phàm là người đối với Phật Pháp có hứng thú vả muốn học tập, không luận: sang, hèn, già, trẻ, nam, nữ, đều biểu hiện sự chào đón, vả lại nhất luật bình đẳng, không có phân biệt giai cấp, nhưng có chỗ trước sau thứ lớp tôn kính. Ðây là đứng trên nguyên tắc tu hành thềm bậc thứ lớp mà nói, tức là người tu hành chứng ngộ quả vị thấp cần phải tôn kính người có quả vị cao, vả có nghĩa vụ tiếp thu sự chỉ dẫn, chỉ có thứ tự trước sau như đây, hoàn toàn không có bất kỳ sự phân chia đẳng cấp trên dưới nào, hoàn toàn phát huy cái nhìn bình đẳng của nhân tính.

Mục đích của học Phật, tuy nhiên là ở chỗ siêu phàm nhập thánh giống nhau, nhưng nhân vì phương pháp nghiên cứu và tu hành không đồng mà phân thành rất nhiều phương pháp tu hành. Tịnh độ tông (pháp môn trì danh niệm Phật) là một phương pháp trong đó.

Tam quy y tổng kết mà nói: quy y Phật tức là “giác ngộ không mê”, quy y Pháp tức là “chánh mà không tà”, quy y Tăng tức là “tịnh mà không nhiễm”.

Ðức Phật dạy chúng ta cần phải từng thời khắc quán tưởng đến: Giác - Chánh - Tịnh; cần dùng Giác - Chánh - Tịnh mà tu tư tưởng, kiến giải, lời nói, việc làm của chính chúng ta, đây gọi là “tam quy y”, là quy y chân chính, Giác - Chánh - Tịnh, ba nguyên tắc này tức là quy y “Tam bảo”.

6. BỒ ÐỀ TÂM

Hai chữ “Bồ đề” là tiếng Phạn của Ấn Ðộ, dịch là Giác, ý là “chánh giác”, giác chính mình, giác người khác và giác ngộ viên mãn. Giác ngộ Phật đạo cũng tức là ý nói thành Phật. Bồ đề tâm tức là tâm giác ngộ, tức là tâm học tập Phật pháp, là thường ở trên hiện tượng mà rõ ràng và thông đạt, cũng tức là tâm thành Phật.

PHÁT TÂM BỒ ÐỀ, phát ấy là phát tâm, cho nên phát tâm bồ đề, lại là phát khởi tâm thành Phật. Vì sao cần thành Phật ư? Là vì lợi ích tất cả chúng sinh.

Phát tâm bồ đề tức là phát tâm thành Phật, “thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh”, rộng tu tất cả thiện hạnh, ngộ triệt để pháp tánh bình đẳng, quyết không kiến chấp ta và chúng sinh có sai biệt gì, như thế mới cùng tâm bồ đề tương ứng.

Như thế nào mới có thể rộng tu các thiện hạnh ư? Lấy “bốn vô lượng tâm” làm cơ sở căn bản, lấy “bốn nhiếp tâm” mà hành trì.

Phát tâm bồ đề, đức Phật muốn chúng ta bồi dưỡng tâm bồ đề, chủ yếu thành trách nhiệm của một cá nhân, cho nên mới có lời cảm là: “Nhân thành Phật thành”, đây là quy củ mô phạm làm người xử thế.

Không phát tâm bồ đề thì không có tâm thành Phật.

Tâm bồ đề tức là tâm giác ngộ, tâm từ bi, tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng, tâm đại nguyện.

Phát tâm bồ đề, nói một cách đơn giản, tức là anh xem chúng sinh chỗ có, đều cùng với tự mình giống nhau, không có ta lớn anh nhỏ, ta mạnh anh yếu, chỉ một mực bình đẳng. Cần tận khả năng của mình giải thoát đau khổ của chúng sinh tức là lợi tha.

Tâm bồ đề không phải lấy Ngã làm trọng tâm xuất phát, mà là kiến lập ở trên một tướng bình đẳng của tất cả chúng sinh cho nên không có bỉ thử, phân biệt bạn thù, cũng không sát hại, không làm việc si mê tham ái, cần ở lúc làm bất kỳ việc gì, hay thức tỉnh chính mình, việc này rốt ráo đối với việc giải trừ mọi người hoặc chúng sinh trầm mê có giúp ích thế nào?

Tâm bồ đề thật chẳng phải là ngay khi gieo hạt giống thì có thể mọc lên liền, chỉ đuợc tăng tiến từ từ.

Bước thứ nhất, không nên còn tâm hại chúng sinh. Bước thứ hai, thường thường tỉnh thức chính mình, ta làm việc này cùng với chúng sinh có ích hay không có. Bước thứ ba, nghĩ muốn là chẳng có thể giúp đỡ người khác thoát ly các nỗi khổ đau của nhân sinh. Ðối tượng lúc bắt đầu, qua loa là rất hẹp hòi, chậm chậm mới phổ cập được một nhóm người, nhận thức của anh, lại lần hồi đem tâm từ bi tìm mở rộng ra, siêu vượt ranh giới và giới hạn quốc gia phổ cập mọi chúng sinh.

Tâm Bồ đề sản sinh có hai món: Một là xưa nay đầy đủ; một là huân tập mà có. Chúng ta mỗi người đều có tâm giác ngộ, vì sao chẳng giác ngộ ư? Nhân vì không có sự khởi phát. Khởi phát về sau, cái tâm này tức là tâm giác ngộ. Ðối với tất cả vũ trụ đều là giác ngộ, đây cũng là căn bản tâm Bồ đề, tâm xưa nay đầy đủ. Cho nên chúng ta cần do từ sự dẫn dắt của thầy và kinh điển, chầm chậm học tập và huân tu, dùng tâm “như minh” này khởi phát sau khi tăng trưởng trí tuệ, mới có thể giác ngộ xưa nay. Trước kia chưa nhận thức bản tâm, thường thường hiểu rằng có giá trị thế nào mà tu, mà biết? Nhưng phát tâm Bồ đề tức là muốn chúng ta triệt để giác ngộ pháp của tất cả chẳng lìa tự tánh, tất cả tánh tức là tự tâm, điều này chẳng người khác bảo với anh mà có, mà là tự mình xưa nay đầy đủ, không có bất kỳ mê hoặc nào. Cho nên nói mọi người đều có trí huệ và đức tướng của Phật tánh, chỉ nhân nơi vọng tưởng và chấp trước mà mê hoặc.

Hóa độ chúng sinh, trước phải độ chính mình, “kỷ sở bất dục, vật ư chúng sinh” (việc mình không muốn chớ đem cho chúng sinh), bất luận là thân, miệng, ý đều chẳng thể được, lại chẳng thể có tư tưởng và hành vi làm tổn hại chúng sinh, nghìn vạn việc khác chớ làm tùy tiện, phóng túng, buông lung, mượn cớ lót miệng mà làm, trong tâm thường còn lòng từ ái và sự bao dung, khiêm tốn hiền hòa, nghĩ đến chúng sinh. Chờ có lúc trí huệ sinh khởi, lời của anh nói sẽ có ích cho chúng sinh, nói được chúng sinh miệng tâm đều phục, chúng sinh tự nhiên sẽ tự động gần gũi anh, chẳng cần anh nhọc sức quảng cáo tuyên truyền; cung kính anh, lúc đó chúng sinh sẽ nghe lời dạy răn của anh; Anh không có trí tuệ, lời nói không viên dung, làm sao dẫn khởi sự hứng thú cho chúng sinh? Dẫn pháp cần phải khế cơ, lời nói không gieo vào căn cơ, nói rách da miệng cũng không tác dụng.

Khắp độ chúng sinh có hai việc: 1. Cứu huệ mạng cho người, trừ si mê cho người, khiến cho họ được minh giác, tự mở mang ra, chuyển thức thành trí,triệt ngộ rốt ráo, tự tại không ngại, giải thoát luân hồi sinh tử, an trụ cảnh tịnh cực lạc, vĩnh hằng thọ dụng. 2. Cứu thân mạng con người, làm chút việc tốt, cho người ít tiền bạc hoặc y thực, hoặc lên núi xuống biển để cúng một chút công sức nhọc nhằn mà phục vụ, cứu nhân mạng, chẳng qua là trăm năm, rốt cuộc cũng chết, công hiệu ngắn tạm.

Phát tâm Bồ đề phổ độ chúng sinh chẳng phải cần là anh hiện tại độ bao nhiêu chúng sinh mà là cần có thành tâm độ chúng sinh, chẳng phải làm cho mình rồi than thở.

Ðộ chúng sinh rất là khó! Nhân vì Phật pháp không theo nơi thế tục (không theo cái tâm tục của người đời, theo tâm tham muốn), không giống như kiểu của ngoại đạo theo thế tục mà dụ người. Không có trí tuệ mà khuyên người tin Phật đã chẳng phải dễ, còn có thể nói được cho người đời miệng tâm đều phục mà học Phật tu hành, phát khởi sức lực tu hành sao? Trước mắt chỉ có đủ thật chính mình, chờ có một ngày trí tuệ phát ra mới độ chúng sinh, trước mắt chỉ có miệng nói ái ngữ, lượng sức tùy duyên mà làm việc thiện; giữ gìn thiện tâm, tùy duyên tùy sức mà làm việc thiện.

Luận đại trí độ nói rằng: “Bồ tát chưa được sinh pháp nhẫn, chẳng thể độ chúng sinh; dụ như phá bỏ thuyền mà cứu người chết đuối, mình và người đều bị chìm”.

Bồ Tát đất qua sông, tự thân khó bảo tồn! Làm sao độ được người!

7. LUẬT NHÂN QUẢ (Nhân duyên quả báo)

Phật pháp giảng: vô thường, khổ, không, vô ngã, ý tứ là tất cả muôn việc muôn vật trên thế gian đều là vô định tánh, nhân duyên hòa hợp thì sanh, nhân duyên ly tán thì diệt, tất cả tùy duyên mà tận lực, không nên cưỡng cầu.

Duyên khởi, tức là nói rõ tất cả các pháp đều là nơi nhân duyên mà sinh khởi. Nói một cách đơn giản, tức là sự sinh khởi tất cả sự vật trên thế giới hoặc tất cả hiện tượng, đều là tương đối, quan hệ và điều kiện nhất định của nó xen nhau tồn tại. Nếu như không có quan hệ và điều kiện này, bất kỳ sự vật và hiện tượng nào, đều không có pháp sinh khởi. Tại sao gọi là nhân duyên?

Nhân duyên cũng là điều kiện quan hệ. Trên kinh Phật đã từng nói: “Nếu đây có thì kia có, nếu đây sinh thì kia sinh, nếu đây không thì kia không, nếu đây diệt thì kia diệt”; đây là định nghĩa về duyên khởi. Nói rõ “quan hệ đồng thời” nương nhau tồn tại của sự vật, đạo lý “khác thời” xen nhau tồn tại.

Thế nào là đạo lý “khác thời” xen nhau tồn tại? Thí dụ sự quan hệ của hạt giống và mầm. Nhân vì quá khứ có hạt giống cho nên hiện tại mới có sự nảy mầm, chính nhân vì hiện tại có nảy mầm, hạt giống của quá khứ mới gọi là hạt giống, đây tức là đạo lý của quan hệ “khác thời” xen nhau tồn tại. Nhìn riêng một phương diện, lúc hạt giống diệt cũng chính là lúc mầm sinh, lúc mầm sinh cũng chính là lúc hạt giống diệt, đây là chứng minh hiện tượng sinh diệt của mầm và hạt giống, lại là một loại quan hệ “đồng thời” xen nhau tồn tại.

Loại quan hệ cùng thời xen nhau tồn tại và khác thời xen nhau tồn tại này kỳ thật cũng tức là chỗ gọi của Phật giáo: “quan hệ nhân quả”; ví dụ như hạt giống là “nhân”, mầm tức là “quả”, vì trước có hạt giống nên sau mới có sự phát triển của mầm, đây là quan hệ nhân quả khác thời xen nhau tồn tại. Cũng như lấy thầy giáo đó làm chính, thầy giáo đó tức là nhân, học sinh tức là quả; ngược lại lấy học sinh làm nhân, thầy giáo là quả, đây là quan hệ cùng thời xen nhau tồn tại. Quan hệ nhân quả này rất là lẫn lộn phức tạp. Cho nên muôn sự muôn vật trên thế giới, đứng trên thời gian mà nói, do ở sự quan hệ liên tục nhân quả khác thời vô số; đứng trên không gian mà nói, quan hệ xen nương nhau tồn tại vô số, tổ chức thành một cái mạng lưới lầm lạc cùng nhau rất là lộn xộn, phức tạp. Ðây tức là nhân nhân quả quả tương tục không dứt, tức là quy luật nhân quả. Cũng tức là giống như quay vòng lửa lưu chuyển không dừng, cuối mà lại đầu.

Phật pháp nói rõ pháp nhân duyên quả báo (nhân quả) chỗ sinh có hai lực lượng: 1. Lực có thể nghĩ bàn. 2. Lực không thể nghĩ bàn. Như nương nơi nhân nào thì được quả đó, tạo nghiệp nào thì thành báo đó, có cảnh nào thì khởi tâm đó, có tâm nào thì rõ cảnh đó, do hiện tượng nào thì khởi quán đó; đây là phép tắc thông thường của nhân quả.

Trên Phật pháp, sự sinh thành và hoàn diệt của vũ trụ vạn hữu, phải đều do hai chữ nhân duyên. Nhân và duyên, trên Phật pháp chưa từng có ranh giới nghiêm cách mà nói, nhưng từ sai biệt tương đối mà nói, nhân ước chỉ đặc tính mà nói, duyên ước chỉ lực tác dụng mà nói. Nhân là chỉ một điều kiện chủ yếu sanh diệt của sự vật, duyên thì là trợ giúp điều kiện, hai chữ “nhân duyên”, nếu dùng ngôn ngữ hiện đại để nói thì ước chừng tương đương với hai danh từ “điều kiện” hoặc “quan hệ”. Nói như thế, sự sinh diệt của mỗi sự vật trong vũ trụ ắt cần phải đầy đủ những điều kiện nào đó; sự tồn tại của mỗi sự vật, cũng quyết cần quan hệ xen nhau cùng với sự vật khác mà có. Cho nên phàm khiến cho điều kiện hoặc quan hệ của một sự vật sinh diệt, hoặc một sự vật tồn tại, tức gọi là “nhân duyên” của sự vật này.

Sinh thành của vũ trụ không phải là thần sáng tạo. Sự thay đổi của vạn vật cũng không phải là do Thượng đế chi phối; chỉ là sự nhờ gá các duyên (tức là đầy đủ các mức điều kiện sinh thành đổi khác của vật đó) hòa hiệp mà sanh. Việc này sanh khởi từ không đến có, tức nhân lời nói giới hạn, gọi là “duyên khởi”, tức nói trên quả gọi là “duyên sinh”. Cho nên trên Phật pháp gọi sự sự vật vật tồn tại ở trong vũ trụ là “pháp nhân duyên được sinh” mà gọi sự sinh khởi của sự sự vật vật “muôn pháp nhân duyên sinh”.

Vạn hữu trong vũ trụ, đã nhờ các duyên được sinh, tự nó chẳng khỏi sự biến hóa bại hoại. Cho nên từ tình thế gian đến khí thế gian, từ hiện tượng tinh thần đến hiện tượng vật chất đều là ở nơi sự vận động lưu chuyển, sự sinh diệt biến hóa, sát na không dừng. Nhưng ở trong khoảng lưu chuyển sinh diệt này là chẳng có một quy luật tuân theo ư? Có, đứng trên Phật pháp mà nói, phép tắc cơ bản có hạng mục chi phối muôn hình tượng của vũ trụ sinh diệt biến đổi, tức là luật nhân quả của vạn hữu.

Gọi là luật nhân quả, tức là phép tắc nghiên cứu nguyên nhân kết quả của sự vật. Hiện tại trong khoa học cũng có luật nhân quả, duy luật nhân quả của khoa học chỉ thích hợp dùng ở sự biến hóa của vật lý. Mà luật nhân quả của Phật pháp, ngược lại, thích nghi dụng ở sự biến hóa của tâm, sự biến hóa của sự vật, và sự biến hóa của tâm – vật hỗn hợp. Phật pháp đem phép tắc này gia dĩ phân tích rõ ràng chín chắn và chi tiết; căn cứ phép tắc này sáng lập ra nhân sinh quan ba đời; lại gom đem nghiệp báo luân hồi... các vấn đề liên quan lại, mà sáng lập ra nhân quả thiện ác chung với tư tưởng luân lý ba đời.

Nhân quả, nên nói một cách đầy đủ “nhân duyên quả báo”. NHÂN là nguyên nhân, DUYÊN là trợ duyên, sự vật do nhân duyên hòa hợp được sản sinh gọi là QUẢ, quả này đối với việc tạo nhân gọi là BÁO.

Thế, xuất thế gian, từ chúng sinh cho đến thành Phật, từ “căn thân” cho đến “khí giới” (tức là từ thân và căn cho đến đồ vật và nơi cõi), tất cả những việc sinh diệt đổi dời... chẳng có việc gì là chẳng chịu lấy sự chi phối của phép tắc này.

Chỗ gọi là ba đời, là chỉ cho đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Phạm vi đời quá khứ bao quát là từ trước hiện tại một đời cho đến quá khứ vô cùng lâu xa, đoạn thời gian này đều thuộc ở nơi đời quá khứ. Ðời hiện tại là chỉ cho đời hiện tại này. Phạm vi đời vị lai bao quát là từ sau đời hiện tại cho đến tương lai vô cùng xa vời, đoạn thời gian này đều thuộc đời vị lai.

Chỗ gọi là nhân quả thông ở “ba đời”, ý nghĩa có hai: 1. Quả báo phát sinh từ việc làm thiện hoặc làm ác, thời gian cần phải có mau hay chậm; nói mau, ngay đời này được quả báo, nói chậm có thể nhân từ đời quá khứ tạo đời này mới thọ báo hoặc nhân đời này tạo đời vị lai mới thọ báo; nói càng chậm, thì từ nhân đến quả, vượt qua đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, trải qua thời gian vô cùng lâu xa mới phát sinh quả báo. 2. Sau khi phát sinh quả báo, thời gian thọ báo cũng có ngắn dài; nói ngắn chỉ có mấy ngày, mấy tháng, mấy năm; nói dài từ bắt đầu thọ báo cho đến lúc báo hết dừng lại, vượt qua đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, thời gian vô cùng lâu xa.

Bất kỳ sự vật nào, quyết không thể không nhân mà sinh; nhưng có nhân mà không duyên cũng không thể sinh. Thí như một hạt giống (nhân) nếu không trải qua sự gieo hạt đem nó chôn vào trong đất, lại thêm các duyên trợ giúp của ánh sáng mặt trời, mưa, sương... thì không thể nảy mầm sinh trưởng, mà nhân duyên hòa hợp hình thành quả báo. Chẳng những sự sinh trưởng của sự vật như đây, tức sự biến đổi và hoại diệt của sự vật cũng chẳng như vậy.

Trên luật nhân quả cũng có vài điểm đánh giá được chú ý:

7.1. Trong luật nhân quả không có nhân thứ nhất, cũng không có quả cuối cùng. Trước nhân lại có nhân, cho đến vô thủy. Sau quả lại có quả dẫn đến vô chung. Thí như cha là nhân của con, cha lại có cha, cha... cha... vô thủy; con là quả của cha, con lại có con, con... con... vô chung.

7.2. Nhân và quả trong luật nhân quả là tương đối, mà chẳng phải là tuyệt đối. Thí như sợi vải là nhân của tấm vải, ngược lại là quả của bông vải. Do nhân Giáp mà sinh quả Ất, đương nhiên Ất là quả của Giáp. Nếu từ Ất lại phát sinh ra quả Bính thì Ất lại là nhân của Bính.

7.3. Là chỉ cho quá khứ, hiện tại, vị lai, trên thời gian; cho nên không tự diệt, không luận là sự lâu – tạm thời gian, hễ gặp duyên tức khởi hiện hành.

7.4. Bản chất nhân quả là một. Nhân có thể sinh, ắt là quả sinh. Quả có thể sinh ắt là cái nhân được sinh. Ðứng trên sắc pháp mà nói, trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậâu, hạt đậu lớn chẳng phát sinh từ dưa ươm, hạt dưa lớn cũng chẳng phát ra từ mầm đậu. Ðứng trên tâm pháp mà nói, tự làm nhân, tự thọ quả.

Nhân thiện không sinh quả ác, quả ác không từ nhân thiện, dù mảy mún nhỏ nhặt cũng chẳng thể cậy nhờ.

Luật nhân quả là quy luật tự nhiên của vũ trụ nhân sinh; Phật giáo chủ trương nhân quả ba đời, tức là chỉ cho quá khứ, hiện tại, vị lai của con người đều là trực tiếp chịu sự chi phối của của “luật nhân quả”, đây cũng gọi là nhân duyên quả báo. Thành Thánh thành Phật, lên thiên đường hay xuống địa ngục, hoặc thành công hoặc thất bại của một sự nghiệp, hạnh phúc hay bất hạnh của một cá nhân đều lìa không khỏi luật nhân quả. Tại sao gọi là nhân quả? Nhân ấy là so như hạt giống, gieo vào trong ruộng, tương lai có thể trưởng thành làm quả thật. Quả như là quả thật, từ hạt giống nảy mầm, lần lần thay hoa đậu trái. Như tôi đánh anh là nhân, anh lại dùng tay đánh trả tôi là quả. Như người làm công vụ tham ô là nhân, bị phát hiện rồi pháp quan kêu án ngồi tù là quả...

“Giả sử trăm ngàn kiếp, chỗ tạo nghiệp không mất, lúc nhân duyên gặp gỡ lại tự thọ quả báo”. Từ đoạn văn tự này, chúng ta có thể hiểu được chúng ta đời trước tự mình hành vi các món nghiệp thiện ác chỗ tạo tác là một món NHÂN nghiệp, mà tạo các nhân nghiệp này tuy nói thời gian quá khứ rất lâu, rất lâu, ở trước lúc không thọ quả báo, vĩnh viễn đều tồn tại, không thể tự động tiêu mất hoặc tiêu diệt. Những cái nhân các món nghiệp thiện ác quá khứ hoặc đời trước chỗ tạo ra chỉ cần gặp được điều kiện sinh trưởng thích hợp, thì sẽ thành và sinh trưởng tích cực làm quả, cho nên thiện ác phước họa của tất cả thế gian, hạnh phúc hay không hạnh phúc, không có việc gì chẳng phải là “tự tác hoàn tự thọ” (tức là tự mình làm, tự mình chịu), chẳng thể có đạo lý do anh làm, người khác lại chịu, hay do người khác làm mà anh lại chịu.

Luật nhân quả đặc biệt chú trong về “DUYÊN”, nhân vì phép tắc nhân quả trực tiếp thông ở nơi đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai của con người. Ðiều chỉnh tất cả sự sự vật vật của nhân sinh vũ trụ đều là do ở nơi duyên mà khiến tất cả sự vật thành là sự tồn tại tánh cách tạm thời. Thí như nói anh trồng một cây dưa, đây tức là “nhân” của hành vi, nhiên hậu anh lại mỗi ngày tưới nước cho dưa, bón dinh dưỡng, đây là “trợ duyên”. Sau đó cây dưa này trồng một cách thuận lợi sẽ lớn lên kết thành quả, chắc chắn là quả “dưa”. Tuyệt đối không là một chủng loại nào khác, cho nên nói rằng: “trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu”.

Cho nên lý luận của nhân quả cho là: “quả báo” ắt cần phải có NHÂN DUYÊN hòa hợp mới kết quả. Nên nói mình tạo nhân gì chắc chắn được quả đó, trừ phi mình không tạo tác thì không thể phát sinh ra quả.

Câu nói: “nhân duyên sanh vạn pháp” là một điều trung tâm học lý trong Phật học cũng gọi là “luật nhân quả”. Vạn pháp là chỉ tất cả sinh vật và không sinh vật, chúng đều là nhân duyên hòa hợp mà sinh. Nhân là phát sinh ra động lực gốc của một vật nào đó. Duyên là nhiều yếu tố giúp trợ một vật nào đó sinh thành. Chúng ta lấy việc trồng hạt đậu làm ví dụ, có thể dễ hiểu. Một hạt đậu là một hạt giống thực vật họ đậu, hạt này tức là tương lai phát sinh cái nhân của thực vật thuộc loại cây đậu đó, hạt giống gieo vào trong đất màu lại thêm ánh sáng mặt trời, không khí, nước... tức là trợ giúp hạt giống đó sinh trưởng là có duyên lớn lên (tăng thượng duyên) của thực vật. Thời gian nhân duyên hội họp, tức sự sinh khởi thực vật này là hiện tượng phổ thông vạn vật sinh khởi. Nhưng đây còn một vấn đề cũng là trọng yếu; thế thì người nông phu nương theo thời gian thích đáng mà gia công, tưới nước, nhổ cỏ, bón dinh dưỡng, như thế hạt giống đó tức sẽ kết thành “quả” chắc tốt. Trái lại hạt giống gieo vào trong đất mà những duyên đó thiếu ít rồi, hoặc nông phu không thi công, như thế cây thực vật kia, không những không thể phát triển, thậm chí sẽ chết mất. Thực vật là kiểu này, nhân loại chúng ta cũng như vậy. Sự vật sở hữu cũng là như vậy.

Nghiệp có: thiện nghiệp, ác nghiệp và chuyển nghiệp. Vạn vật là do nhân, duyên hội họp được sinh, nhân giống như hạt giống của thực vật, như thế chúng ta lại tiến thêm một bước thử hỏi: “hạt giống của thực vật từ đâu mà có? Chúng ta biết rằng: Một đóa hoa hoàn toàn có nhụy cái và nhụy đực, ở trong bầu nhụy có một cái phôi tròn, mặt trong có một cái tế bào cái gọi là noãn, thuốc hoa của nhụy đực có bốn cái túi, bên trong mỗi cái túi chứa tế bào đực rất nhiều, gọi là phấn hoa. Nếu hoa phấn có cơ hội được gió thổi đi hoặc côn trùng mang đến trên hoa cái thì phát triển thành ống phấn hoa, tế bào đực với ống phấn hoa phối hợp, về sau thì phát triển thành hạt giống của quả chắc.

Chúng ta đã hiểu rồi, muôn pháp là do nhân duyên hội họp mà sinh khởi. Nhân là tại sao tạo thành? Phật học nói: nhân là do quả tạo thành. Như vậy thế nào là nghiệp? Nghiệp tức là nơi thân người có chỗ tạo tác hành vi. Lời cửa miệng nói; ý có tư tưởng cảm phát; đây tức là nghiệp. Ở trong một đời người, phổ thông có mười món thiện nghiệp. Như thân không tạo ra: sát - đạo - dâm. Miệng không tạo ra: nói láo - nói ác - nói chiều uốn - nói hai chiều. Ý không tạo ra: tham - sân - si. Một cá nhân như có thể hằng ngày tạo ra thiện nghiệp nhiều như thế thì trong một đời của họ, chân - thiện - mỹ đầy đủ tất cả, huống chi đời trước của họ, xưa nay thiện nghiệp chứa nhóm rất nhiều, lại thêm một đời này thiện nghiệp được tạo, hết đời này về sau, thiện nghiệp của họ và duyên hòa hợp, đời sau thì có thể chuyển làm trời người hoặc Tiên hoặc Thần, hoặc người giàu có... Ðây là luật nhân quả “tự tác tự thọ”, là một cái hiện tượng của vạn vật, nhưng người hiểu được thì rất ít, cho nên người tốt cũng sẽ ít.

Về mặt tương phản, nếu như một người thân hàng ngày tạo ra: sát - đạo - dâm; miệng tạo ra: nói láo - nói ác - nói chiều uốn - nói hai chiều. Ý tạo ra: tham - sân - si, các món ác nghiệp. Họ sẽ cấu thành nhân ác, ở đời này, hoặc đời sau, lúc cùng duyên hòa hợp y theo luật nhân quả mà nói, người này chậm mau gì cũng sẽ thọ lấy các món ác báo đau khổ. Tục ngữ nói rằng: “thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì” (Thện và ác cuối cùng cũng có báo ứng, chỉ là sớm hay muộn mà thôi!). Câu nói này là không sai vậy. Nhưng chư vị nhớ rằng một hạt giống được ánh sáng mặt trời, không khí, nước, sẽ nuôi lớn lên, nhưng người nông phu nhổ cỏ, bón phân... các việc là sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển và thu hoạch của thực vật đó. Nghiệp lực cũng như thế này. Chúng ta có thể dùng sức lực chính mình để chuyển biến sự gặp gỡ đời này của chúng ta như: giàu, nghèo, vinh, nhục... Tuy nhiên là đời trước nghiệp lực được tạo phát triển đến, nhưng chúng ta không ngộ được đạo lý “chuyển nghiệp”, một mặt sám hối cái ác nghiệp đã tạo từ quá khứ không hiểu biết, riêng một phương diện hằng ngày suy nghĩ, nói năng, hành vi đều phản tĩnh chính mình, nỗ lực hướng con đường thiện mà đi. Như thế cá nhân này lớp ác nghiệp đã tạo trong quá khứ gọi là định nghiệp, xưa nay là phải thọ quả báo ác, lúc này chuyển thành nghiệp nhẹ, hay nghiệp bất định. Lại thêm sự trì giới, học định, tu huệ, như vậy thân này có thể vào hàng Thánh, là rất có khả năng. Cho nên một cá nhân phần lớn có thể bất tất vì ác nghiệp đã tạo từ quá khứ không biết mà lo phiền lòng, chỉ cần hiện tại nỗ lực tạo thiện nghiệp để chuyển biến nó, “nhân lực thắng thiên”, thì có thể lấy câu nói này “thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”, biến đổi nhiều nhiều hơn.

Chúng ta sở dĩ đến thế gian làm người không có cái gì chẳng phải là do các món nghiệp thiện ác đời trước hoặc quá khứ của tự chúng ta luân hồi mà đến, (chúng sinh vì các loại nghiệp tạo tác khác nhau, thế nên luân hồi sinh tử trong sáu đường: trời, người, a tu la, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục). Ðó là quá khứ của mỗi cá nhân ở trong thời gian và không gian chẳng giống nhau, nhân nghiệp tạo tác đều không đồng. Cho nên mỗi người ở đời này các món cảnh ngộ phải chịu lấy cũng sẽ tự nhiên có chỗ không đồng, chính mình ở ngày nay chỗ thọ lãnh, điều là chính mình thọ lấy nhân nghiệp của quá khứ bị chiêu cảm, chắc chắn như vậy.

Thí như có người ngược lại có thể có đời sống được thông minh trí tuệ, gia đạo lại giàu sang, một đời như ý, bước tiến thong dong cho đến năm phước đến cửa hoặc giả một chút cũng không phí sức, ngồi hưởng vinh hoa. Mà có người thì đời sống kém hèn, linh đinh cô khổ, một thân cùng khổ, còn lại gặp gỡ tai biến hoặc bệnh tật, khổ không kể xiết.

Có người một đời huy hoàng thắng đạt, có người một đời cùng đường chao đảo, đời người có lúc đắc ý nhưng cũng có lúc thời khắc thất ý. Có những người sinh ra là con nhà giàu, từ lúc sinh ra hưởng thụ thẳng đến già, không buồn không rầu. Có người sinh ra ở gia đình nghèo khó, từ sớm bận rộn cho đến chiều, vả một đời nhọc nhằn khổ sở. Có người lớn lên có tướng đoan chính, có tài hoa có học vấn, một đời không tai không họa. Có người ngược lại tai họa trùng trùng, có người làm kiến trúc sư, giáo thọ, có người buôn bán, có người làm công việc tốt xấu giàu sang... các món sai biệt và cảnh ngộ đều mỗi cái có chỗ không đồng. Thậm chí anh chị em cùng sinh ra từ một gia đình cùng cha mẹ, không luận là phương diện thân thể, phương diện tiền đồ, phương diện sự nghiệp, thậm chí một người con gái sinh ra từ gia đình nghèo khó, gả đến một gia đình giàu hoặc ngược lại.Chúng sinh hàng trăm trạng thái, thiên sai vạn biệt, đây là đạo lý gì? Những vấn đề này đều là từ quá khứ hoặc đời trước chính mình mỗi người nhân nghiệp đã tạo ra mà cấu thành; bởi nhân nghiệp không đồng, nên nhân duyên đời này gặp gỡ, cho nên bất cứ một cá nhân nào tình cảnh đời này thọ lấy, cũng đều riêng khác không đồng. Cảnh ngộ đời này không tốt, đều là do ở nơi quả báo của ác niệm và ác hạnh dẫn đến từ quá khứ bao quát cả đời trước chúng ta đã tạo ra.

Người mà đời này nhiều bệnh tật cũng là cùng với nghiệp chính mình đã gieo trồng từ quá khứ đến chỗ liên hệ; Nguyên nhân của tất cả bệnh tật cũng là tâm chúng ta kéo vin ngoại cảnh tạp niệm phát sinh. Xét một cách tột cùng mà nói, con người ở các ngằn mé gặp gỡ trong đời người, tất cả chỗ thọ chịu, đều là do ở nơi “vọng niệm” chính mình từ quá khứ tạo thành, nhân vì mỗi người có tạp niệm: tham ái - oán giận - ngu si, cho nên tập trung cả ở trên thân thể, trên lời nói, trên ý niệm chính mình; rất nhiều nghiệp nhân tạo tác chẳng đồng, mà món nghiệp nhân này thì sẽ có thế lực tiềm ẩn rất lớn, đó là vì sự quan hệ với chúng ta lúc tạo tác các món nghiệp có “tâm niệm rất lớn”, do đó đời này gặp được “duyên” tự nhiên khai hoa kết quả; cho nên nói rằng “dục tri tiền thế nhân, kim sinh thọ giả thị, dục tri lai thế quả, kim sinh tác giả thị” - (Muốn biết nhân đời trước, nhìn nơi sự thọ chịu đời này, muốn biết sự thọ chịu quả đời sau, nhìn việc làm đời này).

Cho nên chúng ta cần phải biết rõ các điều khổ nạn cảnh ngộ phải chịu, thì không nên oán trời trách người, ở trong đời này chúng ta càng cần phải từng giờ làm được các điều: “các việc ác chớ làm” (chư ác mạc tác), chẳng nên tái lại làm bất cứ nhân ác nào; Tiến tới thì phải làm được: “nên làm các việc thiện” (chúng thiện phụng hành), tuy nhiên chính mình đối với cảnh ngộ trước mắt vẫn khổ, nếu như thiện duyên kết nhiều, ác duyên tức chẳng thể tăng trưởng.

Một con người muốn sự nghiệp thuận lợi hoặc đạt được hạnh phúc, hành vi bản thân quyết cần phải lấy quan niệm “nhân quả” làm điểm xuất phát, người mà có được cái nhìn “nhân quả” thì từng lúc đều có thể cảnh giác chính mình, kìm chế chính mình, phân biệt thị phi, rõ biết nhân qủa báo ứng biến hoá, cho nên có thể theo từng con đường chánh mà đi, trọn có thể đạt đến lý tưởng chính mình. Một con người có quan niệm nhân quả, thì họ sẽ thật tế, quan niệm tư duy chính xác đời người vô thường, chỗ thọ chịu tất cả khổ, mà tất cả những cái đời này thọ chịu đều do chính mình từ quá khứ các món nghiệp nhân được tạo tác mà cấu thành; cho nên họ có thể đoạn trừ tất cả ác, tích cực hành thiện, kết thiện duyên, tiến đến mà thể ngộ được ý nghĩa và mục đích chân thật của vấn đề tu hành học Phật, cho nên nói là người có quan niệm nhân quả (nhân quả quan) có thể theo con đường chánh mà đi.

Người không có quan niệm nhân quả, thông thường chẳng dễ tuân thủ quy củ phạm vi xã hội, pháp luật quốc gia, xã hội bốn phương tám hướng ngay trước mặt, mỗi ngày chỗ thấy các việc như giết người, buộc tội, cướp giật,... hoặc phạm tội vì danh lợi, những người này có thể nói là những hạng người không quan niệm nhân quả, hoặc nói là nhận thức về nhân quả chưa sâu.

Người không có quan niệm về nhân quả hoặc đối với nhân quả nhận thức chưa sâu, tuy cũng thọ nghiệp lực chiêu cảm, nhưng xét cho cùng hãy còn tự mình ở trong cuộc sống ngày thường không có quan niệm chính xác, hoặc chánh tri (hiểu biết chân chánh) chánh kiến (cái nhìn chân chánh); lại thêm một phương diện khác có những người là người xấu, suốt ngày không làm các nghiệp chánh, thậm chí không ác gì là không làm, mà ngược lại cuộc sống hưởng thụ rất nhiều... nào là: thăng quan, phát tài, thành đạt, huy hoàng, khiến người thèm muốn; do đó chính mình sẽ hoài nghi phép tắc nhân quả. LaÏi có những người thường nói: “Thiên hạ làm gì có việc nhân quả báo ứng, nếu có việc nhân quả báo ứng thì thế gian sẽ không có người xấu”. Nhân đó tham tâm càng trỗi dậy, không biết hậu quả đáng sợ, cho nên lời nói này đều là tà tri, tà kiến tạo thành. Trong kinh Phật nói rất rõ ràng, chỉ vì người đời phần nhiều không có xem đọc, nghe hiểu thâm nhập kinh Phật để lý giải, để thâm tín mà thôi.

Kinh Phật nói rằng: “Nghiệp ác chưa chín mùi, người ác cho là vui, nghiệp ác lúc chín mùi, người ác mới thấy ác. Nghiệp thiện chưa chín mùi, người thiện cho là khổ, nghiệp thiện lúc chín mùi, người thiện mới thấy vui”. Ðoạn kinh văn này là nói duyên cớ những người không có ác nào chẳng làm đó, không thọ đến báo ứng đời hiện tại, mà vả lại còn hưởng thụ lấy cái vui; đó là vì lý do nhân thiện đời trước hoặc quá khứ của họ, đến đời này gặp được duyên đã chín mùi từ trước; cũng tức là nói họ tất cả những gì hưởng thụ ở hiện tại, chính là nhân thiện của quá khứ, hoặc đời trước họ đã gieo trồng, tất cả quả báo đó là từ trước chín mùi mà được; nếu đời này họ tạo tác các món nghiệp ác (nhân nghiệp ác), nhân đó vì trồng chưa được lâu, chưa chín mùi, đợi đến lúc nhân duyên nghiệp ác chín mùi, chắc chắn thọ báo; cũng tức là nói đợi nhân thiện đã trồng ở đời quá khứ của họ - phước báo chỗ được ở đời này sau khi đã hưởng thọ xong, tự nhiên phải thọ báo, mà nhận lấy thọ báo các món nhân ác đã tạo ở đời này, do đây khổ đau liên tiếp, khổ nạn triền miên, tai nạn dẫy đầy, đến lúc đó, tự nhiên người làm ác sẽ thấy được kết thúc của việc làm ác. Trên sự thật, một con người làm việc ác chẳng có thể trốn chạy hết đời, trải qua khoảng giữa đường thì đã khổ nạn trùng trùng, chẳng sanh bệnh thì cũng chẳng được chết tốt.. Có thể thấy việc “quả báo hiện đời” này xác thực rất là đáng sợ, nếu đời này không thọ báo thì ở đời vị lai, giống như vậy, phải thọ báo, “ác nghiệp chín mùi ở đời sau” tức là cái đạo lý này vậy.

Người mà mỗi ngày thường hay giúp đỡ người khác, làm việc thiện, đời này ngược lại vẫn vậy thọ chịu khổ nạn trùng trùng, tự cho là việc thiện làm hết, hoặc thường thường làm việc thiện, vẫn vậy lại còn thọ chịu quả báo khổ. Trên sự thật, những người làm việc thiện đó, nguyên nhân đời này vẫn vậy mà còn phải chịu các điều khổ nạn, chính là vì nhân ác họ đã trồng từ quá khứ hoặc đời trước, duyên do nhân nợ rất nhiều rất nặng, mà những nhân nợ, nhân nghiệp này, ở đời này gặp trước được “duyên”, do đó tự nhiên chín mùi trước, cho nên có tình huống tự nhiên phải trả, còn phải khổ nạn trùng trùng. Mà đời này nhân thiện được trồng, mà vì trồng chẳng lâu, cho nên chưa được chín mùi, đợi đến lúc nhân thiện chín mùi, cũng tức là nói, đợi đến lúc nợ đời quá khứ trả hết, tự nhiên được phước báo, hoặc đợi đời sau chín mùi, do sự nhẹ nặng của nhân nghiệp ở mỗi người, hoặc các điều kiện chưa phối hợp mà định. Chỗ gọi là các điều kiện chưa có thể phối hợp là chỉ: sự thiếu sót chân thành phát ra của tâm từ bi, tâm khoan dung, tâm sám hối, tâm hành thiện từ nội tâm, hoặc làm thiện mà thiện hạnh tích chứa chẳng đủ. Cho nên người làm việc thiện đến một lúc nào đó sẽ bắt đầu biết được làm việc thiện sẽ được cái vui chân chánh.

Chỗ gọi là: “có nhân như vậy, được quả như vậy” là đạo lý tuyệt đối; cho nên có câu: “Thiện có báo thiện, ác có báo ác, như nếu chẳng có báo tức là chưa tới lúc, lúc đến rồi, nhất định thọ báo”.

Cho nên nói chính mình trong quá khứ trồng nhân nghiệp gì, hiện tại sẽ phải thọ lấy quả báo ấy; hiện tại tạo nhân nghiệp gì, vị lai sẽ phải gặt lấy quả báo ấy. Tóm lại, có nhân nhất định sẽ dẫn đến quả nhất định, cho nên nói “nhân quả” là một loại chân lý “bất định tánh”, luật nhân quả là một định luật bất biến vĩnh cửu của nhân sinh vũ trụ.

Tóm lại, tâm còn thiện lương tức được báo tốt, tâm mà bất lương tức mắc báo ác. Ðức Phật nói: “Tất cả thiện ác đều xuất phát từ tâm, tự tâm tu thiện khiến tâm an lạc, tự tâm tạo ác khiến tâm chịu khổ”, “Phước do tâm tác, họa do tâm sinh”. Do đây có thể thấy, con người tất cả những việc được phước hoặc mắc hoạ, đều là chính mình ở trong cuộc sống thường ngày ở chỗ thi vi tạo tác mà quyết định, cho nên muốn được phước thì cần phải trước đem nội tâm của mình tất cả những vọng tâm, ác tâm mà trừ bỏ, trừ bỏ tất cả các ác của nhân loại; các ác của nhân loại là những gì? Ðó là mười ác nghiệp (tức là mặt trái của mười thiện nghiệp), mười thiện nghiệp phạm rồi thì là mười ác nghiệp.

Sở dĩ nhân loại có mười ác nghiệp này đều là do tham - sân - tà kiến của ý nghiệp tạo khởi, mới có thể tay tạo tội nghiệp, hoặc ý nghiệp biểu hiện ở nơi miệng, thì sẽ tạo tác khẩu nghiệp, hoặc ý nghiệp biểu hiện ở nơi thân thì sẽ tạo tác thân nghiệp, cho nên ý nghiệp lại gọi là “tâm nghiệp”; cho đến ngay trong xã hội phạm tội án kiện mà nói, cũng đều rời không khỏi mười món nghiệp này.

Tóm lại, cần trừ các ác của nhân loại, thì quyết cần phải trừ bỏ tâm riêng tư, tâm tham, tâm sân và tà kiến của chính mình. Một con người nếu có thể trước nhất trừ bỏ tâm riêng tư chính mình, thì có khả năng “chẳng làm các việc ác”, do đây có thể giảm thiểu các việc khổ phải chịu, vì ở nơi tình huống mà chẳng làm các việc ác, thì ở trong ruộng tám thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt na và a lại da thức) của mình không thể tăng thêm ác duyên, tiến đến thì có thể “Vưng làm các việc thiện”, do ở nơi làm nhiều các việc thiện, lại có thể chận đứng tất cả các việc làm ác, thiện duyên tự sẽ tăng thêm nhiều, ở nơi tình huống này, các món nhân ác từ quá khứ - duyên ác, tự nhiên sẽ thối lui.

Cho nên Phật giáo tuy nói: “nhân quả ba đời” nhưng lại chú trọng “nhân quả hiện đời này”. Vì quả báo đời hiện tại là chỗ đặt để của đời trước chiêu cảm, mà cần phải giảm nhẹ các vấn đề khổ báo, chỉ cần ở đời này tu thiện, tích đức tích cực, thì có thể giảm chuyển nghiệp báo (báo thì nặng mà thọ thì nhẹ); Cũng tức là nói các món nhân nghiệp đã tạo tác ở thời quá khứ của chính mình, hoặc nhân ác từ xưa tới nay phải chịu lấy khổ nạn trùng trùng, chỉ nhân nơi đời này không tạo lại các nghiệp ác, đồng thời làm thiện tích cực, tu thiện, báo nặng đáng lẽ phải chịu, tự nhiên chuyển thành việc nhẹ.

Cho nên con người chỉ có nhận thức triệt để quan hệ “nhân quả”, và chỗ chỗ đều lấy “nhân quả” làm điều kiện cần thiết cơ bản của đời người, tiến đến “chẳng làm các việc ác, nên làm các việc lành”, mới có thể cuộc sống tinh thần của nhân loại vươn lên, khôi phục được quan niệm đạo đức, tiến đến kiến lập thế giới tâm lý trang nghiêm của đạo đức, mới đi đến con đường khang trang sáng lạng. Vì lý tưởng và mục tiêu của con người bao gồm là: giải trừ phiền não và khổ đau, vượt thoát luân hồi sanh tử. Cho nên con người chỉ có thấu suốt được thực tiễn Phật pháp, thâm nhập kinh Phật, tiến đến nhập vào thế giới lý tưởng giải thoát của tâm linh, mới có thể đến được cuộc sống vĩnh viễn hạnh phúc, khoái lạc, tự do tự tại.

Học Phật là giúp chúng ta hiểu rõ cội nguồn của khổ, sau khi đã hiểu thì không sợ sệt; học Phật có khả năng an bình được ma phiền trên cuộc sống. Tất cả niệm đều được tạo ra từ không tánh, quả báo phát ra đều được chính mình thừa nhận không phải là người khác, cho nên bất cứ cái gì đối với niệm đầu bất lợi cho người khác, cũng tức là bất lợi chính mình. Niệm đầu tốt mới có chỗ tốt với chính mình, niệm đầu xấu thì đối với chính mình có chỗ xấu, niệm đầu không thì đối với chính mình vô quái ngại. Cần phải rõ lớp đạo lý này mới có thể nắm được nhân quả trong bàn tay, biết nhân quả tức là biết tiến thối. Duyên tất cả sẽ không có quái ngại, tốt nhất tâm khởi động niệm liên miên đều phải đình chỉ (không suy tưởng), trong tâm không cả cái không, “nhân” cũng không có.

Pháp môn tuy là bước đầu vào cửa Phật pháp, nhưng rất là trọng yếu, không luận người nào, cũng đều cần phải tin sâu xa. Không nên không thấy qua quỷ thì không tin có quỷ thần; chưa từng thấy qua con người làm ác mà thân hiện tại chịu lấy ác báo thì không tin tưởng “nhân quả báo ứng”, rồi vọng làm hành vi hồ đồ (vọng tác hồ vi). Người ác trên xã hội hiện tại chịu lấy xử lý về pháp luật, tức là báo ác, tức là cái báo của thân hiện tại.

Học Phật tu hành thì phải hiểu rõ “nhân quả”, tin sâu nơi “nhân quả”. Không tin nhân quả, thì phàm sự việc theo tâm ham muốn, vọng làm hồ đồ, như thế thì chẳng cần phải học Phật, chẳng cần phải tu hành làm gì! Như vậy là duyên cớ gì ư? Vì “lưới trời lồng lộng, thưa mà không lọt”, chúng sinh ở cõi ta bà, dù ai có bản lãnh thông thiên, đều không thể trốn khỏi phán xét của nhân quả. Cho nên nói: “Nhân quả dù đường tơ kẽ tóc không sai”. Phải, trái, cong, ngay.. tất cả đều ở dưới sự phán xét của nhân quả, sẽ khiến mọi người tâm phục, khẩu phục.

Sự tạo tác thi vi của chúng ta trong một đời có thiện có ác, báo ứng tương lai không ra khỏi việc:

-  Trồng cây đào, cây lý, trưởng thành là cây đào, cây lý (làm thiện được báo thiện)

-  Trồng cây gai trưởng thành là cây gai (làm ác chịu báo ác)

Cho nên chúng ta muốn tránh hung được cát, tiêu tai được phước, thì quyết cần phải trồng sâu nhân lành (thiện nhân), nỗ lực sửa lỗi thành thiện, tương lai mới có thể được quả tốt phước đức cát tường. Như thường làm nhân ác mà muốn miễn trừ được hung họa tai nạn, như thế có thể được đâu.

Cho nên khuyên mọi người phải tin sâu nhân quả, hiểu rõ báo ứng thiện ác, một đường tơ một kẽ tóc không thể sai lệch. Không nên làm một người mang danh “Phật giáo đồ” mà không tin nhân quả, không hiểu rõ nhân quả.

Phật Ðà có Phật nhãn có thể thấy vạn tượng vũ trụ, dạy chúng sinh nên biết tin nhân quả, “làm thiện được báo thiện, làm ác chịu báo ác”, khuyên người đời phải dừng ác làm thiện, mới được quả báo tốt. Người đời chỉ có nhục nhãn nhìn không thấy vạn tượng vũ trụ, như không thấy qua quỷ thần thì cho rằng không có quỷ thần, người đời nếu học Phật tu hành công phu tới mức được thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn, Phật nhãn thì có thể thấy được vạn tượng vũ trụ, được thiên nhãn rồi thì thấy được quỷ thần. Người đời phần nhiều không học Phật tu hành, hoặc học Phật tu hành mà công phu chưa sâu, chỉ có nhục nhãn, đương nhiên nhìn không thấy vạn tượng vũ trụ, lại huống hồ gì nói đến biết vạn tượng vũ trụ.

Luật nhân quả, là sự chứng ngộ đặc biệt của Ðức Phật, là phép tắc sinh diệt vạn tượng thế gian. Nói một cách khác, đây mới là chân lý vĩnh viễn bất biến, bất luận tin Phật cũng tốt, không tin Phật cũng tốt, nói chung không có người nào có thể chạy thoát khỏi phép tắc phạm trù nhân quả. Ðói cần phải ăn, buồn ngủ cần phải ngủ, nhất cử nhất động của chúng ta, không có một kiểu nào không là sự hiển bày của nhân quả; riêng khác chỉ ở người tin Phật, hiểu rõ nhân quả, tin tưởng nhân quả, không dám vọng làm hành vi hồ đồ, sợ gặp khổ báo; người không tin Phật, không tin hiểu nhân quả, càng không thể nói hiểu rõ nhân quả được, kém cỏi thì nên nghĩ lại một chút mới được.

Theo lý mà nói, làm một người đệ tử của Phật, nên phải tất nhiên quan hệ của nhân quả đều phải hiểu rõ, nhân là cái gì, lại thêm duyên là cái gì, tất nhiên sẽ chiêu đến quả là cái gì, khoảng giữa này, tuyệt đối không có mảy mún khả năng cầu may, không có một chút sai lầm, tuyệt đối công bình. Cho nên ở trong pháp nhân quả căn bản không có các từ vựng kỳ tích, xảo họp, ngẫu nhiên, ngoại lệ... Phàm sự việc có nhân trước, chắc chắn có nhân trước mới có quả sau.

“Thiện ác đáo đầu chung hữu báo, chỉ tranh lai tảo dữ lai trì”, “Nhược hữu bất báo, thời thần vị đáo”... những câu nói này, không những là bốn chúng đệ tử trong cửa Phật, không người nào chẳng hiểu, ai ai cũng có thể biết, tức là tất cả những nhân sĩ trong xã hội, không được nghe nói, sợ rằng cũng không tìm ra mấy người, thật là đáng tiếc; Người thật có thể tin sâu xa không nghi, ngược lại không gặp nhiều; đệ tử của Phật nếu không thể tin sâu, cũng nói là chưa được.

Kinh Phật nói rằng: “Nhược vấn tiền thế nhân, kim sanh thọ giả thị; nhược vấn lai thế quả, kim sanh tác giả thị” (Nếu muốn biết nhân đời trước, thì hãy nhìn kết quả lãnh thọ đời này; nếu muốn biết kết quả đời sau, hãy nhìn nhân đời nầy làm ra). Nếu như chí thành học Phật tu hành, tin sâu báo ứng nhân quả, đích xác là chút mảy không sai. Như vậy chịu ở trên cái nhân mà dụng công, nếu chỉ ở trên cái quả mà so tính được mất, không biết cầu quả vui thì chắc chắn trước tiên phải trồng nhân lành, nhân ác chắc chắn chiêu lấy quả ác, đây là nhân quả vững chắc. Ðời sống này nghèo cùng nhiều tai nạn là khổ báo của đời trước đã làm ác, báo ứng qua rồi mới được báo lành; Người ta giàu có vinh hoa, hồ đồ làm hành vi sai trái, nhưng ngược lại trăm việc hanh thông, đó là người ta đời trước làm thiện, đời này hưởng phước, đợi phước hết rồi thì phải chịu khổ báo. Nếu nhơn theo sự sai khiến của tham tâm và tư tâm, rốt cuộc quên mất đạo lý này, cưỡng cầu vọng làm, nhân ác từng niệm, việc làm cũng là nhân ác, ngược lại hy vọng kết quả tốt đẹp, khác nào ngược đường mà chạy. Không tin! Nếu ở dưới tòa sen của đức Phật, mắt lạnh bàng quan, chỉ là lợi dụng Phật pháp dối đời trộm danh, rộng thu lấy tiếng tăm lợi dưỡng một mình, ham muốn vui say hưởng dụng, tàn cuộc mấy người tốt đẹp, vả lại phần nhiều là hoa Ðàm một khi xuất hiện, theo đó thân bại danh liệt, khổ nạn thật sự, sợ sệt mà còn chẳng chịu dừng lại từ đây ư?

Chúng ta quy y tam bảo, học pháp xuất thế, xưa nay là vì việc lớn sanh tử, vì sao vẫn vậy ở trên danh, lợi, sắc, miếng ăn của thế tục làm kế sống? Phóng túng tham, sân, si mà tạo các ác nghiệp? Như chân chánh quy y tam bảo, thành tâm học Phật, có chí nơi đạo nghiệp, tin sâu nhân quả, cố siêng tự tu, ngàn vạn chẳng thể chịu người khinh gạt, tuỳ hỉ nơi nghiệp ác. Trên việc nhân quả, quyết không thiên tư, cũng không được chống đối. Cho nên đã là đệ tử Phật, phàm có sự thi vi, thì nhất định cần nghĩ đến hậu quả, mới có thể bắt tay, việc tự lợi lợi tha có thể nói có thể làm, đối với người có lợi, đối với mình không tổn, cũng nên làm nhiều; việc mà tổn người lợi mình, quyết không được làm, việc tổn người mà không lợi mình càng không được làm. Nguyện đệ tử của Phật chúng ta đều có thể tin sâu nhân quả, cầu Bồ Ðề được Bồ Ðề.

Ðức Phật chỉ bày luật nhân quả, chủ yếu nhất là muốn chúng ta không được tạo các nghiệp ác, để khỏi phải thọ báo khổ trong tương lai, quả báo đã đến đối mặt, thì nên ngộ rõ là cái ác tạo tác đời trước đã đến, thản nhiên mà tiếp nhận, trả lại nợ nần; như con cái bất hiếu, gia đình không hòa, sự nghiệp chẳng thuận, quan hệ ác liệt của con người, phá tài sản, sinh bệnh, thủ thuật dao cắt... tức là trả lại nợ nần.

Nếu đọc xem kinh luận, có thể đưa ra “Phật nói báo ứng luân hồi năm con đường phước”, hay “Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát bổn nguyện” xin đọc tụng vài quyển, chắc chắn biết được tu hành phước huệ ra sao.

Tuy mọi người đều biết quan hệ nhân quả, nhưng người có thể khởi quán tu nhân lại rất là ít, người nhờ vào sự xung động làm việc chiếm đa số, hai chữ “nhân quả” chỉ là “hai chữ” thế thôi, căn bản phát không ra sức, khởi không được tác dụng, không thể dùng sức nhân quả để khống chế ý thức chính mình, lúc trạng thái tình huống đến, điều thứ nhất nổi lên ở trong tâm không phải là nhân quả, mà là riêng tư và cừu hận... những tình tự xung động này, ngay những tánh tình thiêu đốt này sau khi phát tác xong, từ ký ức sâu xa “nhân quả” mới từ từ tỉnh lại, cuối cùng phát hiện ra tính nghiêm trọng của sự tình, nhiên hậu trở lại thu gom hậu quả tàn phá, lý do, mọi người không phải là không hiểu được đạo lý nhân quả, chỉ là không chịu tu hành, chỉ dừng lại ở giai đoạn “biết”, mà thường thường sức biết thì mười phần đơn lẻ mỏng manh, chống lại không được sự xung động của dục vọng. Bình thường người ta rất chiếu cố các niệm đầu: tham - sân - si, một khi có trạng huống phát sinh, thì trước tiên ở trong gân não lựa chọn một cái gì đó đối phó trạng huống, căn bản không muốn ý được yên tĩnh, khiến tham - sân - si từ trong niệm đầu trượt qua, mà đem nhân quả dừng lại dùng nhân quả quán sát, khiến “cái nhìn nhân quả” thành là một món lực lượng, kiểu này mới có thể ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi con người, lấy luật nhân quả làm một loại nhân sinh quan, ở trong một nhân sinh quan này, làm người xử việc, mà bất tất khiến tâm linh đối với sự bất an đợi chờ phán xét, tâm tình cũng mở sáng không được, theo thời gian sợ hãi mãi Thần minh ba thước trên trời và phán quan địa ngục đến dẫn người. Do đây, cần làm tốt công tác “dự phòng”, cũng cần có thể trước tiên hiểu rõ nhân quả biện biệt thị phi, mà làm cương lãnh cần thiết của tu trì; Tóm lại: 1. – Biết tin nhân quả. 2. – Ở trong sinh hoạt thường ngày khởi lên quán sát nhân quả. 3. – Sau khi quán chiếu thì cần nỗ lực khống chế xung động, khiến “nhân quả” thành là lực lượng, có lực lượng mới tu thành “nhân quả quán” được.

Một người hiểu rõ được nhân quả, gặp việc trước nhất biết được kết quả sau khi phạm sai lầm, sẽ hại, sợ chuốc lấy việc xử lý của pháp luật, cho nên sẽ kiểm thúc hành vi chính mình, kiểu này cũng giống như phương pháp phòng bệnh của y học. Nhưng ngược lại có rất nhiều người biết rõ hậu quả của sai lầm, họ kiềm chế chưa được xung động của chính mình mà nung nấu ra đại họa, thậm chí mất đi sinh mạng quý báu, khó bảo rằng chính họ có quý tiếc sinh mạng hay không?

Kỳ thật, “nhân quả” chỉ là một quan niệm, đã được tri thức giáo dục đưa ra, không nhất định là cái năng lực; không có năng lực thì không có khả năng cùng với hành vi đối kháng xen nhau, động lực của hành vi vĩnh viễn mạnh hơn tri thức chính mình, như thế, họ vẫn sẽ “trang điểm” cái nhìn nhân quả và đạo đức đầy đầu mà đi phạm sai lầm, vì “cái nhìn” của họ trọn không có “lực nhìn”, chẳng giống tập tánh bản thân: tâm tham, cừu hận... cũng có một món năng lực, cái năng lực này là từ nhỏ đã bị nuôi nấng mà ra, mỗi ngày đều dùng đến, mỗi lúc đều nghĩ đến, nên nói rằng họ có thể nào mà chẳng phát sinh ra năng lực to lớn? Cũng vậy, chúng ta cần đem quan niệm nhân quả hoặc đạo đức làm thành một cái năng lực, có thể nói trực tiếp đem ra khắc phục hành vi, cũng như vậy mỗi ngày làm, mỗi lúc nghĩ, ở trong cuộc sống tuỳ thời khởi quán để quán sát con người và sự việc, sau khi quán lâu rồi, sự quán sát đó cũng sẽ phát sinh ra năng lực chỉ huy hành vi; Chú ý! Không nên một mạch dừng lại ở nơi “quán” mà chẳng chịu “hành”, cần phải vừa quán vừa hành; mới bắt đầu tất nhiên quán nhiều mà hành ít, hoặc là một mặt thì quán còn một mặt vẫn phạm sai lầm, (lúc này nên phối hợp tu sám hối), nhưng chỉ cần kiên định ý chí không sợ khó, thì có thể khiến sự quán lần hồi mạnh hơn sự xung động của tham sân si, nhiên hậu phát sinh ra cái gọi là “chánh quán lực”; lúc này chỉ cần niệm loé lên, cũng sẽ có luật nhân quả ở trong tâm mạnh mẽ chuyển vận, hành vi sở hữu của anh đều tiếp nhận lấy lề lối của nhân quả như thế thì tính ra làm việc xấu cũng rất khó.

Bất cứ người nào cũng biết đạo lý: thiện có báo thiện, ác có báo ác, nhưng ở trên thế giới này vẫn có rất nhiều người không thể khống chế hành vi chính mình, tạo ác hoặc làm thiện thường thường không phép tắc mà cứ theo tâm ham muốn; trong tâm tuy nghĩ là phải làm thiện, mà trên thực tế hai chân ngược lại, thường thường không nghe sai khiến, đổi chỗ chạy đi tới nơi không đáng đi mà tạo ra ác nghiệp, đợi đến lúc lương tri thức tỉnh, mới phát hiện tự mình căn bản không có năng lực để gánh vác tất cả những ác quả này, giống như có một luồng khói sương vô hình ngăn cản con đường trước mặt, sau đó là một đôi tay vô hình, dẫn người mê hoặc đi đến tuyệt lộ; luồng khói sương này là “nghiệp lực” của chúng ta, mà đôi tay vô hình đó cũng tức là năng lực của nhân quả. Nếu như chúng ta không trừ dọn sạch nghiệp lực trước mắt, thì khó thấy mình bị dẫn dắt đến loại cảnh giới nào? Cho nên chúng ta cần xử lý nhân quả về trước của mình, thì trước tiên nên nỗ lực chuyển đổi nghiệp lực của chính mình, trừ dọn sạch khói sương trước mắt; sáng tạo thiện duyên thiện nhân mới, cải thiện quả báo bất lương, đem việc tổn thương tai hại mà đè bẹp đến mức tối thiểu.

Nghiệp lực của con người đương nhiên cũng là cái nguồn nhân quả đã tạo ở đời trước, nhân quả thiện khiến người được nghiệp lực thiện đi chế tạo quang minh và thánh khiết của đời người; mà nhân quả ác thì chứa đựng sự xung động chúng ta không thể khắc chế, khiến lý trí và lương tri của ta, trong sự xung động, bị che đậy mà mang đến khổ đau và tổn thương. Phật pháp tuy vô biên, ở trước nghiệp lực của con người, hãy còn một cái hạn chế không thể nhảy vượt. Cho nên có rất nhiều bạn bè học Phật, tuy học đầy kinh luận, tuy vào cửa bái thầy tập thiền định, nhưng chỉ cần nghiệp lực một ngày không chuyển biến, thì Phật pháp cũng chẳng thể xuyên thấu nghiệp lực của chúng ta mà khai ngộ minh tánh. Cho nên nghiệp lực tuy đáng sợ nhưng chỉ cần công phu chuyển đổi làm tốt rồi, ác nghiệp cũng có thể lập tức bị đóng chặt ở chỗ sâu xa của tâm linh, khiến nó không thể khởi ra hiện hạnh, mà nhường cho nghiệp thiện đến làm chủ, như thế chúng ta xem đầy bao nhiêu là kinh luận, khiến cho chính mình có thể “chớ nên làm các ác, các điều thiện vưng làm, tự tịnh nơi tâm ý”, một mấu chốt tức là cần niệm nhiều: Nam mô A Di Ðà Phật! Nhờ Phật lực ép chế nghiệp lực, niệm Phật càng nhiều, lực niệm Phật càng lớn, lực niệm Phật càng lớn thì nghiệp lực càng thu nhỏ cho tới không còn; nghiệp lực bị ép chế rồi không thể phát sinh tác dụng, tu hành sẽ không có nghiệp lực trở ngại, đồng thời ác niệm một khi khởi lên thì biết, bèn quở trách mà chẳng thể tạo ác nghiệp. Niệm Phật đến khi trong tâm có Phật, lúc miệng chẳng niệm tâm vẫn ở tại niệm, chẳng niệm mà tự niệm, Phật chẳng rời tâm, tâm không rời Phật, ác niệm không từ chỗ nào mà sinh khởi.

Người biết (tin) nhân quả chẳng ước ao, càng không thể oán trách người.

Quả thiện ác ở trong khoảng nhất niệm.

Ðức Phật chỉ bày nhân quả, điều rất chủ yếu là muốn chúng ta phàm phu không tạo các ác nghiệp, để tương lai khỏi chịu báo khổ, lúc khổ báo đã đến đối mặt, thì đầu tiên nên liễu ngộ là việc làm ác ngày trước đã đến, mà thảng nhiên tiếp nhận, trả lại nợ nần, như là con cái bất hiếu, gia đình bất hòa, sự nghiệp chẳng thuận, quan hệ con người ác liệt, phá tài, sinh bệnh, uống thuốc đắng, thủ thuật đao cắt... đều là các phương thức trả lại nợ nần.

Như thế làm ác, hành thiện được báo ứng gì? Thế giới ta bà chia ra sáu đường, tức là: trời, A ta la, người, súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.

Cõi trời hưởng phước, thọ mạng cũng dài; A tu la phước báo giống như trời, nhưng có tâm sân; loài người có nghèo, giàu, khổ, vui... nói chung khổ nhiều vui ít; súc sinh thì là khổ, chúng ta đều thấy đó, trở xuống một đường khổ hơn một đường.

Hành thiện hợp với đạo trời, sanh vào cõi trời hưởng phước, phước báo hưởng hết rồi, đoạ lạc vào cõi người hoặc súc sinh, hành thiện hợp với nhân đạo lại chuyển sinh làm người, sinh nhà giàu có; làm ác hợp với nhân đạo, sinh nhà nghèo cùng hoặc thấp hèn chướng nạn thọ khổ; hợp với súc sinh đạo thì đoạ lạc làm súc sinh thọ khổ. Trở xuống các loài nên xét biết.

Như thế, thế nào là ác? thế nào là thiện?

Ác là phàm tư tưởng, ngôn ngữ hay hành vi của tất cả chúng sinh tổn hại, trái với luân lý đạo đức, lương tâm, trái lại với pháp luật quốc gia... đều là ác; trái với mười nghiệp thiện tức là ác.

Kinh Vô Lượng Thọ, Phật nói thế nào là năm điều ác?

·                  ­       Một là loại nhân dân manh động của chư thiên, muốn làm các ác, chẳng lúc nào chẳng làm như vậy. Kẻ mạnh hiếp yếu, xoay vần đánh nhau, tàn hại giết chóc, đắp đổi cắn nuốt nhau, không biết tu thiện, ác nghịch vô đạo. Sau chịu lấy tội ương tự nhiên đưa đến. Thần minh nhớ biết người phạm không tha thứ. Cho nên có việc: nghèo cùng hạ tiện, ăn xin cô độc, đui điếc ngọng câm, ngu si tệ ác, cho đến lúc luống cuống chậm chạp. Lại có kẻ tôn quý giàu có, tiền của thành đạt, đều là do đời trước từ hiếu, tu thiện tích đức dẫn đến.

·                  ­       Hai là nhân dân thế gian, cha con anh em, nhà cửa chồng vợ, đều không nghĩa lý, không thuận khuôn phép, ham muốn quá đỗi, kiêu căng buông tuồng, đều ưa khoái ý. Mặc tâm tự lung càng dối gạt nhau. Miệng và tâm đều khác, lời nói và suy nghĩ không thật. Nịnh xiểm không trung, xảo ngôn dối lừa. Ghét hiền chê thiện, hãm hại oán cuồng. Vua trên không minh. Mặc dù dùng tôi: tôi dưới tự tại, dối lừa nhiều kiểu. Bước qua nên đi, phải biết hình thế. Lúc tại vị không chánh dễ bị dối gạt, vọng làm tổn hại kẻ trung lương chẳng đúng với lòng trời. Tôi dối vua, con dối cha, anh em vợ chồng, kẻ tri thức trong ngoài lại dối gạt lẫn nhau. Ôm lòng tham dục, sân nhuế ngu si. Muốn vun vén chính mình, muốn tham có nhiều. Sang - hèn - trên - dưới tâm đều đồng vậy. Phá nhà mất mạng, không nhìn trước sau. Thân thuộc nội ngoại, ngồi đó mất dòng họ. Hoặc lúc nhà cửa tri thức, bè làng bạn chợ, dân ngu người quê, cùng theo việc họ. Lại lợi hại với nhau, giận thành oán kết. Kẻ giàu có thì lẫn tiếc, không chịu bố thí, ôm giữ tham lam, nhọc tâm khổ thân. Như vậy rốt cuộc, không chỗ cậy nhờ, riêng đến riêng đi, không mộ ai theo, thiện ác họa phước, tìm chỗ sinh ra mạng, hoặc ở chỗ vui, hoặc vào chỗ khổ độc, nhiên hậu sám hối làm sao cho kịp.

·                  ­       Ba là nhân dân thế gian nhân với nhau mà sống gởi, cùng ở trong khoảng trời đất. Năm tháng trôi đi thọ mạng không bao nhiêu. Trên có những bậc hiền minh, trưởng giả, tôn quý, giàu có; dưới có những người nghèo cùng, hà tiện, yếu kém, ngu si; giữa có những kẻ bất thiện, thường ôm lòng tà ác, chỉ nghĩ ham muốn nhẫy đầy, phiền chật trong lòng, ái dục loạn xạ, ngồi đứng chẳng yên, ý tham giữ tiếc, chỉ muốn được khống. Trông liếc sắc mịn, trạng thái tà vạy, biểu hiện ra ngoài, vợ mình nhàm ghét, riêng vọng ra ngoài, phí tổn của nhà, việc làm phi pháp. Giao kết tụ tập, khởi binh đánh nhau, đánh đập giết hại, cưỡng đoạt không đạo lý. Tâm ác ở ngoài, chẳng chịu tu nghiệp. Trộm cắp cho được, ham muốn phải làm cho thành việc. Sợ thế lực ép sát bên hông, quy cho vợ con, thích tâm khoái ý, cố sức làm vui. Hoặc đối với thân thuộc, không kiêng dè tôn ti. Trong ngoài nhà cửa, hoạn nạn khổ sở, cũng lại không sợ phép vua lệnh cấm.

·                  ­       Bốn là nhân dân thế gian không nghĩ tu thiện; chuyển dạy kéo nhau cùng làm các việc ác: nói hai chiều, nói ác, nói nịnh hót, chiều uốn. Nói gièm sinh giặc đấu tranh lộn xộn, ganh ghét người lành, bại hoại người hiền, đứng một bên thích thú. Bất hiếu song thân, khinh mạn sư trưởng, bạn bè không tin, khó đựơc sự thành thật. Khi tôn quý thì tự cho mình lớn, tự cho mình có đạo. Hoành hành uy thế, xâm lấn đối với người. Chẳng thể tự biết làm ác mà không hổ thẹn. Tự lấy sự mạnh mẽ muốn người kính sợ. Không sợ trời đất thần minh nhật nguyệt, không chịu làm lành, khó có thể giáo hóa. Thi nhau nằm ngửa tự dụng, có thể cho là bình thường, không có lo sợ, thường ôm lòng kiêu mạn.

·                  ­       Năm là nhân dân trong thế gian luống ỷ lại lười nhát, không chịu làm thiện sửa thân tu nghiệp; nhà cửa quyến thuộc đói lạnh khốn khổ, cha mẹ dạy răn trừng mắt giận dữ, lời nói bất hòa trái lệ ngược lại, thí như oan gia, chẳng bằng như không con; giữ lấy sự vô phép, đều là các hoạn nhàm chán; phụ ơn trái nghĩa, không có tâm đáp trả. Nghèo cùng thiếu thốn không thể được lại, lỗi lầm mặc tình đoạt lấy, buông tuồng trôi xuôi tản mất. Kể suốt chẳng được gì, dùng của giúp cho, mê rượu ham đẹp, ăn uống không độ lượng, tâm buông lung phóng đãng, đần độn theo sau, chống cự xúc phạm; không hiểu nhân tình cưỡng muốn ức chế. Thấy người có điều tốt thì ghen ghét xấu xa, vô lễ vô nghĩa không chịu hỏi han, tự cho là biết, không chịu hỏi rõ. Lục thân quyến thuộc giúp hay không chẳng buồn nghĩ đến. Chẳng nhớ ơn cha mẹ, chẳng giữ nghĩa thầy bạn. Tâm thường nghĩ ác, miệng thường nói ác, thân thường làm ác, không từng có một điều thiện; không tin Kinh Pháp chư Phật, chư Thánh; không tin làm đạo có thể độ đời được, không tin chết rồi Thần minh lại sinh, không tin làm thiện được thiện làm ác được ác; muốn giết người chơn, đấu loạn chúng tăng, muốn hại cha mẹ anh em quyến thuộc. Lục thân ghét nhơ mong muốn cho nó chết. Người đời tâm ý đều như vậy, ngu si mông muội mà tự cho là trí tuệ, không biết chỗ từ đâu sinh đến, chết sẽ về đâu, rồi cũng sẽ phải chết.

Thế nào là thiện? Tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi, làm việc đều hợp với luân lý đạo đức pháp luật quốc gia không tổn hại đến tất cả chúng sinh, tâm giữ công chánh ưa giúp con người, làm tức là thiện của mười thiện nghiệp.

Kinh Vô Lượng Thọ Ðức Phật nói rằng: “... Một ngày một đêm chánh tâm chánh ý, trai giới thanh tịnh, thì hơn ở nước Vô Lượng Thọ làm thiện một trăm năm. Lý do vì sao? Vì cõi nước Phật kia đều toàn các điều thiện, không có mảy may ác. Ở cõi này tu thiện mười ngày mười đêm, thì hơn trong nước chư Phật phương khác làm thiện ngàn năm. Lý do vì sao? Nước Phật phương khác người làm thiện rất nhiều, người làm ác rất ít, phước đức tự nhiên không tạo nhân địa ác. Chỉ ở cõi này ác nhiều, không có tự nhiên, khổ nhọc cầu muốn lại dối ngờ nhau, tâm thân mỏi mệt, uống đắng ăn độc, những việc dữ ác như vậy chưa từng dừng dứt. Nhất tâm chế phục ý, thẳng thân chính niệm, lời nói và việc làm hợp nhau, việc làm chí thành, chỗ nói như lời, tâm và miệng không chuyển đổi, riêng làm các việc lành, không làm các việc ác, đó là món thiện lớn vậy.”

Chúng ta muốn lìa tai khổ nạn, được phước bình an cát tường, thì ngoài việc không làm “ác” ra, phải cần làm “thiện” cho nhiều.

Sáu đường luân hồi là chính chúng ta tạo ra vậy. Nhân nơi mê hoặc mà tạo ra nghiệp, tạo nghiệp rồi chắc chắn phải thọ báo; quả báo thiện ác mảy may không sai. Như muốn vượt khỏi sáu đường luân hồi, thì chẳng nên tạo nghiệp. Không tạo nghiệp rất khó, mà không mê hoặc lại càng khó hơn. Dứt hết hoàn toàn mới có thể ra khỏi ba cõi, vấn đề này không phải một đời mà có thể làm được. Nếu muốn được phước báo nhân thiên thì so ra dễ, Thánh Hiền của thế gian và các tôn giáo đều có thể khiến người làm được; nhưng ra khỏi luân hồi thì người thế gian làm không xong được.

Nhân quả báo ứng bèn là chân tướng của sự thật, như làm rõ sự thật này thì tâm an được ở lý, chẳng oán trời trách người vì tâm đã an rồi. Tâm an thì là định, định có khả năng sinh huệ, từ đây bỏ ác mà hướng thiện, sửa đổi cho vị lai.

8. SÁM HỐI

Tu hành là sửa đổi cho chính hành vi không hợp lý của chúng ta, cũng cần phải trước tiên tìm cho ra nguyên nhân lý do có những hành vi này ở đâu? Ngoài “vô minh” ra, tức là do “tập khí”. Như vậy, chủ yếu của tu hành là ở việc bỏ trừ tập khí. Có thể đem tập khí xấu xa mà sửa đổi, thân - miệng - ý của chúng ta cũng chẳng thể lại có tư tưởng lời nói và hành vi không hợp lý; Cũng vậy, cần phải trừ bỏ tập khí, quyết cần phải biết là nguyên nhân nào dẫn đến cho chúng ta có tập khí xấu xa này? Tìm ra nguyên nhân để rồi tiêu trừ nguyên nhân, nhiên hậu mới có thể dọn trừ được rễ dây dưa của tập khí. Thế này cần phải nương vào công phu “phản tỉnh” và “sám hối”. Phản tỉnh là công việc trước tiên của tu hành, Sám hối là đã tu hành, không có công phu phản tỉnh làm sao biết hành vi của chúng ta không đúng ư? Không có sám hối (sám lỗi trước, hối lỗi sau chẳng làm) làm sao có thể trừ bỏ tập khí? Chúng ta đã biết rằng mục đích của tu hành là cần phải thân - miệng - ý  đều không ác, thế này cần phải phản tỉnh, từng lúc phải “hồi quang phản chiếu” (coi lại chính mình), mới có thể phát hiện cái xấu ác, nhưng chỉ phát hiện thôi cũng chưa đủ, quyết cần phải dừng lại tiêu diệt nó, cho nên phản tỉnh và sám hối cùng là trọng yếu.

Như thế nào là phản tỉnh và sám hối? Phản tỉnh là hỏi lại và tự xét, rõ biết chính mình trong quá khứ đã tạo việc ác gì, nhiên hậu đem việc ác bày tỏ ra sám hối. Sám hối cũng tức là nhận lỗi lầm, biết được các việc về trước làm là không đúng, ta cần sửa lỗi, nhiên hậu không nên làm như thế nữa. Trên phương diện sửa đổi, lại cần phải chú ý vấn đề tập khí, những hành vi từ lâu cũng có thể nuôi dưỡng thành thói quen, thói quen đã nuôi dưỡng thành, thường thường không dễ gì một ngày bèn có thể sửa đổi chân chánh được, do đó, lúc tu tập sám hối, sửa đổi lỗi lầm, cần có tâm nhẫn nại và thường xuyên, không thể vì thất bại một hai lần mà nản tâm, thối chí. Người đời nói rằng: “trường thành vạn dặm không phải là xây một ngày xong”, có thể nào nhân thất bại một hai lần mà nản lòng thối chí sao! Song ngược lại đây chính là tâm bệnh của con người, cũng có thể nói là nguyên nhân vốn có của chúng sinh ở mãi nơi luân hồi, không thể giải thoát. Do đó, Cổ Ðức vì muốn ngừa trị nhược điểm này của phàm phu, lại nói sám hối quyết cần có tâm hổ thẹn. Vì cho rằng ta sinh ra là con người “vạn vật chi linh” (khí tinh anh của muôn vật) rốt cuộc sẽ tạo ra ác nghiệp không đúng đối với người khác, cũng như đối với chính mình, khó mà hiểu biết được, hổ thẹn không? Có thể nào chẳng sám hối? Từ trong tâm thường sinh hổ thẹn (tàm quý tâm), và sợ cái khổ sinh tử. Như vậy mới có thể giữ gìn tâm nhẫn nại và thường xuyên, không dứt sám hối, cho đến khi tội được diệt nghiệp được dừng.

Con người chẳng phải là thánh hiền, khó khỏi không lỗi lầm, lỗi lớn không có - lỗi nhỏ khó tránh khỏi, trong sự vô ý làm ra, chính mình còn không biết, sau đó không lâu xét lại mới biết là mình phạm sai lầm, có sai lầm thì cần phải sám hối sửa đổi.

Con người thường hay phạm sai lầm mà không tự biết; Nhưng người hiền chân chánh, phạm sai lầm mà biết sai lầm đó, tiến tới một cách mạnh mẽ việc nhận sai lầm mà sửa lỗi mình. Có thể thấy con người phạm sai lầm là điều thường tình, quý là ở chỗ có thể sửa đổi, đó là dũng khí đáng mừng khen! Nếu lầm lỗi mà không tự biết đó là kẻ ngu mê chìm đắm đáng thương xót! Nhưng có người ngược lại, biết rõ sai lầm mà vì các việc mượn cớ lót miệng, hoặc nhân tốt đẹp cho mưu đồ yểm hộ chính mình, xô đẩy trách nhiệm đến người khác, hãy còn mưu toan lời lẽ giảo quyệt, tự tha thứ việc đã sai lầm bèn khó tránh khỏi, đây thuộc về tội ác, không đủ làm phép tắc.

Chúng ta đã biết nhân quả “thiện có báo thiện, ác có báo ác”, nhưng vì có lợi ích tự thân, tập tánh ghét yêu chứa nhóm khiến như vậy, nên còn tạo các nghiệp ác. Nếu đã làm các nghiệp ác mà không biết sám hối, thì một lần lầm lỗi lại một lần càng lầm lỗi, cho nên đã làm ác thì phải sám hối cải chánh.

Sám hối, “sám” là sám lỗi ngày trước, đối với tội nghiệp đã phạm, sanh tâm “đại tàm quý” (hổ thẹn nhiều). “Hối” là sửa đổi quá khứ, tu chỉnh vị lai, lập định dứt khoát chú ý, sửa lỗi tự được mới mẻ, chẳng tái phạm. Sám, nếu có lỗi lầm, cầu xin đối phương rộng thứ bỏ qua, đây là bổn ý của “sám”. Hối tức là đã phạm sai lầm, nên nhận lỗi với đối phương, và nói ra sai lầm đã phạm, đây là bổn ý của “hối”.

Sám hối như trừ bỏ đồ nhơ, có thể trừ bỏ bụi nhơ tội ác trong tâm chúng ta. Chỉ cần tâm sinh niệm sám hối, tội sẽ không trở lại làm tội. Nếu như chẳng chịu nhận lấy sai lầm mà sửa đổi, thì tội nghiệp vĩnh viễn thêm lên ở nơi thân, như bóng theo hình. Sám hối chỉ là làm kiểu mà thôi, không có ý sám hối, cũng không có lòng hồi tâm hướng thiện, tâm kia không ở yên, sau lại làm theo việc ác, làm sao có thể tiêu trừ tội nghiệp!

Người tu hành quyết cần phải từng lúc phản tỉnh lời nói việc làm, ý niệm của mình, để cầu không hổ với mình, không thẹn với người. Nếu không có tâm tàm quý, lời nói việc làm đối với mình không gánh vác nổi, thì tâm này đầy đủ tội ác. Thường ôm lòng phản tỉnh tàm quý, mới có thể hiếu thuận cha mẹ, tôn kính sư trưởng, giữ gìn hòa vui trong anh chị em, hoà khí với bạn bè và mọi người.

Nếu chúng ta không sám hối, như thế tội nghiệp của chúng ta tạo tác, sẽ khiến chúng ta đoạ lạc, không biết chừng nào mới hết, mà chẳng biết dừng lại. Tất cả tội ác đều do vô minh vọng tưởng mà sinh ra; nếu có tâm sám hối thường xuyên niệm Phật trong sự tĩnh toạ thì tội nghiệp vốn có giống như sương bị mặt trời trí tuệ tiêu tan, khả năng hối cải quay về làm thiện như ánh sáng chiếu phá ở nơi thế giới tối tăm. Sám hối không nhất định vì lỗi hiện có của mình, cũng là vì đời quá khứ mà sám hối, đồng thời cũng vì tất cả chúng sinh mà sám hối!

“Sám hối” - Nghiệp chướng là việc mà con người vốn có đều có. Con người khởi tâm động niệm thì là tạo nghiệp, nhất định phải sinh ra chướng ngại. Chướng thế nào ư? Là ngăn che bản tánh của chúng ta. Ở trong bản tánh chân thật của chúng ta, có trí tuệ vô lượng, công đức vô lượng; hiện tại trí tuệ, khả năng công đức không thể khởi tác dụng. Nguyên nhân tại sao? Cũng là có chướng ngại. Vọng tưởng, chấp trước cũng gọi là chướng ngại.

Sám hối – Dọn trừ nghiệp chướng đến nay chẳng được, sao lại dám hưởng thụ danh lợi, tiền của, ăn uống, nam nữ... những việc thế gian tham ái ư? Lại tạo ra ương họa mới! “Pháp chỉ” ở trên hội Linh Sơn của Ðức Phật: “Sám hối nghiệp chướng, tin sâu nhân quả, tu trì phước huệ, là phương thuốc thần diệu trị được vạn bệnh”. Sám hối có thể khiến chúng ta trong lúc tu hành trừ dứt nghiệp chướng.

Sinh mạng của chúng sinh là thông nơi ba đời, do sinh mạng đời quá khứ đã tạo nghiệp, cảm báo mà có sinh mạng đời này, đã vậy có đời quá khứ, đời quá khứ cũng đã tạo nghiệp. Như đây, nghiệp đời trước đã tạo, tự nhiên cũng nên sám hối thôi. Bởi phàm phu chúng ta không có “túc mạng thông”, không có cách nào biết chính mình ở đời quá khứ tạo những nghiệp ác gì, không chịu sám hối. Chỉ là đời này, đến trước mắt là dừng, các nghiệp ác đã được tạo ra đã qua, ngược lại có thể tìm biết, cũng tức là biết các ác nghiệp tự mình đã tạo, như vậy thì dễ dàng thêm cho việc sám hối.

Nếu còn có những ác nghiệp nhỏ nhặt chưa sám hối, ngay lúc nó hiện khởi ở trong tâm, thì có thể khiến tâm cảm thấy bất an mà chướng ngại cho việc tu hành. Do đó, một người trước khi phát tâm tu hành, ngoại trừ quả báo có thể thấy và sám hối nghiệp tội đời trước ra, cần phải thường thường phản tỉnh rằng: “đời này từ lúc nhỏ thẳng đến ngày nay, tạo ra những ác nghiệp gì? Phàm nhớ lại một vấn đề nào khiến tâm cảm thấy hành vi đó bất an, thẹn xấu xa lâu ngày, lại là ác nghiệp, đều quyết cần phải phát lồ ra sám hối, quyết cần phải sám hối đến khi trong tâm thật bình yên thanh khiết, mới nói là nghiệp tội tiêu mất.

Sau khi đã nói qua nghiệp tội đã nói ở trước, nội tâm lại có thể thanh tịnh, yên ổn, như vậy tu hành, thì không thể lại có nghiệp chướng đến tìm; do đây quyết cần phải cố gắng, giữ gìn cho được sinh mạng sám hối thuần khiết quá khứ này, không có thể khiến nó trở lại cảm nhiễm thói ác, để khỏi trở lại tạo các ác nghiệp. Giữ gìn như thế nào? Trước cần phải đối với tất cả các việc thiện, bất luận là mắt thấy hoặc tai nghe, trong tâm đều phải sanh lòng tuỳ hỉ; đối với việc ác, ngược lại phải ghét như thù oán, tốt nhất là đem tâm an trụ ở nơi “tứ chánh cần”; Tứ chánh cần là:

1.        Ác đã sinh, khiến đoạn diệt.

2.        Ác chưa sinh, khiến không sinh.

3.        Thiện chưa sinh, khiến sinh khởi.

4.        Thiện đã sinh, khiến tăng trưởng.

Bốn việc cần thiết chân chánh này tức là đạo lý “các ác chớ làm, các thiện nên làm” (chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành), chúng ta lấy trí tuệ để quán sát, chính là khéo tinh tấn siêng năng tu hành ba học: giới - định - huệ, trừ diệt ba độc: tham - sân - si; đem bốn việc cần thiết chân chánh làm pháp môn trợ đạo để siêng tu khổ luyện, dứt ác sinh thiện.

“Luật nhân quả” nên cùng với “sám hối” một lúc tu hành, càng giúp cho nỗi đau của tâm linh sau khi phạm sai lầm. “Sám hối” không nên dùng làm hành vi giao dịch, bởi vì chỉ cần giao một số tiền cho chùa viện để tham gia pháp hội, thì có thể tiêu được nghiệp tội vốn có ở trong đáy của tâm đã được giữ kín của mình sao? Tiền, không phải là vạn năng, đến pháp hội bái sám là giải quyết vấn đề tâm lý chính mình, rất thực tại là giải quyết phiền não; Thậm chí tiền đã giao, sám đã bái, vận tốt đã đến rồi, kết quả nếu ngược lại khiến người mất đi chỗ mong cầu, ở đó cũng sẽ mất đi tín tâm đối với Phật và Bồ Tát, lại chẳng gieo vào trong nguyện tu thân dưỡng tánh bằng sự nhiệt tình thiết tha.

Tác dụng của sám hối trước Phật và Bồ Tát tức là cần tìm chân tâm và thiện tâm chính ta, vả lại phải cầu mong chân chánh Phật và Bồ tát làm chứng rõ ràng, chứng minh tâm của ta là chơn vậy, thành ý gánh vác việc làm lỗi lầm của chính ta, vả lại không dẫm đạp che dấu. Việc đời này kiếp này có thể giải quyết được thì nên giải quyết, không nên trốn ở trong nhà sám hối với Phật và Bồ Tát, mà trên thật tế, người thù của anh, cứ như vậy, ở một nơi nào đó đau hận việc làm của anh; như nếu là anh rất khó làm được điểm này, thế thì ít nhất đối với người thân cận bên cạnh phải làm trước, trước sửa đổi được cá tánh, làm được một con người có ý nguyện sám hối nhận lỗi với người.

Ngay lúc nhân quả hiển bày năng lực, phương thức anh có thể làm tức là nhận tội của sự chân tâm thành ý, bình thản chân thành với việc làm tội lỗi mà sám hối hành vi của mình, cần phải phát xuất từ nội tâm, ở trước tượng Phật hoặc mặt hướng về phương tây, đem lỗi lầm đã phạm, tất cả nói ra và phát nguyện về sau không tái phạm. Không thể ban ngày tạo ác, ban đêm sám hối, cho là nghiệp tiêu, mà rốt cuộc là tạo nghiệp, mà lại sám hối không thôi.

Ngay khi anh muốn nhận lỗi, ý muốn sám hối (bất luận là lỗi lớn lỗi nhỏ) ngang bằng với việc tu “nhân quả quán”, hành mười thiện nghiệp. Cũng có thể chứng minh nhân cách Bồ Tát của anh đã đầy đủ làm việc khó làm.

Chân tâm hối cải, tâm địa tức được trong sạch, tâm chúng ta nếu không thanh tịnh, không bình đẳng, thì “giác tâm” cũng mất đi, lập tức phát khởi sám hối. Sám hối không phải là bảo người ta hàng ngày nghĩ lỗi đã làm, việc này là sai lầm, nghĩ như thế này tức là trở lại tạo tội, càng nghĩ một lần là lại tạo một lần. Lỗi lầm đã làm biết rồi, về sau không làm lại gọi là sám hối.

Cần làm tới khi nghe lỗi thì vui, trong lòng cảm tạ, cảm ơn, từ trong tâm nhận điều không đúng, chẳng phải là trên cửa miệng nhận điều không đúng, nên phải trong nội tâm sám hối; không phải nghe lỗi thì nóng lên, càng không phải nghe lỗi thì giận.

VĂN SÁM HỐI:

“Ðệ tử tên là.... (đem lỗi lầm đã phạm, tất cả nói ra), ngày trước đã tạo các ác nghiệp, đều do vô thuỷ tham - sân - si, từ thân - miệng - ý mà sinh ra, tất cả con nay đều sám hối.”

Phương thức sám hối, trước tiên cần phải sạch cái tâm, tịnh ở ý, chính ở hình, cung kính ở thân, nghiêm túc ở nơi dung mạo, tóm lại là cần cầu thân - miệng - ý thanh tịnh

CHƯƠNG I

9. NĂM GIỚI

Năm giới là giới điều rất cơ bản của bốn chúng đệ tử Phật. Không luận là xuất gia hay tại gia đều phải tuân thủ. Người tu hành “ năm giới không giữ, dứt đường nhân thiên”.

Năm giới, mười thiện nghiệp là tiêu chuẩn đạo đức nhân loại, mỗi điều giới luật đều là “chẳng làm các ác” biện chứng thống nhất “vưng làm các thiện”. Ðạo đức Phật giáo là một đường lối rất chú trọng động niệm và hiệu quả, bất luận người khác nói như thế nào và làm như thế nào đều là một lối. Ngược lại, như riêng tư, tự lợi, tạp niệm nảy sinh, thì bất luận người khác nói nhiều, đẩy đưa nhún nhường động tiếng thế nào cũng đều là giả, đây là nguyên tắc cơ bản của đạo đức Phật giáo cân lường.

Năm giới, mười thiện nghiệp của Phật giáo là cùng với luân lý xã hội và pháp luật Quốc gia gần giống nhau, cho nên vấn đề lý tánh nhân từ thuần khiết, là tập trung tinh hoa đạo đức xã hội loài người, mọi người có thể làm được năm giới, mười thiện nghiệp của Phật giáo cũng có thể đạt đến tư tưởng đẹp, hành vi hay, thế nầy quan hệ người và người cũng sẽ hoà mục và an khang. Ðạo đức Phật giáo, chủ yếu là vưng làm năm giới, mười thiện nghiệp, khiến cho hoàn thành một con người tốt lương thiện.

Năm giới là: không sát sinh - trộm cắp - không tà dâm - không nói vọng - không uống rượu.

KHÔNG SÁT SINH

Luận Ðại trí Ðộ nói: “Trong các tội nghiệp, sát nặng nhất; trong các công đức, không sát thứ nhất”. Ðộng vật bay lên trời, bơi trong nước, có bản năng sinh tồn của nó, có tự do sinh tồn của nó; Con người tại sao tự tàn sát nhau? Hoặc vì miệng thèm giết nó để ăn, tạo thành “oan oan tương báo” thời gian không thể không kết.

“Không tranh giành” thì chẳng thể sát sinh, lấy tâm bình đẳng mà đối đãi với chúng sinh thì chẳnh thể tranh giành; nếu khởi lên cái niệm ta mạnh hơn người, ta làm hơn người, ta lớn hơn người thì sát sinh cũng là nhân ở nơi tâm tranh chấp mà tác quái, một khi tranh chấp thì sẽ mày chết tao sống... chết và bị thương vô số.

KHÔNG TRỘM CẮP

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy rằng: “A Nan! lại nữa thế giới, sáu đường chúng sinh, tâm không trộm cắp, thì không nuôi lớn sự tương tục sinh tử. Ông tu Tam Muội vốn ra khỏi trần lao, tâm trộm nếu không trừ thì trần lao không thể ra. Dù có đa trí và thiền định trong hiện tiền nếu như không dứt trộm cắp, thì quyết phải rơi vào tà đạo”.

Của không cho chẳng lấy, là nói chẳng chuyên chỉ trộm cắp tài vật của người khác, tức là ở nơi tâm hành sự có loại giống như trộm cắp ấy, cũng gọi là trộm cắp: như lời nói và việc làm dối trá khác là: Phỉnh dụ mê hoặc người không biết, mong lấy lợi dưỡng, tổn người lợi mình, cậy thế lấy tiền của, dùng kế mưu của v.v...

“Không tham” thì không thể trộm cắp, vì sao phải trộm cắp tiền của người khác? Tức là do vì tham. Nếu người không có tâm tham, thì kể ra người ta cho anh, anh cũng không cần, cho nên cần phải đem tâm tham mà trừ bỏ mới không thể trộm cắp.

KHÔNG TÀ DÂM

Ðức Phật chế cho hàng đệ tử tại gia, nếu không phải là vợ chồng hợp pháp thì tuyệt đối nam nữ không thể hành dâm – chẳng dâm, là chẳng riêng chỉ hành dâm mà nói, lại còn bao quát niệm dâm khởi lên trong tâm, lời dâm ở nơi miệng nói. Vì dâm là cội rễ của vạn vật sinh tử. Người học Phật tu hành thì cần phải đoạn dứt dâm! dâm không đoạn thì Phật đạo không thành!

“Không cầu” thì chẳng thể có tâm dâm, tâm dâm dục tức là cầu cái sở hữu, nữ cầu người yêu nam, nam cầu người yêu nữ đều là cầu khác tính không chỉ rịêng cầu lại còn “truy” cầu; Giả như không cầu thì dâm thế nào?

Trong kinh Lăng Nghiêm nói “dâm” là giới đầu; Người tu hành không thể đoạn trừ tâm dâm và việc làm dâm, thì không cách nào đoạn trừ cội rể sinh tử. Nhân đây không luận người ta tinh tấn tu hành như thế nào, tuyệt đối không cách nào ra khỏi ba cõi. Dẫu người nầy khéo nói pháp yếu, có biện tài, hiện tiền thiền định hữu lậu, anh ta vẫn là qua lại với ma quỷ, không những Tam muội chân thật (định) không thể hiện tiền, ngược lại lấy trí thiền nuôi giúp tâm dâm khiến dâm tăng trưởng lẫy lừng, rốt rồi khiến mình rơi vào ma đạo. Kinh nói rằng:

“Cho nên A Nan! nếu không đoạn dâm, tu hành thiền định, như đem cát đá muốn nấu thành cơm, trải trăm nghìn kiếp, chỉ là cát nóng. Bởi vì sao vậy? Chẳng phải gốc cơm, mà là cát đá thành vậy. Ông lấy thân dâm, cầu diệu quả Phật, dù cho được ngộ, đều là rễ dâm, cội rễ thành dâm luân hồi ba đường quyết chẳng ra khỏi: Như Lai niết bàn, đường nào tu chứng? Phải khiến thân tâm, cơ dâm đều dứt, tánh dứt cũng không, Bồ đề chư Phật có thể cầu mong. Lời ta nói đây, gọi là Phật nói, không như đây nói, tức Ba tuần (Ma vương) nói”.

Trên đây là đức Phật đối với người không như pháp, không như luật mang lấy dâm mà tu hành, vốn mong tu chơn, ngược lại thành ma nghiệp, sau khi mệnh chung, ắt phải rơi thứ nhứt ma đạo mà Ngài dạy răn phải sáng suốt xét nét thanh tịnh. Bốn chúng Phật tử muốn cầu thành tựu đạo nghiệp đối với lời dạy răn của đức Phật, lý phải tin thọ phụng hành, như vậy mà tu hành.

KHÔNG NÓI VỌNG

Lời nói rỗng vọng là nói mà không có tin, không xuất phát từ hư vọng vậy. Nếu thấy nói không thấy, không thấy nói thấy: lấy hư làm thật, lấy thật làm hư: lấy có làm không, lấy không làm có: Phàm là tâm và miệng không tương ứng nhau, muốn lừa dối với người, đều là như vậy cả.

Kinh Lăng Nghiêm, Ðức Phật nói rằng:

“A Nan, như vậy thế giới sáu đường chúng sanh, tuy thân tâm không có báo của sát – đạo – dâm, ba hành nghiệp đã mãn, như nếu đại vọng ngữ, tức là “Tam ma đề” không được thanh tịnh, thành thọ kiến chấp ma, mất đi hạt giống Như Lai”.

Thế nào gọi là đại vọng ngữ? Là tự mình chưa đựơc Bồ đề vọng nói tự mình đã được Bồ đề, mình chưa chứng niết bàn vọng nói đã chứng niết bàn. (chưa được nói là được, chưa chứng nói là chứng), giả Phật lộn xộn mê hoặc chúng sinh đời sau, hoặc giả được quả vị Bồ tát... đó là ma ba tuần, là tạo đại vọng ngữ.

“Không tư riêng” thì không thể dấy lên lời nói vọng. Mọi người nói vọng cũng nhân vì sợ mất đi lợi ích của chính mình, tâm riêng tư tác quái cho nên nói dối lừa người, muốn khiến người không nhận biết mình.

KHÔNG UỐNG RƯỢU

Các loại rượu một ngụm cũng không nên uống, uống một ngụm thì sẽ có ngụm thứ hai, rồi tiếp ba, bốn... khói cũng không nên hít, đồ độc cũng không nên ăn dùng.

Uống rượu là một phương thức giao tế của người hiện đại, nhân uống rượu mà sự việc lầm lạc so ra đều như thế, từ rất sớm hơn hai nghìn năm trăm năm trước trong kinh điển Phật cũng đã rõ ràng nêu chỉ chỗ xấu của uống rượu, ngày nay xem ra chỗ nói đó không phải hư rỗng. Uống rượu xong mà niệm Phật tụng kinh, ngang với không tụng không niệm, không thể không biết.

“Không tư lợi”, thì chẳng thể phạm giới rượu. Người ta vì sao phải uống rượu? Tức là muốn mê loạn thân tâm mình, làm cho nó mơ mơ màng màng, làm cho tự mình thành tiên, thành thần, tiêu diêu ở trên trời. Uống rượu say sẽ chửi người cho rằng là việc muốn làm, lại tăng trưởng dâm dục, lại muốn dùng rượu để giúp cho huyết khí lưu thông nhanh một chút, uống rồi quên đi tất cả, như hít vào rồi chẳng phải mạng khác mà một kiểu phiêu phiêu. Ðây đều là tâm tự lợi tác quái, cho nên không uống rượu.

Ðức Phật nói: “Ba nghiệp thân - miệng - ý làm ác, chỉ rượu là căn bản”. Uống rượu say loạn, tâm không chừng mực, dùng phung phí vô độ vậy. Ðó là cửa của các bệnh, gốc của đấu tranh. Cho nên các loại rượu đều không nên uống.

Ðức Phật nói: “Người uống rượu có sáu việc tổn thất: tài vật dể tổn thất, dễ sinh bệnh, ưa thích đấu tranh, chuốt bày tiếng xấu, dễ giận dữ táo bạo, càng lúc càng không có trí tuệ”.

Kinh Ưu Bà Tắc nói rằng: “Nếu lại có người ưa uống rượu, người đó hiện tại thường mất của, thân tâm nhiều bệnh, thường thích đấu tranh, tiếng xấu nghe xa, tản mất trí tuệ, bị xấu nhan sắc và sức lực, chỗ làm đáng trách tất cả, người ta không ưa gặp, không thể tu thiện, đó gọi là báo ác hiện đời của người uống rượu.”

10. MƯỜI THIỆN NGHIỆP

A. PHẬT NÓI KINH “THẬP THIỆN NGHIỆP”

Tín đồ Phật giáo báo ân hoằng pháp cần phải từ mười thiện nghiệp bình thường làm lên. Mười thiện là tôn chỉ lớn, hạnh môn của Phật giáo. Chúng sinh thăng trầm nơi sáu đường, đã thấy sự nhẹ nặng của thiện ác để mà xét đoán: Thánh hiền trải qua ở tam thừa cũng lấy sự cạn sâu tu thiện diệt ác làm chổ quyết định. Do đây thấy rằng pháp “mười thiện nghiệp” là sự cân nhắc thánh phàm cao thấp, kim chỉ nam cho cuộc sống của Phật tử.

Ðạo mười thiện nghiệp, đã là căn bản của tất cả thiện pháp, thì bất luận làm người hoặc sinh ở cõi trời, thậm chí cần quả thánh ba thừa xuất thế, đều phải lấy mười thiện nghiệp làm cơ sở, nhiên hậu từng bước từng bước tiến lên, thì có thể đạt đến quả Phật tối cao.

Gốc làm người ở nơi mười thiện, nguồn thiện cũng ở nơi mười thiện, và cơ sở của năm thừa cũng ở nơi mười thiện.

Chúng ta cần phải làm việc thiện, tốt nhất có thể hiểu rõ định nghĩa của thiện, như mà đối với chân nghĩa của thiện không rõ, thì có lúc điểm xuất phát là thiện, nhưng kết quả ngược lại việc làm ra và thiện trái nhau, thực tại nầy thật là không sửa đổi được.

“Thiện” căn cứ sự chỉ bày của Ðức Phật cho chúng ta, định nghĩa đó có thể từ ba phương diện nói ra:

1/ Từ sự động niệm của tâm mà nói:

Sự thuần khiết và không thuần khiết của hoạt động tâm lý. Hoạt động tâm lý thuần khiết là không có phiền não xen lộn ở bên trong mà chỉ cùng với thiện tâm: không tham, không sân, không si, tàm và qúi tương ứng, tức là việc thiện. Ngược lại mà nói, hoạt động tâm lý tạp nhiễm không thuần khiết, thường cùng với các phiền não: tham, sân, si, mạn, tà kiến, không tàm, không quí trói buộc nhau, tức là ác; phân biệt thiện – ác, hoàn toàn là xem sự thanh tịnh hay không thanh tịnh của nội tâm.

2/ Từ sự ảnh hưởng của hành vi mà nói:

Chúng ta biết rằng, giữa người và người đều có sự tương quan, nhơn sự biểu hiện của bất cứ hành vi nào đều sẽ ảnh hưởng đến các người khác, từ ảnh hưởng tốt hoặc xấu đó, thì có thể phân biệt thiện hoặc ác. Cho nên sự thiện ác của hành vi chủ yếu là sự lợi hại của ảnh hưởng xã hội mà phân biệt.

3/ Từ sự trước sau của thời gian mà nói:

Người đời một số chỉ coi trọng hiện thực, nắm lấy hiện thực, nhưng Phật pháp giảng rằng: Không những có thời gian hiện tại mà còn có thời gian vị lai, làm người không thể nhìn ngắn ngủi chỉ có hiện tại thôi. Nên còn phải nghĩ đến vị lai, như một khi nghĩ đến vị lai, thì hành vi hoạt động của hiện tại cũng không dám tùy tiện. Hành vi hoạt động của chúng ta là chẳng những đối với hiện tại, mà vị lai cũng đều có lợi ích. Như vậy tức là thiện. Giả sử cho rằng chỉ đối với hiện tại có chỗ tốt đẹp, nhưng đem phương pháp không chính đáng cầu được sự đầy đủ trên cuộc sống hiện tại, mà đối với sinh mạng sống mới của vị lai không những không có chổ tốt đẹp mà ngược lại cảm đến sự đau khổ rất lớn, tức là ác.

Nghiệp tức là hành vi, tức là ước nói động tác của thân tâm, song mỗi một động tác của hành vi thân tâm sau khi qua đi, không phải qua đi thì nói xong, ắc còn có sự lưu giữ lại năng lực; Phật pháp nói là “nghiệp lực”. Cho nên chữ “nghiệp” nầy, ở trong Phật pháp là ước giảng hai phương diện: một là ước nói ở ngay nơi hoạt động, hai là ước nói sau khi hoạt động chỗ lưu lại lực dụng. Nghiệp dụng lúc động làm, trở thành quá khứ rất mau; nghiệp lực giữ lại, trải qua trăm nghìn kiếp đều không mất. Ðưa ra ví dụ để nói, như tôi đánh anh một cái, hoặc chửi anh một câu; hoặc đánh hoặc chửi đều là một món nghiệp dụng, đem năng lực đánh chửi này lưu giữ lại, lại là nghiệp lực. Nghiệp lực cũng giống như chủng tử (hột giống) mà người ta nói, chủng tử trước lúc chưa bại hoại, không luận đến lúc nào, chỉ cần có trợ duyên (đất, nước...), tự nhiên sẽ phát sinh ra mầm; “nghiệp” của chúng ta thu chứa ở trong đó, gặp được nhân duyên nào đó, tất nhiên cũng sẽ cảm thọ riêng một mạng sống mới.

Do đây, chúng ta đối với hành vi sở hữu của mình, đều phải tự mình gánh vác trách nhiệm, không phải bởi vì làm rồi thì tính rồi, nếu anh tự cho là xong rồi, nghiệp lực có thể không chịu tha thứ cho anh, đến lúc tương đương, nhất định sẽ tính sổ với anh, quyết không thể dễ dàng buông tha.

Nghiệp, không phải là túc mạng luận, tuy nhiên đối với hiện tại có chỗ ảnh hưởng, ngược lại không thể chi phối. Nghiệp, cũng giống là hạt giống (chủng tử), một ngày kia phát mầm thành thục, thì ắt phải kết quả. Ðạo lý của nghiệp rất đơn giản, tức là “phép tắc nhân quả” mà thôi.

Cung kính ghi chép (trích) từ trong “Kinh Phật nói đạo mười thiện nghiệp”:

­       “Pháp này tức là đạo mười thiện nghiệp. Thế nào là mười? Nghĩa là có thể trọn xa lìa: sát sinh, trộm cắp, tà hạnh, nói vọng, hai lưỡi, miệng ác, lời nói chiều uốn, tham dục, sân nhuế, tà kiến (ngu si).”

Từ sát sinh đến tà kiến, thông thường gọi là mười ác, hoặc con đường mười ác nghiệp. Nay đây trên mỗi ác nghiệp, lại thêm hai chữ vĩnh ly (vĩnh viễn rời xa), tức là vĩnh ly sát sinh... đến tà kiến, đó tức thành là mười thiện. Cho nên trong đoạn kinh văn này, chúng ta cần phải biết hai chữ rất trọng yếu đó là “vĩnh ly”. Ðương nhiên, vĩnh ly kiểu này là bậc thánh mới có thể làm được, không phải chúng ta một hạng phàm phu có thể làm được. Tuy là như vậy, chỉ cần chầm chậm học, thường thường tu, từ nay không làm việc sát sinh... cho đến tà kiến, tóm lại có làm thì có một ngày “vĩnh ly”.

B. THẬP THIỆN NGHIỆP

­   Không sát sinh

- Không trộm cắp

­   Không tà dâm.

­   Không nói vọng

_ Không nói hai chiều

­   Không nói ác

­   Không nói thêu dệt

- Không tham dục

­  Không sân nhuế

­  Không tà kiến (ngu si)

Thế nào gọi là sát sinh? Cắt đứt mạng sống là sát, có tình gọi là sinh; dứt đi sinh mạng của loài hữu tình gọi là sát sinh. Phàm là động vật có sinh mạng: bay trên không trung, chạy trên đất, bơi trong nước, bất luận là lớn hay nhỏ, trên từ chúng ta, dưới từ côn trùng nhỏ nhít, đều không thể có ý sát hại, hoặc khiến sảy thai, tự sát, cũng là sát sinh. Bất luận là dùng phương pháp công cụ nào, dù trực hay gián tiếp đến nỗi khiến cho sinh mạng của loài hữu tình tử vong gọi là sát sinh.

Thế nào là trộm cắp? Của vật công cộng, của vật riêng người, không luận là nhiều hay ít, lớn hay nhỏ, không được xâm chiếm, chưa trải qua sự đồng ý của họ, không cho mà tự lấy, gọi là trộm cắp. Vấn đề trộm cắp trên xã hội, có khi trực tiếp, có lúc gián tiếp, có hình thức hoặc không hình thức. Thí như ăn trộm, ăn cắp, cướp giật là trực tiếp; tham ô nhận hối lộ, chiếm dụng của công, riêng nuốt tiền của của người khác là gián tiếp; trói buộc dối gạt lấy, mạo phạm nhờ đỡ công việc là có hình thức; giả công giúp tư, “nuớc đục thả câu” là không hình thức. Tóm lại, không cho mà tự lấy, hoặc dùng thủ đoạn không chánh đáng mà đoạt lấy tiền bạc của cải, đều là trộm cắp.

Thế nào là tà dâm? Tình nhiễm phóng đãng, giao cấu ô uế gọi là “hạnh bất tịnh”. Ngoài vợ chồng chính thức ra, có bất kỳ hành vi dâm uế nào, làm loạn quan hệ nam nữ, phạm hạnh bất tịnh, thì gọi là tà dâm. Ðồng tính cẩu thả giao hợp, tự an ủi cũng thuộc về tà dâm, niệm dâm trong lòng khởi lên, miệng nói lời dâm cũng là tà dâm.

Người tu hành có nam có nữ, thì cần phải đoạn dâm, sự liên tưởng đều không nên nghĩ đến, vợ chồng chia phòng mà ngủ. Tu hành như vậy không dứt được dâm, thì phẩm vị vãng sanh cực lạc cũng không thể cao được.

Không dâm dục, là người tu hành có niệm đầu không dâm dục, như có mảy mún niệm tưởng dâm dục, thì không thể vượt khỏi ba cõi, mà vẫn ở trong luân hồi chịu lấy sinh tử. Ý niệm dâm dục này, tức là cội rễ của sinh tử. Nếu có thể đoạn được nó, bèn ra khỏi ba cõi mới có thể chứng quả thành Phật.

Một bệnh sắc dục cũng đã nêu lên bệnh chung của người đời. Chẳng riêng gì người trung căn, hạ căn bị sắc mê hoặc, mà người thượng căn nếu không tự giữ gìn chiến đấu, thiếu cẩn thận ở niệm, thì khó khỏi bị sự mê hoặc. Thử xem từ xưa đến nay bao nhiêu hào kiệt vượt trội, cố gắng làm thánh hiền, chỉ do phá không được cửa này, trở lại làm kẻ hạ ngu thấp hèn, lại còn vĩnh viễn rơi vào đường ác, bởi vì khó thắng số. Người tu hành vốn là ra khỏi sinh tử, nếu không gắng trừ bệnh này, thì cửa sinh tử khó ra khỏi. Tức là pháp môn niệm Phật, tuy mang nghiệp vãng sanh, nhưng nếu tật dâm kết chặt thì là cách xa với Phật, khó ở việc “cảm ứng đạo giao” vậy. Phải cố gắng trừ sạch tập khí ác nghiệp, mới có thể có phần tự do.

Người tu hành không nên có tư tưởng tình ái, càng không thể có hành vi tình ái, đối với bất kỳ người nào không nên sinh ra tâm tình ái; có tình ái thì rễ khổ không dứt, có tình ái thì sinh tử không thể mất. Có người nói “Con người là động vật có tình cảm, cho nên có tính dùng sắc chất”. Bởi do thế này nên cần tu hành.

Giả như anh có thể buông bỏ một cách triệt để tất cả sắc dục, như thế thì một cái xong tất cả đều xong. Anh hùng hảo hán trong thiên hạ cho đến kẻ tu hành, không biết bao nhiêu đều bị cửa sắc đẹp làm mê. Những vấn đề trên thế gian và phiền não cũng gốc là ở đây.

Ðối với việc sắc tình, chưa thấy thì không nên nghĩ, thấy thì không nên tưởng, đã thấy thì không được loạn. Nếu xem, nghe, nghĩ, tưởng, tâm niệm khởi lên, tánh hiền xung động, vượt qua nghĩ tưởng và xung động, thì lửa dục đốt thân, muốn không phạm giới cũng không thể được. Cho nên chưa thấy thì không nên nghĩ, thấy rồi, nghe rồi thì không nên tưởng, càng không được có động tác, nếu tâm niệm khởi lên tức liền quở trách, thì không muốn vào chỗ si quấy. Nếu sinh lý xung động, thì nghĩ tưởng lúc tức giận hiện tướng hung ác, lúc bệnh hoạn hiện tướng suy bại, lúc chết hiện tướng khó nhìn, từng việc quán sát chắc chắn. Như thế chỉ cần cấu uế đờm tửa, lông tóc răng móng, xương thịt máu mủ, mọi thứ gớm nhờm giống như tử thi, dơ như nhà xí; ai đối với vật này mà sinh tham ái? Tham ái đã dứt, niệm dục tiêu mất, tâm địa thanh tịnh; không nên nghĩ tới sắc đẹp của nó, chỉ nghĩ đến chỗ xấu xa của nó, như vậy tánh dục không thể xung động được.

Dâm dục dễ sinh ra sự đố kỵ, chê bai người khác, chiếm hữu, vướng mắc, ân oán, tranh giành quấy rối... những tranh chấp và phiền não, ngăn ngừa thì đẩy lùi đi được nhiều phiền phức, vui được yên ninh. Dâm dục dễ phát sinh quan niệm gia đình, gia quyến; từ đó sinh ra niệm quan hệ, riêng tư, trói buộc, gánh vác, kết tình, làm phương hại cho việc tu hành. Ở thế giới này, dục lạc là cội rễ luân hồi của chúng ta nhập thai.

Thế nào là lời vọng? Miệng phải mà tâm trái, dối gạt không thật, điên đảo trắng đen, lộn xộn thị phi, nói chung đều là lời nói vọng.

Thế nào là lời nói ác? Ðem lời thô bạo, ác độc, tổn thương người, khinh người, làm khốn đốn người, hơn người, lời ô uế... để chửi mắng nhục mạ người, làm tổn thương lòng người, lời trù yếm rủa quở, khiến người phát sinh áy náy lo lắng trong lòng, không thoải mái, sanh giận đều là ác khẩu. Ðối với súc sinh cũng không nên chửi nó.

Thế nào gọi là nói lưỡi hai chiều? Tạo lời bịa đặt sinh sự, xúi dục thị phi, khiêu khích ly gián, ly gián cảm tình giữa người và người, khiến người kia – đây không hòa, gây chuốt oán; đó gọi là nói lưỡi hai chiều (đâm bị thóc, thọc bị gạo).

Thế nào gọi là lời nói thêu dệt? Nói lời dâm đãng tầm thường, nhơ uế không chánh, khêu gợi tình cảm, lời không ra gì, lời không ý nghĩa, lời ngon tiếng ngọt, cái đáng phê bình ngược lại khen đẹp, cái việc tốt đẹp lại đem phỉ báng, mỗi nơi một khác không hợp với nghĩa, những lời như thế đều gọi thêu dệt. Ba bốn người bạn tụ lại một chỗ, cao hứng bàn luận, vui cười đắc ý rất dễ phạm phải lời thêu dệt, phải nên cẩn thận.

Con người rất dễ bị phạm về nghiệp miệng. Cho nên đối với chúng sinh có lời làm tổn thương hại người, ngược đãi, ô uế, thô bạo, ác độc, nói lời dối gạt, nói khoác lắm lời, miệng tâm trái nhau, đều không nên nói; dẫu bị người cho là kẻ câm, cũng không nên làm tổn hại đến khẩu nghiệp.

Thế nào gọi là tham dục? Tham dục còn gọi là tham ái tham luyến. Chúng ta không chỉ yêu thương thân thể sinh mạng chính mình, mà còn yêu thương các món tài sản quyền thế, danh dự, người thân của mình, tham luyến không xả được. Không có muốn cho có, có rồi lại càng muốn có nhiều càng tốt; tại sao đều muốn có? Tại sao đều không đủ? lòng tham không bao giờ đủ, đó là tham dục. Vì thoả sự ham muốn chính mình, chỉ cần đạt được mục đích, bất chấp thủ đoạn, công lý thế nào, nhân tình thế nào quên hết.

Tâm tham khởi lên, ở ngay nơi lúc khởi tưởng về trước không có nó, không phải là sống tốt đẹp sao, vì sao quyết phải phí sức tranh cầu? Nghĩ vậy tâm sẽ tiêu mất.

Thế nào gọi là sân nhuế? Sân nhuế là phát giận, thịnh nộ, oán hận. Có chút ít không như ý thì phát giận, não phiền không thoải mái, trong lòng ôm lấy điều không vui, oán đây hận kia. Ðối với người, sự việc, vật, lúc mà gặp mặt tất cả nghịch cảnh không như ý, thì sự giận ở bên trong phát ra bên ngoài, đó gọi là sân nhuế. Sân nhuế đối với người tu hành có chướng ngại chẳng nhỏ, có câu rằng: “Một việc ác phá chín việc thiện”.

Ðang lúc gặp việc không như ý phải biết lúc cơn giận nổi lên, không nên nói, cũng chẳng ức chế, cũng không nên phát tiết ở trên thân người khác. Còn nói, giải quyết không xong vấn đề; ức chế thì sẽ làm tổn thương đến thân thể; phát tiết trên thân người khác thì tìm cái nhỏ mọn đối với anh, phát tiết trên thân thể họ, tức là anh làm tổn thương đến họ, đối với mình thì cũng chuốc lấy điều không tốt. Phẫn nộ là chất độc, thân thể cần phải chuẩn bị kháng cự, trong máu mủ đầy cả chất độc, nếu không được phát tiết ra ngoài, như thế sẽ chịu khổ, vì sự phẫn nộ đó tồn tại mà chẳng thể giận! Nay đây xin đưa ra một phưong pháp: Chầm chậm hít dài một hơi, ngước lên trời từ từ thở ra, như vậy làm vài lần, hoả khí liền tiêu mất; hoặc tìm một chỗ, một tay nắm cú đánh một cái, hoặc vẽ trên miếng giấy, hoặc vào trong phòng đánh bị bông, hoặc cái gối... để tiết lần khí giận. Phương pháp tốt nhất là: coi như gió bên tai, coi như đang biểu diễn ca múa, như nó đang tự chửi mắng nó, không nên lý sự với nó, không khởi tâm động niệm, khí sẽ không sinh khởi (không giận) được.

Kinh Hoa Nghiêm nói: “Một niệm tâm sân khởi, trăm ngàn cửa chướng ngại mở”, “Lửa sân nhuế có thể đốt cháy rừng công đức”. Có thể chẳng sợ sao?

Thế nào gọi là tà kiến (ngu si)? Ngu si không phải là ngu thật, là có một chút thông minh nhỏ; bởi vì tư tưởng lầm lạc (tà kiến), tất cả kiến giải hoặc tập tánh không hợp lý, dẫn đến sự điên đảo trên hành vi, không rõ biết phải quấy, mặc tánh vọng làm, không rõ đạo lý, không tin chánh đạo, không tin nhân quả báo ứng, không tin Phật, Bồ tát, thần quỷ. Tự cho là phải, cuồng vọng tự đại, trong mắt không có người, kiêu căng ngạo mạn đó là ngu si.

­       Thập thiện nghiệp - không trái phạm, mới là thập thiện nghiệp (mười nghiệp thiện); trái phạm rồi thì là thập ác nghiệp (mười nghiệp ác). Tóm lại, phàm là việc tổn hại chúng sinh thì thân không nên làm, miệng không nên nói, ý không nên nghĩ.

Sau khi biết đạo lý của mười thiện nghiệp, thì không nên giống như kiểu trước kia làm việc theo chỗ muốn của tâm, ưa gì làm nấy; trước khi làm việc hay nói cần phải nên nghĩ là có tổn hại đến chúng sinh hay không, có vi phạm đến mười thiện nghiệp hay không?

Người tu hành phải tin Tam Bảo, biết nhân quả, giữ năm giới, làm mười nghiệp thiện và nhẫn nhục, đây là việc người tu hành quyết cần phải đầy đủ. Ðức Phật do đó dạy bảo cho tín chúng cái việc hợp tình nhập lý, trừ phi người không muốn làm điều tốt, những việc này làm tiêu chuẩn phép tắc mới thành sự răn ngừa của con người.

Chúng ta làm con người không thể không nói đến luân lý, đạo đức và lương tâm. Mà mổ xẻ đạo đức hay không cũng là ở trên sự đoan chánh hay không của hành vi. Người có hành vi đoan chánh thì làm mười nghiệp thiện, người không có hành vi đoan chánh thì làm mười nghiệp ác. Một cái hành vi của nhân dân tốt là đoan chánh, huống chi chúng ta là Phật tử, là người tu hành.

Xa lìa vĩnh viễn mười nghiệp ác, nhất định sẽ được công đức rất nhiều.

Kinh chép rằng:

­       “Này Long Vương, nếu lìa SÁT SINH, tức thành tựu được mười pháp lìa não phiền. Thế nào là mười? 1. Ðối với các chúng sinh khắp ban cho sự không sợ sệt. 2. Vì chúng sinh khởi tâm đại từ. 3. Vĩnh viễn xa lìa tất cả tập khí sân nhuế. 4. Thân thường không bệnh. 5. Thọ mạng dài lâu. 6. Thường được phi nhân thủ hộ. 7. Không có ác mộng ngủ thức vui vẻ. 8. Diệt trừ oán kết, các oán tự giải. 9. Không sợ đường ác. 10. Mệnh chung được sanh lên trời, đó là mười việc.

­       “Lại nữa Long Vương, nếu lìa TRỘM CẮP tức được mười món tín pháp có thể giữ gìn. Thế nào là mười? 1. Tài sản chứa đầy, vua, giặc, nước, lửa không phải là con yêu, không thể làm tản mất. 2. Nhiều người yêu thích. 3. Người không khinh rẻ. 4. Mười phương khen ngợi. 5. Không buồn tổn hại. 6. Tiếng lành đốn khắp. 7. Ở trong chúng không sợ. 8. Tiền tài, sinh mệnh, hình sắc, sức lực đều an lạc, biện tài đầy đủ, không khuyết thiếu. 9. Thường ôm lòng bố thí. 10. Mệnh chung được sanh lên trời; đó là muời.”

­       “Lại nữa Long Vương, nếu lìa TÀ HẠNH, tức được bốn món đức trí đáng ca ngợi. Thế nào là bốn? 1. Các căn điều hòa và thuận nhau. 2. Vĩnh viễn xa lìa ồn ào. 3. Người đời ngợi khen. 4. Vợ chẳng lấn quyền. Ðó là bốn.”

­       “Lại nữa Long Vương, nếu lìa NÓI VỌNG tức được tám pháp chư Thiên khen ngợi. Thế nào là tám? 1. Miệng thường thanh tịnh thơm mùi hoa Ưu Bát. 2. Làm các điều thế gian tin phục. 3. Phát lời nói chân thành chứng thật, trời người kính yêu. 4. Thường dùng ái ngữ (lời khả ái) an ủi chúng sinh. 5. Ðược vui thù thắng nơi ý, ba nghiệp được thanh tịnh. 6. Lời nói không sai lầm, tâm thường hoan hỉ. 7. Phát lời tôn trọng, trời người phụng hành. 8. Trí tuệ thù thắng, không có thế lực nào chế phục. Ðó là tám.”

­       “Lại nữa này Long Vương, nếu xa lìa LƯỠI HAI CHIỀU, tức được năm pháp không thể hại. Thế nào là năm? 1. Ðược thân bất hoại, không thể hại được. 2. Ðược quyến thuộc bất hoại, không thể phá hoại. 3. Ðược niềm tin bất hoại, thuận với gốc vậy. 4. Ðược phép hành bất hoại, sở tu kiên cố vậy. 5. Ðược thiện tri thức bất hoại, không đảo điên vậy. Ðó là năm.”

­       “Lại nữa Long Vương, nếu lìa ÁC KHẨU, tức được tám món thịnh nghiệp. Thế nào là tám? 1. Nói không trái với chừng mức. 2. Nói đều là lợi ích. 3. Nói ắt hợp với lý. 4. Nói từ ngữ hay tốt. 5. Lời nói được thừa lệnh. 6. Nói ra thì được tin dùng. 7. Nói ra không cần bàn cãi. 8. Lời nói đều được yêu thích. Ðó là tám.”

­       “Lại nữa này Long vương, nếu lìa LỜI NÓI THÊU DỆT, tức được thành tựu ba món quyết định. Thế nào là ba? 1. Nhất định làm cho người trí yêu thích. 2. Nhất định có thể dùng trí như thật để trả lời. 3. Nhất định có oai đức tối thắng đối với người – trời, không có hư vọng. Ðó là ba.”

­       “Lại nữa này Long Vương, nếu lìa THAM DỤC, tức có thể thành tựu năm món tự tại. Thế nào là năm? 1. Ba nghiệp tự tại, các căn đầy đủ. 2. Tài vật tự tại, tất cả oán tặc không thể cướp đoạt. 3. Phước đức tự tại, từ tâm ưa muốn, vật đều đầy đủ. 4. Vương vị tự tại, của báu cũng như vật, đều phụng hiến dâng. 5. Vật có được hơn cả mong cầu hơn cả trăm lần thù thắng do lúc xưa không lẫn tiếc vậy. Ðó là năm.”

­       “Lại nữa này Long Vương, nếu lìa SÂN NHUẾ, tức được tám pháp vui tâm. Thế nào là tám? 1. Không có tâm tổn hại não phiền. 2. Không có tâm sân nhuế. 3. Không có tâm giành giật. 4. Có tâm nhu hòa chất trực. 5. Ðược tâm từ của bậc thánh. 6. Thường làm lợi ích, an được tâm chúng sanh. 7. Thân tướng đoan nghiêm. 8. Vì bởi hòa nhẫn nên mau sinh cõi phạm hạnh (thanh tịnh). Ðó là tám.”

­       “Lại nữa này Long Vương, nếu lìa TÀ KIẾN, tức được thành tựu mười pháp công đức. Thế nào là mười? 1. Ðược ý vui chân thiện, bạn bè chân thiện. 2. Tin sâu nhân quả, dẫu có hy sinh thân mạng quyết không làm điều ác. 3. Chỉ quy y Phật mà không phải các trời nào khác. 4. Trực tâm, chánh kiến, trọn xa lìa tất cả lưới nghi tốt xấu. 5. Thường sinh về nhân thiện, không quy về các đường ác. 6. Vô lượng phước huệ lần lữa tăng trưởng thù thắng. 7. Trọn lìa tà đạo, làm nơi Thánh đạo. 8. Không khởi thân kiến, xả các nghiệp ác. 9. Trụ nơi vô ngại kiến. 10. Không đọa lạc ở các nạn. Ðó là mười.”

“Thập thiện nghiệp” nên cùng với “luật nhân quả” và “sám hối” đồng thời tu hành, sau khi rõ biết luật nhân quả thì không thể phạm mười thiện nghiệp; nếu phạm mười thiện nghiệp tức phải dùng sám hối càng giúp cho tâm linh sau khi phạm sai lầm mở được nỗi đau.

Giữ miệng, nhiếp ý, thân không phạm, như vậy hành giả được độ sinh.

Có thể nương nơi phương pháp mười thiện nghiệp thực tiễn là sáu pháp “Ba La Mật”, tu được sáu pháp Ba La Mật, mới càng thù thắng hơn.

11. SÁU PHÁP BA LA MẬT VÀ BỐN PHÉP NHIẾP

Ngoài ba học là: Giới - định - huệ, cộng thêm: bố thí - nhẫn nhục - tinh tấn, hợp thành sáu độ, cũng gọi là sáu độ Ba La Mật (sáu pháp Ba La Mật).

Chữ Ba La Mật là tiếng Phạn, nghĩa là “Ðáo bỉ ngạn” (đến bờ bên kia). Người qua sông cần phải nương nơi thuyền bè mới vượt qua giữa dòng để tới bờ bên kia; người học Phật ở bờ sinh tử luân hồi, vượt qua dòng ở giữa là phiền não, đến bờ bên kia tịch tịnh Niết Bàn. Sáu pháp Ba La Mật thì có thể vượt qua biển khổ sinh tử luân hồi, đến được bờ bên kia giải thoát: Niết Bàn.

Hàng Bồ Tát của Ðại thừa Phật giáo vì thành tựu Phật đạo tối hậu, quyết cần phải thực tế bước lên sáu pháp Ba La Mật. Mỗi một người tu hành học Phật, đều cần phải phát “tâm Bồ Ðề”, đầu tiên đều cần phải tự mình đầy đủ thực tế, tích cực làm cho được hành vi: “tạo phước cho nhân loại, lợi ích cho chúng sinh”, mới có thể đạt được đầy đủ cho chính mình, chỉ muốn ngóng trông tìm cầu thì phiền não, thất vọng, đau khổ càng nhiều. Vì cần đạt được dục vọng chính mình, tự nhiên sẽ bất chấp mọi thủ đoạn đối với bên ngoài để tham cầu tất cả, do đó, cũng tạo nên nghiệp ác rất là nhiều, dẫn khiến phiền não, thất vọng, đau khổ tiếp tục đến; tóm quy một câu nói: đều là vì danh lợi hư huyễn không thật, phiền não thống khổ mang lại, cội gốc sanh tử mang lại. Song pháp môn “Lục độ Ba La Mật”, chính là Ðức Phật vì chúng sinh giải thoát phiền não thống khổ, khiến con người đạt được cảnh giới lý tưởng an lạc: Niết Bàn; Ðồng thời khiến con người thẳng đến thăng hoa cuộc sống tinh thần; Pháp môn này tu hành viên mãn sáu món, tự lợi lợi tha, thành công sự nghiệp.

Sáu pháp Ba La Mật: Bố thí - trì giới - nhẫn nhục - tinh tấn - thiền định - trí tuệ.

Bố thí có thể giải thoát độ được tâm “xan tham” của thân tâm. Trì giới có thể giải thoát độ được “tà hạnh” của thân tâm. Nhẫn nhục có thể giải thoát độ được “sân hận” của thân tâm. Tinh tấn có thể giải thoát độ được “giải đãi” của thân tâm. Thiền định có thể giải thoát độ được “tán loạn” của thân tâm. Trí tuệ có thể giải thoát độ được “ngu si” của thân tâm. Khiến người đạt được cảnh giới giải thoát “thật tướng vô tướng”. Cũng tức là: 1. Vô ngã tướng; không phải ngã là một cá nhân rất sai lạc và cứng cỏi, không phải chỉ biết có ngã mà không biết tâm trạng của người khác. 2. Vô nhơn tướng; trong cuộc sống hằng ngày, không có quan niệm cảm giác điểm đối lập người và ta. 3. Vô chúng sinh tướng; trong quá trình sinh hoạt, không thọ trở lại các món ái dục, dục vọng mê mờ, si ám, trói buộc, tạo các món nghiệp ác, thọ các món khổ, mà cuộc sống an ninh tự tại. 4. Vô thọ giả tướng; không đem sinh mạng ngắn ngủi tạm bợ hiện thời cho là vĩnh hằng, không đem sinh mạng vô thường hiện đời cho là thế giới trường cửu. Tìm đến mà phá trừ “ngã chấp, pháp chấp” của con người, đạt được cảnh giới: từ - bi - hỉ - xả, ngã - pháp cả hai đều không.

A. BỐ THÍ (vưng làm các điều thiện)

Trong đại thừa Phật pháp, vì sao bố thí được kể là đầu của sáu pháp Ba La Mật? Bởi vì bố thí là một hành vi có thể thăng hoa nhân tính, nó có thể phát sinh năng lực của sự vượt qua (gọi là ÐỘ); đem sự nhỏ mọn, cố chấp đóng kín, tật đố, bi quan mà vượt qua, đến bờ bên kia của sự nhiệt thành, thoải mái, rộng rãi, tri túc và giàu có.

Bố thí tức là phát tâm Bồ Ðề, rộng lợi ích tất cả chúng sinh, giải thoát khổ nạn của chúng sinh, giúp cho chúng sinh an lạc.

Mục đích của bố thí: thương xót chúng sinh, vì khiến chúng sinh an lạc. Không ở việc mong cầu, không mong báo đáp, không ở nơi rộng thu lấy tiếng tốt xa bay.

Bố thí (làm thiện) cần phải thành tâm, không được phân chia đối tượng, oán thân, kia đây, ôm lòng nặng đây nhẹ kia, bố thí thế này thì không phải là bố thí.

Bố thí không khó, khó ở chỗ đạt được cảnh giới “thể của ba luân đều không”. Ba luân đều không là: không có cái “ta” bố thí; không có “người” thọ của bố thí; cũng không có “vật” được thí.

Bố thí tức là “thí xả”, vấn đề thí xả có nhiều phương diện, và chẳng cuộc hạn ở nơi nắm tiền bạc tài vật mà đưa ra. Tức là dùng trí huệ, học vấn, hoặc thể lực, năng lực của mình tuỳ thời tuỳ chỗ đều có thể giúp đỡ cho người cần chịu giúp đỡ.

Bố thí chia ra: tài thí, pháp thí và vô uý thí.

­         Bố thí tài (tài thí), đem năng lực tài sản của mình mà thí cho. Không chỉ là đem ra một ít tiền quyên giúp chùa chiền hoặc nhà nghèo khó, mà là cần phải ở trong sinh hoạt hàng ngày, mỗi niệm mỗi niệm vì người khác, không phải vì tự kỷ.

­         Bố thí pháp (pháp thí), đem Phật pháp giáo hoá dẫn dắt chúng sinh, khiến nhân đó mà được độ. Phàm là người khác muốn biết, muốn học tập, chỉ cần ta biết, ta có thể, thì nhiệt tình dẫn dạy họ. Không điều kiện, không kể trả công; nếu là có giá thay thế, thu phí dụng... như thế không phải là bố thí. Cho nên bố thí pháp không nhất định giảng kinh, nói pháp.

­         Bố thí không sợ sệt (vô uý thí), cứu độ khổ nạn cho chúng sinh, nên lấy tinh thần an ủi giúp đỡ, khiến họ xa lìa lo lắng, không sợ không hãi, trừ khỏi sự bất an.

Lúc thân tâm ở chúng sinh bất an, sợ sệt, lo âu, có thể giúp họ tiêu trừ được sự lo sợ, bất an của họ.

Bố thí là giữ thiện tâm, làm thiện hạnh. Thế nào là thiện? Tức là tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi, làm việc hợp với luân lý đạo đức của xã hội, luật pháp của quốc gia, không làm tổn hại đến tất cả chúng sinh, tâm giữ công chính, vui đối với việc giúp đỡ người, tức là thiện.

Giữ tâm làm thiện cần có tâm lợi ích chúng sinh, tâm ý cần chân chính thiết thực, lượng sức mà làm, bố thí bởi lòng từ tốt đẹp. Giả như nói ta không có trí tuệ lại không có năng lực, càng không có của tiền vật chất, làm sao mà thí? Ở nhà hiếu thuận cha mẹ, bên ngoài tôn thầy kính lão, hiếu đễ trung tín, kính trên hòa dưới, tâm giữ chân thành, hiền hậu, lấy sự ôn hòa nhẹ nhàng, nhân từ đáng mến, diện mạo hòa vui, thái độ cởi mở đãi người tiếp vật, rất ít xem đến thành công của người ta, hoặc làm việc thiện có thể sanh khởi tâm tuỳ hỉ, khen ngợi người khác, nhà người có việc xấu cần nên an ủi họ, đối với kẻ mất chí hướng nên nói lời khích lệ, đối với người buồn đau nói lời an ủi, như ở trên đường bắt gặp vỏ cây giấy vụn... kiểm tra nó, những việc này chịu khó động tay, kịp thời phục vụ lạc quan, đều có thể làm, không phải là thí cho bao nhiêu tiền, bao nhiêu vật mới là làm thiện. Chỉ cần giữ tâm thiện mới là thiện, không phải là làm được bao nhiêu thiện mới là thiện.

Chỗ làm được ít trên tiền tài, có thể mỗi tháng bố thí mười phần trăm chỗ được; chỗ làm được nhiều thì có thể bố thí nhiều, làm việc cúng dường tam bảo, in (giúp) kinh sách, phóng sinh, cứu giúp nạn gấp, kẻ nghèo, người bệnh, người cần giúp đỡ.

Ðối với việc thí xả tài vật (hành thiện) cho người, đừng còn có một chút tâm hư vinh dứt không được, ôm giữ lấy tâm kiêu mạn, tự đại, tật đố, phải hoàn toàn phát tâm chân thành, đồng tình từ nội tâm. Như anh bố thí được một vạn đồng, có người khác chỉ bố thí được một trăm đồng, như thế anh sẽ cảm thấy chính anh so với người kia, người bố thí một trăm đồng, anh rất là to lớn. Có tưởng pháp kiểu này sẽ sinh ra tâm lý kiêu mạn tự đại, việc làm thiện của anh sẽ cùng với sự kiêu mạn xen lộn với nhau rồi. Ngoài việc bỏ tiền ra rồi, chúng ta phải chăng cũng nên xét nét hiểu động cơ tâm lý thái độ lúc làm thiện của chúng ta, có phải là chân chính có thể phát sinh ra công năng của “Ba La Mật” hay không? Hay là khiến cho việc làm thiện của mình ngược lại mà trở thành một cái duyên nhiễm, bất tịnh, tâm tham danh cầu công đức của thế tục đó là “nhiễm”, khiến cho người bố thí và người thọ thí đều không cách nào được đại lợi ích chân thành.

Sau khi bố thí lại sinh tâm hối hận, hoặc khoe việc làm thiện của mình, đây không phải là bố thí tốt nhất. Sau khi bố thí hoan hỉ trong lòng, vả lại không đem việc thí xả của mình để mà nhận lấy đối tượng thí xả, và đồ vật được thí dính mắc trong lòng, đây mới là bố thí đỉnh cao.

Chỉ cần lấy sự bố thí của tâm chân thành, dẫu là mười đồng, cũng hơn là công dức của trăm vạn đồng mà không chân thành. Bố thí không có tâm chân thành là vì cầu lấy công đức hoặc được danh tốt rộng rãi, dù cho bố thí mấy mươi vạn đồng cũng chẳng được công đức mấy mươi đồng.

Ðại phàm nghĩ thiện làm thiện, người thường phần nhiều biết làm, muốn làm, nhưng nếu chẳng thể “tịnh không” ngã kiến, ngã chấp, ngã tham, ngã hận, ngã dục, ngã tư (riêng)... chứa nhóm thành kiến, thì gặp việc thường tình thấy trước mắt nhất là tâm riêng tư (ngã tư) làm trọng, nhân đầu mối tình cảm dấy động mà việc làm và chí nguyện trái nhau, nhân tu dưỡng chẳng đủ mà xử trí không thoả đáng, cái biết và việc làm khó đem mà phối hợp, chứa nhóm lại thường sanh khốn đốn buồn lo, ham muốn riêng tư thường trở ngại việc thiện, vọng niệm tăng thêm phiền não, cho nên nhờ “không quán” giúp cho việc tu dưỡng.

Niệm Phật cần tịnh tâm tịnh ý, xử sự cần phải tịnh tâm, đương nhiên mục đích của bố thí cũng phải cần từ trong tâm xả mà cầu tịnh tâm, xả được thì tịnh, không thể xả được thì nhiễm. “Chấp trước” là kẻ địch lớn của sự tu hành. Sau khi bố thí anh nên “tướng lìa tâm lìa”, không nên ôm giữ trong lòng sự tình đó, tâm mới có thể lìa, đây mới là ‘bố thí của vô tướng”. Nếu như anh làm việc bố thí nhiều năm, ở trong tâm vẫn còn một mực chấp trước công đức, như thế thì nên phải cẩn thận kiểm thảo trạng thái của tâm này.

Làm thiện, trong trăm việc thiện “Hiếu” là trước nhất, không hiếu thuận với cha mẹ, không thể nói là làm thiện. Làm người, con trai hay gái, phải nên phụng dưỡng kính thuận cha mẹ. Hiếu thuận cha mẹ mà chỉ lấy cơm áo, tiền bạc để lo là chưa đủ đâu. Hầu hạ mẹ cha cần phải cung kính, phải nhẹ nhàng, một lời nói một việc làm đừng khiến cho cha mẹ phải thương tâm khó lòng, cần phải làm cho cha mẹ sinh tâm hoan hỉ, việc chính đáng cha mẹ làm không nên ngỗ nghịch, cha mẹ dè răn không được trái ngược, dắt dẫn cha mẹ tin Phật, học Phật tu hành mới là báo đáp ơn cha mẹ chân chính.

Bỏ người nhà cuộc sống gian khổ, không đoái hoài mà đi làm thiện, chẳng được công đức.

Tu thiện như thế chia ra có: Chân thiện - giả thiện, dương thiện - âm thiện, thị thiện - phi thiện, bán thiện - mãn thiện, đại thiện - tiểu thiện, nan thiện - dị thiện.

Những món thiện này mỗi cái đều có mỗi đạo lý, ắt cần phải tiến tới mà giải rõ, chẳng như vậy, làm thiện mà không rõ lý, thì tự khoe mình làm được việc thiện, làm được công đức gì, như thế biết rằng không phải làlàm việc thiện, mà kỳ thật tạo hành vi xấu, uổng phí khổ tâm, không được chút tốt đẹp nào!

Thế nào gọi là chơn thiện – giả thiện?

Phàm làm việc có ích đối với người tức là chơn thiện (thiện chân chánh); chỉ cần làm lợi riêng mình, làm thiện như vậy tức là giả thiện (thiện giả dối). Làm thiện mà không có sở cầu, thiện mà lợi người mới là chơn thiện, như thế sợ rằng chửi người đánh người cũng kể là chơn thiện. Giả như chỉ vì lợi ích chính mình,tức khiến cho anh cung kính người khác, lễ nhường người khác, dùng của tiền thí cho người khác, giúp đỡ người khác cũng gọi là giả thiện. Cho nên gọi là loại người cố ý nói tốt, tạm gượng, dèm xiểm dối lừa đó vậy.

Tu hành trọng yếu nhất là xuất phát từ sự chân thành mà không có sở cầu, giữ tâm lợi ích xã hội quốc gia, làm cho tất cả chúng sinh tạo phước, làm thiện không cần báo đáp, không lộ bày dấu vết, việc thiện như thế là “chơn thiện”; làm việc thiện vì đại chúng xã hội, tất cả chúng sinh tạo phước mà mình còn muốn sự báo đáp tương đương, hoặc mục đích lợi ích nào đó, mưu đồ có chỗ được, đây là trong cái thiện có xen lộn với cái ác (thiện không thuần chất), không phải là chơn thiện. Thiện mà muốn người thấy biết, không phải là “chơn thiện”, ác mà sợ người biết mới là “đại ác”.

Thông thường con người là phàm phu mắt thịt, tục tình và tâm địa của họ không sạch sẽ, tức là vọng tưởng chấp trước còn rất nhiều, không có huệ nhãn, Phật nhãn, nhìn không rõ sự thật chân tướng. “Nhận thiện là ác, cho ác là thiện”, thiện ác đảo điên, đây cũng gọi là mê hoặc điên đảo, người thế này ở thế gian lại rất nhiều. Thế nào là chơn thiện? Chúng ta cần phải khảo sát cho rõ ràng từ tong tâm địa, mới biết mình hành thiện hay không. Thiện ác ở tâm địa, chứa thiện nhiều, lập công to đều là tu trên tâm địa, thuần tuý là lợi cho người giúp cho đời, không có lợi cho mình hay tâm riêng tư.

Thế nào gọi là dương thiện - âm thiện (Thiện bày ra ở bên ngoài - thiện ẩn ở bên trong)?

Phàm làm việc thiện mà người ta biết, thì là dương thiện; làm thiện mà không bị người ta biết thì gọi là âm thiện. Việc thiện của anh làm mọi người đều biết, người người nhìn thấy khen anh tốt, thì chỉ có thể rộng thu loại tiếng khen (danh dự), Khen tốt tức là phước, chính phủ biểu dương (anh là người tốt, làm được rất nhiều việc tốt), quả báo đều báo rất rõ ràng. Cho nên chư vị nên hiểu rằng, không luận là làm bao nhiêu việc thiện, bất tất phải để cho người khác biết, thì việc thiện vĩnh viễn chứa ở trong đó, mà không cầu báo hiện khởi, gọi là “tích đức”. Người khác biết rồi, thiện sẽ không chứa được, làm bao nhiêu thì báo trả bấy nhiêu, về sau quả thiện không còn chút nào, ngược lại tạo rất nhiều ác. Hành thiện mà không bị người khác biết, “âm đức’ trời ắt ban cho đức dày. Do đó dương thiện và âm thiện thì chỉ chia phân giữa sự sáng suốt và ám độn thôi.

Thế nào gọi là thị thiện - phi thiện (thiện phải - thiện quấy trái)?

Ðã làm việc thiện tại sao lại có việc phân ra “thị thiện” và “phi thiện”? Phàm người làm thiện không luận sự hiện hành mà luận sự dẫn đến cái xấu, không luận nhất thời mà luận dài xa, không luận một thân mà luận thiên hạ. Trước mặt thấy là thiện, trên thực tế chẳng là thiện. Ðối với một người là thiện, đối với nhất thời là thiện; mà đối với quốc gia xã hội là phi thiện, đối với đời sau là phi thiện. Cho nên đối với thiện – ác không thể chỉ xem hiện hành trước mắt, cần phải hiểu được ảnh hưởng đối với quốc gia xã hội, đối với hậu thế lâu xa về sau, là mặt chính hay là mặt trái. Hiện hành giống như thiện, kỳ thật kết quả đủ để hại người, thời in tuồng là thiện mà thật thì phi thiện, kết quả đó có ích cho đại chúng, thì tuy là chẳng phải thiện mà thật là thiện.

Nêu lên một ví dụ có thể hiểu thông, như không nên khoan dung tha thứ được, khen ngợi người khác quá đáng, vì giữ tín nhỏ mà sai lầm đại sự, sủng ái con cái mà dung dưỡng đại hoạn... đều gấp mong chúng ta lắng tịnh kiểm thảo mà cải tiến.

Thế nào gọi là bán thiện - mãn thiện (thiện một nửa - thiện đầy đủ)?

Bố thí trăm nghìn vạn đồng, nhưng tâm ý ngược lại không chân thành; Bố thí một hai chục đồng, nhưng tâm ý chân thành; Lấy đây làm thí dụ, thì là trăm nghìn vạn đồng kia là “bán thiện”, một vài chục đồng đó là “mãn thiện”. Thí như đem của tiền mà giúp đỡ cho người khác, không phải ở nơi tiền nhiều hay làm nhiều, mà là thành ý nơi chân tâm, hết lòng hết sức mà làm, tức là mãn thiện; Nếu bố thí của tiền mà lòng xót xa, thi ân mong báo đáp, hoặc có mưu đồ, thí tiền mà không quên được, như thế dẫu cho thí trăm nghìn vạn đồng, cũng chỉ có một nửa thiện mà thôi!

Thế nào gọi là đại thiện - tiểu thiện?

Lập chí làm việc thiện lợi ích cho chúng sanh, quốc gia xã hội, thì thiện tuy nhỏ mà công đức lớn, nếu chỉ vì lợi ích cho mình hay gia đình, như thế tuy lớn mà cũng là nhỏ.

Thế nào gọi là nan thiện - dị thiện (Thiện khó làm - thiện dễ làm)?

Cũng giống như tu thân khắc kỷ, cũng cần khắc phục từ chỗ khó khắc phục, thì lỗi lầm nhỏ cũng không thể phạm. Như mười năm tích góp nhịn ăn nhịn tiêu, trả nợ thay cho người khác, cứu sống vợ con người ta, ở trên nói việc dốc túi giúp nhau, nghĩ tưởng người khác, vì việc người khác nghĩ tưởng, đây là vấn đề tốt có thể nói là khó xả mà có thể xả, việc thiện này rất khó làm mà rất đáng quý, mà phước cũng rất là hậu. Người có tiền tài thế lực, làm việc thiện rất là dễ, dễ mà không chịu làm, tức là thiện dễ làm mà không làm thì giàu mà bất nhân.

Bàn về cái thiện, lấy “chủ nghĩa công lợi” là điểm xuất phát, làm bất kỳ việc thiện nào, trước tiên xét cái gốc thành công hiệu quả tác dụng, quả báo và danh lợi..., xác nhận sự thu hoạch được, rồi mới làm; hạng người này không phải bình thường vô cớ cho anh của tiền, họ nhất định có mưu đồ rồi.

Thiện - thương người như mình; do hạng người này đã phá trừ được “ngã chấp”, cho nên có thể quên mình, mà đạt đến cảnh giới thương người như mình, nhưng vì họ chưa phá trừ “pháp chấp”, cho nên lúc làm việc thiện, trong tâm vẫn còn có quan niệm trừu tượng, vì họ mang lấy danh - tướng, cho nên chưa làm được sự tự tại tuyệt đối.

Thiện - rất hoàn mỹ; làm thiện không những không cầu đáp trả, mà còn không phân biệt người và ta, thậm chí cũng không gánh vác bất kỳ một danh – tướng nào. Tâm từ bi của hạng người này là không có điều kiện mà không có hạn lượng. Vì lúc họ hành thiện, ngay cả một chút danh tướng mang lấy cũng không có, cho nên rất chân thành, rất tự nhiên, cũng rất là vui vẻ, đây tức là cả ba vòng cái thể đều KHÔNG (tam luân thể không).

Người bước đầu học Phật hành thiện, thì khó tránh khỏi sẽ có chấp trước, đợi sau khi công phu tu dưỡng thuần thục, thì có thể vượt qua sự trói buộc và dẫn dắt của danh tướng.

Lớn hay nhỏ của thiện nghiệp đều xem nơi gốc trình độ trong sạch chân thành của tâm con người mà định. Như tâm có thể chân thành trong sạch đến cực điểm (tức là dừng ở nơi chí thiện), không có một chút cặn bã, tức là đại thiện. Nếu tâm không trong sạch, dừng ở nơi tính toán gọi là tiểu thiện. Ví như người giàu có bố thí tiền làm việc thiện, hết sức xuất ra mấy trăm vạn đồng, nếu có một chút ơn huệ bố thí nào mong được báo đáp dù là tiếng khen, tâm cầu phước làm công đức đó, nhân thiện cũng không chân thành thiết tha, như có một người khác, của tiền ít ỏi, chỉ có thể thí vài mươi đồng, thuần tuý phát ra từ tâm từ bi, không xen lộn mảy may một ý niệm khác, thiện nghiệp của người này so với người kia, người mà xuất ra mấy trăm vạn đồng, thì người này lớn hơn nhiều. Nhưng cái tâm rất chân thành thanh tịnh này nói đến rất khó. Cho nên tâm thiện chơn thiết, một việc làm có thể muôn việc thiện.

Thiện mà có tướng tức chẳng phải chí thiện. Cho nên nói rằng người dừng được ở nơi chí thiện, vô niệm vô tướng, mà từng giờ từng phút vẫn không lìa tâm đại bi, không xen lộn tâm tư kỷ, tức là “không giữ ở nơi tướng, như như chẳng động” ở trong kinh đã nói.

Hơn muôn việc hành trì của Ðức Phật dạy, lấy bố thí làm thứ nhất. Thí tức là xả, tức là làm thiện; người hiền minh ở trong xả sáu căn, ở ngoài xả sáu trần, tất cả đều có thể xả, thông thường con người đương nhiên làm không được cảnh giới này, thế thì làm thiện không nên mong muốn làm lợi mình mà phải mong muốnvì lợi người, lợi chúng sinh thì bên trong có thể bỏ trừ căn tánh hạ liệt so kè riêng tư, bên ngoài có thể giúp người nạn gấp, thì đem công vốn có đối với việc làm thiện mà tu trì. Tuy nhiên ban đầu sẽ cảm thấy miễn cưỡng, nhưng lần lần thì sẽ cảm thấy tâm lý yên ổn.

Nói rõ bố thí là giúp đỡ người khác, thật ra vì mình, bởi vì anh làm cái gì thì thu hoạch cái ấy. Của tiền anh bố thí càng nhiều, chính anh cũng càng có thể thăng hoa cuộc sống tinh thần, “chánh nhân” là làm việc thiện bố thí rồi, do đây chỗ được mới là giàu có chân chánh (chánh quả); cho nên nói là bố thí có phước hơn thọ dụng, tiến đến mới có thể hiểu rõ một cách thuận lợi và “trì giới” một cách thực tiễn.

Cái mà anh giao ra có hình hay vô hình mà sự thu hoạch nhìn không thấy; anh bố thí rồi một khoảng thời gian, như con cái trái lời, thì đã ít phiền anh, nhà người cũng lễ độ đối với anh, làm việc cũng dễ dàng nhiều... Anh nói: tiền của tôi không đủ xài lấy đâu bố thí? Nếu như anh có thể tiết kiệm một chút, tính nhập để mà xuất, lấy một gia đình mà dự toán, trừ những phí dụng tất yếu trong sinh hoạt ra, cái gì đang dùng thì dùng, phải nhón gọn lại thì nhón gọn, không phải là những khoảng phí tổn tất yếu mà không được dùng, như là không có việc gấp ra ngoài nên đi xe buýt, chẳng nên đi taxi... Như vậy không những có tiền để bố thí, mà còn dư tiền để cất giữ! Anh bố thí mấy trăm đồng, số mục tuy nhỏ, nhưng đây là tiền nhịn ăn nhịn dùng, công đức đó lớn hơn đại phú ông quyên giúp hơn mấy trăm vạn đồng. Thông thường con người không có khả năng có thể có nhiều tiền để bố thí, nhưng có thể giữ thái độ xử thế “chớ vì thiện nhỏ mà không làm”, thiện trong một niệm tức là tu hành. Con người, không có tâm bố thí, tức khiến giàu có trở lại cũng chưa chắc thấy được khả năng bố thí. Không thể xả được, nắm đưa ra một phần của tiền cho người khác, vật ngoài thân, đều xả không được cho người, cần bàn gì đến Bồ tát tâm!

Có người thường nói: “Ðợi lúc ta có tiền mới bố thí làm việc thiện”. Bố thí không hạn cuộc ở nơi cầm tiền đưa ra, tức là dùng trí tuệ hoặc thể lực của mình, tuỳ thời đều có thể giúp đỡ người cần giúp đỡ, mà tuỳ duyên bố thí. Bố thí ở nơi tâm thương xót, tâm đồng tình và tâm cung kính.

Tài thí có thể độ người khốn đốn ách nạn, không thể độ người thoát ly sinh tử. Pháp thí có thể độ huệ mạng của người, có thể siêu xuất luân hồi. Lúc bố thí tâm giữ bình đẳng, lúc tài thí nên giữ tâm cứu độ, không nên giữ tâm thi ân; lúc pháp thí, phải giữ tâm giúp đời, không nên giữ tâm danh lợi.

Bố thí cũng tức là giữ tâm tốt, làm việc tốt, nói lời tốt; phàm không có tâm, lời, việc lợi ích chúng sinh, đều không giữ, không nói, không làm.

B. TRÌ GIỚI (không làm các việc ác)

Tu hành trọn dứt sinh tử, ngoài vấn đề trì giới ra chẳng có thể nói lời dứt sinh tử, dứt sinh tử thì phải giữ gìn cấm giới cửa Phật! Trì giới trước tiên cần phải biết nhân quả, thì mới biết vì sao cần phải trì giới? Trì giới tức là khiến hành vi không vượt qua quy củ, không tạo các món ác nghiệp.

Ý nghĩa của giới tức là “dừng ác sinh thiện”, dừng mà trừ bỏ tội ác của mười ác, năm nghịch, giúp lớn thiện pháp gọi là nghĩa giới.

Ðức Thích Tôn lúc sắp Niết Bàn, ngài A Nan thưa hỏi Ðức Phật lúc còn tại thế, tôn Phật làm thầy, sau khi Phật nhập diệt lấy gì làm thầy? Ðức Phật dạy rằng: “Lấy giới làm thầy”.

Cho nên chúng ta là đệ tử của Phật, hành trì giới luật, mới có “đạo sư”, nếu không có giới hạnh, cũng như không có thầy truyền.

Trong luật tạng của Phật giáo, liên quan đến giới tướng của luật học rất nhiều, tại gia có: ngũ giới, bát quan trai giới, thập thiện giới... xuất gia có tỳ kheo giới... Tóm lại,đều lấy năm giới làm căn bản mà trì cho được tịnh thì những cái nhánh cành (chi mạt giới) cũng dễ hành trì vậy.

Công đức của trì giới, thế tục nói rằng: “Thọ giới dễ, trì giới khó”, xác định là có lý. Nhưng cũng ở nơi thiện căn của chúng ta mà có cạn - sâu, quan hệ nghị lực của tín tâm có hay không? Nếu như đệ tử của Phật giới luật nghiêm tịnh, thì ai chẳng kính ngưỡng? Chư Phật, Bồ Tát hãy còn hộ niệm, huống gì trời, rồng quỷ thần và con người? Luật Tứ Phần nói “trì giới có mười món công đức”:

1.        Ðầy đủ chí nguyện, có thể giữ gìn cấm giới, thì thân tâm thanh tịnh, huệ tánh sáng suốt, tất cả trí - danh - thệ - nguyện, không món nào là chẳng đầy đủ.

2.        Như Phật mà học, Ðức Phật lúc ban đầu tu hành, lấy giới làm gốc, mà được chứng quả, hay trì giới kiên cố, đó cũng là học như Phật.

3.        Trí không huỷ hoại, giới hạnh thanh tịnh, thân miệng không lỗi, phàm người có trí vui ưa khen ngợi, mà không chê bai.

4.        Thệ nguyện không thối lui, kiên trì cấm giới, cầu chứng bồ đề, thệ nguyện tinh tấn, được bất thối chuyển.

5.        An trụ hạnh chân chính, kiên cố giữ cấm giới, cầu chứng được Bồ Ðề, ba nghiệp thường thanh tịnh, mà ở nơi chánh hạnh, an trụ không xả bỏ.

6.        Xả bỏ sinh tử, thọ trì cấm giới, thì không sát, đạo, dâm, vọng các nghiệp, có thể lìa xa sinh tử, trọn thoát quả khổ luân hồi.

7.        Ưa thích Niết Bàn, kiên trì cấm giới dứt các vọng tưởng, cho nên nhàm chán khổ sinh tử, ưa thích vui của Niết Bàn.

8.        Ðược tâm không trói buộc, giới đức được tròn sáng, tâm thể được trong sạch, tất cả nghiệp duyên phiền não thảy đều giải thoát, không có hoạn trói buộc.

9.        Ðược tam muội thù thắng, trì giới thanh tịnh, tâm không tán loạn, thì được thành tựu tam muội, định tánh hiện tiền, siêu các hữu lậu.

10.    Không thiếu của cải tín tâm, trì giữ giới luật, đối với Phật pháp đủ tâm chánh tín, thời có thể sinh ra tất cả công đức, pháp và tài không hết.

Phải biết rằng giới của Phật không thọ thì thôi, thọ thì không nên huỷ phạm, không phạm thì thôi, phạm thì rốt cuộc đoạ lạc. Cho nên người trì giới không nên vì “danh” mà động, không bị “lợi” dụ, không vì uy vũ khuất phục, thân này có thể nát, giới này không nên phá, cho nên gọi là: giữ giới như đỉnh cao núi thái, đứng một mình chót vót mà không thể động, đây mới là trì giới.

“Giới”, là một quy luật, cách luật; trong Phật giáo có giới luật, cũng có thể nương pháp mà làm; trì giới vốn là phần trọng yếu của tín đồ Phật giáo tu hành, cho nên gọi “giới là gốc của Bồ Ðề vô thượng”. Lúc Ðức Phật còn tại thế, ngài dẫn dạy hàng đệ tử rằng: “lấy giới làm thầy, giới còn thì pháp còn”. Nói rõ tánh trọng yếu và địa vị “giới”. Trì giới là duyên tăng thượng. Giới như trăng sáng lớn, hay tiêu tối tăm của đêm dài. Lấy giới làm thầy, nên cần tôn kính giới, cần siêng hộ giới, tôn trọng chánh pháp, làm các việc thiện.

Giới, giúp cho chúng ta tu thành thiện pháp, phòng ngăn việc quấy, dừng dứt cái ác, là đạo ngăn cấm cho thân tâm, khiến thân tâm không làm việc tổn hại chúng sinh, cũng tức là nghĩ ác, làm ác của mỗi kiểu, mỗi loại từng chút đều không nên có, không nên làm.

Cần được tất cả thiện pháp, thì quyết phải cần trì giới, vì tất cả thiện pháp thanh tịnh chỗ có, đều ắt phải bắt đầu từ giới luật. Cho nên trì giới chỉ là một thủ đoạn, phương tiện mà thôi, không phải là mục đích. Song nguyên nhân của trì giới chính là thông qua mình lề lối trang nghiêm, mới có thể đả phá, bỏ trừ được tất cả tậc chứng của bản thân, triệt để mở bày giải thoát mê hoặc của tất cả ngoại cảnh, mà đạt đến Niết Bàn. Giới cũng giống như pháp luật của quốc gia. Quốc gia có pháp luật, mọi người tuân thủ pháp luật, xã hội mới có thể tốt đẹp, hòa bình, an lạc. Cho nên nói rằng “giới mà không giới”.

Giới là dẫn dạy chúng ta tránh sao để khỏi phạm lỗi lầm, và cảnh tỉnh chúng ta nếu vượt qua phạm vi giới luật, phải chịu sự báo ứng của nhân quả. Giới không phải là dùng để trói buộc người tu hành. Là giống như pháp luật của quốc gia, là muốn chúng ta chẳng nên phạm, nếu phạm rồi, thì sẽ phải chịu sự khống chế, khiến cho anh phải chịu sự báo ứng của thân hiện tại.

Giới, không những biểu hiện quy củ mô phạm của hành vi tình cảm đối với con người mà còn biểu hiện quy củ mô phạm của sự thật và tư tưởng đối với con người.

Cuộc sống ngày thường của chúng ta tuỳ tiện một câu nói, một việc làm có thể khiến chúng ta cao hứng, cũng có thể khiến chúng ta giận dỗi, đều là do người khác nắm giữ chúng ta, ngay cả ưa, giận, buồn, vui cũng đều không có cách nào đối trị, tu hành làm sao có sự thành tựu!

Ðệ tử Phật cần phải khéo hộ giữ giới luật, không như vậy thì ở nơi giới pháp tức khiến có sự rò rỉ mà lọt mất, cũng có thể khiến cho hành giả trở lại nơi biển khổ sinh tử đoạ lạc luân hồi không thôi, đây là tánh trọng yếu của giới luật, người có tâm học Phật tu hành không thể không xem trọng giới luật.

Giới, là đình chỉ cái ác, thì tại sao là ác? Phàm là bồng bột ở nơi luân lý xã hội và lương tâm đạo đức, trái phạm pháp luật quốc gia, tức là ác; tư tưởng, ngôn ngữ, hành vi làm tổn hại chúng sinh, tức là ác, trái phạm mười thiện nghiệp tức là ác.

Trì giới lấy sự “nhiếp tâm” làm gốc, thân và miệng tuy không phạm giới mà tâm buông lung, chẳng gọi là trì giới, ắt cần phải thu nhiếp tâm ý, thân và miệng cố không phạm, vọng niệm cũng không sinh, mới gọi là trì giới. Trì giới tức là thủ phép, giữ quy củ, giữ trật tự. Không chỉ là giữ năm giới, mười nghiệp thiện.

Nhiếp tâm không động như gió ngừng sóng lặng. Nghe được thấy được cái gì tốt, cái gì xấu đều không mong muốn. Một khi muốn thì tâm liền động, chẳng thể yên tịnh, không tịnh thì chẳng thể định, không định thì huệ không phát.

Người bước đầu nghe Phật pháp, phần nhiều sanh tâm sợ sệt, nói rằng: “ái ái da, Phật pháp nghiêm quá! Thế này cũng phạm giới, thế kia cũng phạm giới!”; cho nên hãi sợ, chẳng chịu thọ giới, chẳng chịu trì giới. Nếu trong lòng không giữ tâm riêng tư tự lợi, không giữ niệm tâm tổn hại chúng sinh, có gì mà sợ lắm vậy! Pháp luật quốc gia nhiều như thế, anh không phạm luật, pháp quan làm gì được anh, anh không phải là sống tự do tự tại sao? Trì giới, thọ giới, có gì mà sợ lắm vậy? tức là sợ anh không muốn làm người tốt, nên mới sợ thọ giới! Cách thường nói, sáu đường chúng sinh là đồng đẳng đối đãi cũng còn tốt, tức là khổ – vui không phải một kiểu; nếu học Phật mà không trì giới, một khi mất thân người, rơi rớt trong ba đường ác chịu khổ, thế mới đáng sợ! Trì giới chính là “thuốc kim đơn” cứu pháp thân huệ mạng của chúng ta. Nếu hiểu rằng sinh tử có số phần đã định, đó là con ma cháu ma. Nếu không cam tâm đoạ lạc trong ba đường ác, thì nên cẩn thận trì giới! Giới vốn không dễ trì, vì không chạy theo thế tục, nên phát không được tâm trì giới. Trì giới cũng giống như rèn sắt, nung rồi nung, đập rồi đập, bỏ những sái vụn (sái vụn tức là tập khí) thường thường đưa vào lửa, thường thường đập rèn... đâu phải làm một cái là xong sao? Ngồi dưới tam bảo của Như Lai, đều không ăn thịt, ngay lúc ban đầu không phải là không muốn ăn đâu! Nhưng tập lâu rồi không ăn được. Nếu tâm niệm một khi sinh ra tức liền quở trách, như rèn sắt đánh hết những sái vụn. Tất cả đều là từ từ mà mài luyện, thọ không được miễn cưỡng thọ, trì không được miễn cưỡng trì, chẳng sợ trì không được mà chỉ sợ không phát tâm. Chư Phật, Bồ Tát đại từ đại bi, đưa chung ra không phải e dè chúng ta phạm giới, nhưng các thần hộ giới, họ thì không dung cho người phạm giới. Phạm nhiều không bằng phạm ít, phạm ít không bằng chẳng phạm. Chư Phật, Bồ Tát từ bi với chúng ta, tự chúng ta không từ bi với mình.

“Thọ được giới”, thì cần phải nhận rõ vấn đề “trì giới”. So như anh không sát sinh, anh muốn là không thọ giới, anh không sát sinh thì là không tạo lỗi xấu, đành vậy, nhưng anh cũng chẳng tạo công đức gì khác, anh lại không cứu người, anh có công đức gì? Những việc anh thọ năm giới, anh không sát sinh, anh cũng có công đức trì giới. Ngược lại mà nhìn, nếu là người không thọ giới, giết người rồi tức là một tội báo, anh thiếu người ta một mạng, tương lai sẽ phải trả người ta một mạng. Anh giết con vật mà ăn, tương lai người ta sẽ đem anh ra giết thịt để mà ăn, đây là bình đẳng; nhưng không có tội phá giới. Nếu là thọ giới rồi, sau khi anh bắt vịt để giết thịt ăn rồi, đời sau anh bị biến thành vịt bị người ta giết ăn, ở đây anh còn thêm một tội phá giới. Tội phá giới thì càng lớn nhiều, cho nên trì giới tức là thế này, anh trì được ổn định, công đức rất là lớn.

Trong vấn đề phạm giới, điều rất tệ hại là phỉ báng pháp. Ví dụ như Phật pháp là giả, vấn đề huỷ báng này chúng ta chẳng nên, nhưng chúng ta vẫn cứ huỷ báng. Anh nói theo người khác, nói kinh điển nào là giả, hiểu rõ người nào là thiện tri thức, có người chê bai người khác, anh theo nơi cái nghe phụ hoạ nói người khác là thiếu công đức; đây đều thuộc về vấn đề huỷ báng. Khoe khoang không khác gì là tăng thêm sự huỷ báng, giữ trong lòng không nói ra là giảm ít sự huỷ báng, tội của sự huỷ báng rất là nặng.

Ðối với giới, người thọ giới rồi nếu làm việc xấu thì thảm hại hơn nhiều so với người chẳng thọ giới. Cho nên chúng ta thọ giới rồi không thể không hiểu rõ về giới. Cần giữ gìn không phạm. Giới bị phá rồi, anh cũng như vật bị lủng lọt. Như cái bát bị lủng, đổ nước vào một hồi sẽ chảy mất hết. Cho nên “kiên trì giới luật”mấy chữ này phải ráng ghi nhớ lấy trong lòng.

Không giữ cấm giới, thì chẳng thể giữ tâm, không tu trí tuệ, buông lung ý niệm, chỉ cầu danh tốt, không thuận lời dạy đạo, chẳng chịu siêng năng ưa chuộng nghĩa độ đời.

Nhưng mà giới luật của Phật giáo rất nhiều, như là Tỳ kheo giới, Tỳ kheo ni giới... rất cơ bản là năm giới, chúng tại gia trì năm giới mười thiện nghiệp.

Trì giới quyết cần phải không thời khắc, tuỳ thời tuỳ chỗ đều nên phải sinh khởi chánh niệm (niệm chánh đáng), quyết cần phải dứt khoát đủ niệm đầu và lý tưởng chân chánh, nên lấy đại từ và đại bi làm nguyên tắc, do đó ở trong tình huống xấu ác niệm không theo đó mà sinh khởi, tự nhiên có thể ngăn dừng ý nghiệp; đã không có ý nghiệp, tức không có thân nghiệp và khẩu nghiệp, ba nghiệp tức được thanh tịnh.

C. NHẪN NHỤC

Nhẫn là tâm có thể nhẫn, nhục là cảnh được nhẫn. Tức là nhẫn nại tất cả khổ đau, chịu được sự khinh khi lăng mạ, không tranh đấu với người khác. Thường tình rất là khó nhẫn, chẳng gì bằng bị hiếp đáp nhục nhã, nhục mà nếu có thể nhẫn, thì nhẫn với cái khác so ra cũng dễ làm được. Ðối với sự nhục mạ gia hại của người khác, không sinh tâm sân hận, gọi là nhẫn nhục. Nhẫn nhục cũng là nhẫn nại, không luận làm công việc gì, đều cần có lòng nhẫn nại.

Nhẫn nhục: đối với việc lợi dưỡng, suy tàn, chê bai, khen ngợi, xứng ý, quở trách, khổ não, vui vẻ – tám việc ấy đều để ra bên ngoài, đối việc trái ngược tâm tư, đều an tâm nhẫn chịu, tức gặp người chửi mình, đánh mình, thậm chí giết mình, nên giữ lấy sự báo ơn ở nơi tâm Bồ Tát, xem những việc này, dùng để tiêu trừ nghiệp chướng đời trước của ta, giúp nhân duyên cho ta thành Phật, lại nữa Bồ Tátcũng chẳng phải giả trau chuốt diện mạo bên ngoài, bướng bỉnh chịu lấy sự ăn thiếu thốn, để rộng chứa danh nhẫn có thể so sánh.

Pháp môn nhẫn nhục, từ cạn đến sâu có năm việc không đồng:

1.      Sanh nhẫn:

Tức là mỗi khi bị nỗi nhục đến, không cách chạy trốn, không cách chống cự, chỉ nên kiên cường một lòng nhẫn nại với nó, nhưng tâm lý cảm thấy khó thọ nhận, đau khổ mười phần, cho nên gọi là sanh nhẫn.

2.      Lực nhẫn:

Chúng ta đối với nỗi nhục khi nó đến, không để cho người khác bàn bạc, dùng sức khả năng rất lớn, lui một bước, nhường ba phần, đem nó đè ép xuống, một lòng xưng niệm danh hiệu Phật, nhờ sức từ của danh hiệu Phật, đem tâm phẫn hận mà an định, cũng giống như đè bình hồ lô trên mặt nước, chẳng thể buông tay, một khi buông ra thì hồ lô lập tức nổi trở lại, nên gọi là lực nhẫn.

Hai việc nhẫn trên đây gọi là sự nhẫn

3.      Duyên nhẫn:

Ngay lúc nỗi nhục hiện ra, chúng ta dùng trí tuệ một mực “hồi quang phản chiếu” (chiếu rọi lại tự thân tâm mình), tu phép quán nhân duyên. Chín chắn mà nghiên cứu vì sao vô cớ lại chịu nhục, bị đòn, bị chửi mắng, trong đó nhất định có những nguyên nhân. Bị ngừơi hiếp đáp làm nhục đều là nhân duyên đời trước mà quả ác bây giờ cảm chiêu lấy, nên đời này theo nghiệp mà thọ báo. Là cho ý tưởng thọ báo trở thành ý tưởng trả nợ, tự nhiên lấy nỗi nhục khó có thể nhẫn thọ, ngược lại là thọ một cách thuận tiện, tâm tình thoải mái, không sinh sân hận, cho nên gọi là duyên nhẫn.

Người xưa nói rằng: “có tâm bao dung thì đức mới lớn, không tham muốn thì khí mới trùm”.

4.      Quán nhẫn:

Mỗi khi ngay lúc nỗi nhục phát sinh, thì dùng trí tuệ “không quán” ra để mà chiếu rọi quan sát, rõ được tâm, thân, thế giới, tất cả các pháp, xưa nay “vô ngã” để được (không có cái gì ta có thể được). “Ngã” là không, thì trong đó còn có ngã nào bị hiếp đáp nhục nhã ư?cho đến cảnh giới bị nhục? Ðây tức là “tướng ngã” có khả năng KHÔNG và “nỗi nhục” được KHÔNG, cả hai cái hoàn toàn là KHÔNG, cho nên “tướng nhục” ở khoảng giữa, đương nhiên cũng là trọn không thể có được. Cũng vậy, tâm sân hận của muôn việc ác đó tự nhiện sẽ không thể phát sinh. Cho nên gọi là quán nhẫn.

5.      Từ nhẫn:

Bồ tát mỗi khi gặp nỗi nhục đến, không những không sinh tâm sân hận, mà ngược lại phát tâm từ bi, thương xót nghĩ tưởng người này thực tại ngu si đáng thương, vô lý chuốc lấy ồn ào, vọng sinh nhánh nhóc. Hiện tại đánh chửi, làm nhục ta, ta có thể nhẫn thọ, như không có việc đó, chẳng thể báo trả lại. Nếu đối với người khác mặc ý huỷ nhục, nhất định phải chịu đến lúc đáp trả lại, chửi nhau, đánh nhau, đây kỳ thật cũng tức là mượn miệng người khác chửi mình, mượn tay người khác đánh mình. Càng nghiêm trọng thậm chí phát triển đến thương tật tàn phếnhân mạng, chịu lấy sự phán xét của pháp luật, tương lai khó trốn khỏi sự báo ứng của nhân quả, do đó khởi “vô duyên đại từ” phát xuất “đồng thể đại bi”, tuỳ nghi phương tiện giáo hóa, khiến cho người khác hiểu rõ qua lại, biết lỗi phải sửa đổi, dứt ác tu thiện, cho nên gọi là từ nhẫn.

Ba món nhẫn này gọi là lý nhẫn.

Nhẫn nhục không những là nhẫn cái nhục của người khác đem đến cho mình, đồng thời càng phải nhẫn cảnh chính mình gặp gỡ. Nếu ở trong nghịch cảnh khốn cùng bệnh khổ, nhẫn khiến cho niệm suy đồi, thấp hèn không sinh; ở trong thuận cảnh giàu sang, nhẫn khiến cho niệm kiêu căng, mê đắm không khởi; ở trong thường cảnh không thuận không nghịch, muôn pháp sinh diệt, nhẫn khiến cho niệm dời theo sự di dịch không sinh, chịu sự hiếp đáp nhục nhã không sinh sân hận, gặp sự khen ngợi không sinh hoan hỉ.

Nhẫn nhục không chỉ là nhẫn sụ hiếp đáp nhục nhã, giết hại, hai cảnh thuận nghịch trên tâm lý, mà cần phải nhẫn đói khát, lạnh, nóng, thương đau, các khổ trên sinhlý. Nhẫn nhục là chiến đấu cùng với phiền não của nội tâm, phiền não từng lúc máy độngở nơi tâm của ta và người, nếu một lòng không chịu nhẫn, tức phiền não sẽ chiếm cứ vị trí trên tâm của người ta.

Nhẫn nhục chủ yếu bao hàm: 1. Tâm nhẫn nhục phi thường. 2. Nghị lực kiên cường. 3. Xa lìa phẫn nộ. 4. Xa lìa tất cả xung động. 5. Lúc chịu nhục có thể vượt khởi tâm khoan dung tha thứ.

Ðây là năm món nội tâm nhẫn nhục, mới là nhẫn nhục chân chánh. Quyết cần phải phát khởi tâm từ bi từ nội tâm, khoan thứ tất cả, nếu như việc khởi tâm sân hận thì khổ não khó mà kham chịu.

Nhẫn nhục là một loại biến chiến tranh thành giao hảo, biến hung ác thành tốt hòa, tiến đến hiện bày đại từ đại bi, đồng thời cũng là pháp môn chủ yếu”trên cầu phật đạo, dưới giáo hóa chúng sinh”.

Nhẫn nhục là: nhẫn cái khí, nhẫn cái khổ và nhẫn cái vui.

“Nhẫn cái khí”, là nói ngay người khác hiếp đáp nhục mạ, làm tổn thương, chẳng khởi tâm oán hận, phẫn khí. Không đi kể lể, không khởi tâm trả báo, chẳng cùng đối phương thường hay gặp biết, là muốn lui một bước, bất kể người khác đối với ta như thế nào, đều cần phải nhẫn cho được, tức là chẳng nên phát nóng giận, thêm nữa dùng tâm từ bi để nhìn và tiếp đãi đối phương, vui vẻ hít vào mà tiêu mất khí nóng; Như người đời: bôi nhọ, khinh khi, làm nhục, chê cười, dối gạt, khinh tiện, ghét... các việc đối với ta, phải có cách gì? Nhẫn nhịn, chịu đựng, tránh né, cung kính, không lý sự đối với họ; đây gọi là cái nghịch đến mà thuận thọ nhận, không nên châm chọc với nhau, mới là nhẫn khí.

Người đời hiếp đáp nhục mạ ta, chê bai ta, là tự mình còn có khuyết điểm,nên phản tĩnh tất cả việc làm của mình, nếu có khuyết điểm thì dốc sức sửa đổi để tiến bộ. Lúc chịu nhục còn cảm được vận may, cảm tạ người ta xét nghiệm ta, khiến ta có cơ hội tu “nhẫn nhục”, cảm tạ họ cho ta tiêu được tai ách. Anh nhẫn rồi, việc không còn, được thái bình. Nếu nói ta cũng nhẫn không được khẩu khí này, như thế ta làm sao? Cần phải có cái tư tưởng như thế này: họ chửi ta - còn tốt không đánh ta, họ đánh ta - thật là vận may họ không giết ta, ngón tay bị đâm một cây gai - còn may mắn không đâm trong tròng mắt, thì chẳng thể buồn bã hay giận dữ được. Nếu gặp lúc giận, thì phải nhẫn, biến nhẫn thành tha thứ, tha thứ rồi tha thứ! Cần chuyển xoay tư tưởng đến chỗ tốt đẹp, nếu chuyển đến chỗ xấu xa, thế thì thảm lắm, khổ não nhẫy đầy!

Nhẫn khí, không phải là nhẫn thọ, càng không phải là đem cái khí căm phẫn, buồn phiền ở trong tâm mà đè nén ức chế chính mình; mà là đối cảnh (chẳng hiểu được) có cảnh, đây mới gọi là nhẫn khí, như người khác chửi ta, mà không hiểu họ đang chửi ta, mà họ đang chửi chính mình, hoặc là đang biểu diễn ca múa.

“Nhẫn cái khổ”, là nhẫn áo mặc, đồ ăn, ở, đi, lạnh, nóng, đói, khát, bệnh, đau... các điều khổ. Ăn được no, mặc được ấm, ở có nhà, đây không kể là khổ. Ăn, chủ yếu là bụng không đói, miệng không khát, có thể duy trì được thân thể khỏe mạnh, có sức sống, có khí lực. Ăn vật ngon dở là xem đối với sức khỏe của thân thể được lợi ích lớn hoặc nhỏ để phân biệt đó là ngon hay dở, không phải là phân cao thấp ở trên giá trị và cách thức, nghĩa là giá tiền cao là tốt mà giá tiền thấp là không tốt. Áo, đồ nhãn hiệu, đồ mặc đẹp dùng để đi lại, mà y phục phổ thông cũng là đồ mặc; áo chủ yếu là để chống lạnh che thân. Ở, nhà to hoa lệ gọi là chỗ ở, mà nhà nhỏ bình thường, nhà lá cũng là chỗ ở; ở chủ yếu là ngăn gió che mưa, không rọi mặt trời, tối đến ngủ được.

Người học Phật tu hành ở trên cuộc sống vật chất là làm sạch nỗi khổ, tuy nhiên có tiền, có địa vị trên xã hội, có danh vọng, cũng không thể giống như ngoại đạo làm ra vẻ của chốn phồn hoa như thế, bày biện giàu có, chạy theo mốt, chất đầy cửa, ưa sĩ diện. Ăn, không cầu sơn hào hải vị, miệng muốn hưởng thụ. Áo mặc, không cần áo lụa hàng bông hoa. Ở, không cầu lầu cao nhà lớn.

“Nhẫn cái vui”, là ngăn trừ tất cả vật phục sứctrên thân và hưởng lạc trên cảm quan, như không hút thuốc, không uống rượu, ít giao tế qua lại, chẳng ca múa xướng vui, chẳng bước chân tới chỗ trường hát, cờ bạc, ngay cả ti vi cũng ít xem, để tâm khỏi bị tán loạn không chuyên nhứt, ngăn ngại việc tu hành. Có tâm dục lạc, tâm cũng không dễ gì yên tĩnh, tâm không yên tĩnh làm sao có thể định. Cuộc sống bình thường không cầu buông thả và khoái lạc, thì cũng không ưu não và cũng không sợ sệt.

Nhẫn nhục, nhân vì tập khí nên nhất thời khó nhẫn nại, chỉ cần hạ quyết tâm, có nghị lực, có tâm thường xuyên, thì có thể làm được thôi.

D. TINH TẤN

Tinh tấn, không xen tạp, gọi là TINH, không thối lui gọi là TẤN. Ý của tinh tấn là: tinh là tinh thần, chỉ tâm không xen tạp cái ác. Tấn là không thối lui, không giãi đãi, không buông lung, là ý nói sự nỗ lực, đủ có ý chí kiên cố, chỉ có sự cố gắng tiến tới trước không dứt, không có tâm lùi về sau, nghịch lý và ý chí có thuỷ có chung.

Tinh tấn; phàm người tu hành Phật đạo, như nông phu làm ruộng, không nên sợ cần khổ, mới có thể có thu hoạch; lại như người buôn kinh doanh sự nghiệp, không được gián đoạn, mới có thể được lợi. Nông phu nếu sợ khổ thì ruộng kia sẽ bị hoang phế, người buôn nếu bị bể việc thì làm sao có thể mong doanh nghiệp được lợi, đạo lý trong đây mọi người đều biết. Tu học đạo, nông phu làm ruộng và người buôn bán, là một kiểu đạo lý, nên chẳng được làm biếng, không được gián đoạn. Ở ngay trong vô lượng pháp môn, điều phải nên là “thâm nhập một cửa”, mới có thể thành tựu. Nếu muốn các cửa đều học, là tuyệt đối không thể thành tựu được. Các cửa đều học, đó là việc sau khi “một cửa” thành tựu, một cửu thành tựu rồi, thì vô lượng pháp môn khác một khi xem, một khi nghe lập tức đều thông đạt hết.

Tinh tấn có thể đối trị ma chướng giãi đãi (lười biếng), phá phiền não ác, trừ các phép ác, não phiền, bức bách.

Người tinh tấn ở trong vấn đề dứt ác tu thiện mạnh mẽ cố gắng, vì thể tánh đối trị biếng lười, hoàn thành đầy đủ việc thiện để làm chỗ dùng của nghiệp.

Cho nên “đoạn ác tu thiện”, trước tiên chỉ cần đoạn trừ tất cả pháp ác, siêng tu tất cả pháp thiện, mới có thể đạt đến chỗ gọi là “tinh tấn”, dõng mãnh mạnh mẽ. Ðó chỉ là dứt các pháp ác đã có, mà trong tu thiện quyết cần phải trực tiếp dứt trừ, ý chí kiên cường đã tinh càng muốn tinh thêm, không ngừng gắng tiến về phía trước, vì không sợ khó, không sợ khổ, và quyết xả tinh thần lớn mạnh có thể xả, mới có thể đối trị được giãi đãi, và làm cho tròn đầy một cách tích cực tất cả việc thiện thế gian và xuất thế gian. Chỗ gọi rằng: “hoàn thành đầy đủ việc thiện” là chỉ cho trong quá trình tu hành, cần phải tích cực nơi việc thiện để khắp độ chúng sinh.

Tu tập Phật pháp, không có thể lúc làm lúc nghỉ, hôm qua như vậy, nay lại là như vậy, tu hàng ngày - tu hàng năm - tu trọn đời, không nên quá gấp, không phải một năm hay muời năm thì có thể tu xong, quá gấp dễ sinh mỏi mệt nhọc nhằn, làm thương tổn sức khỏe, cũng không nên quá kéo dài, nhiệt tình chỉ có năm phút, ngày nay không tu còn có ngày mai, năm này không tu còn có sang năm, kéo dài quá, dễ khiến thân tâm biếng lười buông lung, trong tất cả nên phải thích ứng. Tinh tấn như giọt nước chảy lâu làm xuyên đá núi.

E. THIỀN ÐỊNH

Thiền định độ cho sự tán loạn: chúng sinh thì tâm tính tán loạn, vọng tưởng lăng xăng, tâm như vượn, ý như ngựa, luôn nghĩ đến sự ruổi dong, từng sát na dừng niệm, sinh niệm, niệm niệm không dừng, nên tu thiền định để thoát thân tán loạn.

Thiền định tức là đem tâm này an trụ, không buông thả nó tản ra, nghĩ đông nghĩ tây tạp loạn không rõ ràng.

Thế nào gọi là thiền? Tức là nhất tâm xét vật là thiền. Thế nào gọi là định? Tức là tĩnh lặng tư duy một cảnh là định. Ý nghĩa và mục đích chân chánh của thiền định là ở trong “tịnh lự” (tĩnh lặng tư duy) tập trung tinh thần, thống nhất tư tưởng, trừ bỏ tất cả vọng tưởng tạp niệm, tình tự không xung động, cảnh tịch tình không, thoát ly thế giới huyễn tưởng chủ quan, mà nhập vào thế giới an bình tĩnh lặng chân chánh.

Thiền định, mục đích chủ yếu là “nhiếp các tâm loạn”; do vì con người ở nơi cõi dục, chỗ chỗ tâm loạn nhẹ thổi, có lúc như lông chim hồng bay lên, đều là dong ruổi phân tán không dừng, chẳng thấu rõ sự chế ngự của thiền, chẳng dễ gì được định, chỉ có thấu suốt thiền định, mới có thể triệt để rửa hết và tiêu diệt ma chướng tán loạn trong tâm, ma được trừ bỏ, trí huệ tự nhiên tăng trưởng. Chỉ có thấu suốt thiền định - tịnh lực, mới có thể giải thoát phiền não căn bản của sinh tử, cũng tức là nói “thiền dịnh có thể thống nhất tinh thần - dừng, lặng, yên, định, sau tiến đến mà thay đổi, chuyển tĩnh lặng để đoạn trừ các chướng mê hoặc: tham, sân, si, mạn, nghi của nhân loại”. Cản trở phiền não xâm lấn, không bị trở lại cái mê, cái hoặc của ngoại cảnh, không theo cảnh mà khởi sinh diệt.

  Thiền định tức là lìa tất cả tướng ở bên ngoài, tâm tánh bên trong không loạn. Nếu chấp trước tướng của ngoại cảnh, tâm tánh bên trong cũng sẽ hỗn loạn. Có thể lìa được tất cả các tướng ở bên ngoài, tâm tánh ở bên trong cũng có thể bất động.

Tâm niệm đối với tất cả cảnh giới thiện ác không khởi, tịnh không phải là chỉ giống đầu đá, người gỗ không hay không biết khi đối mặt với ngoại cảnh, mà là niệm không chấp trước. Gặp duyên đối cảnh, lý vả đáng có chỗ phản ứng vẫn vậy có chỗ phản ứng. Ví như lái xe trên đường, gặp đèn đỏ thì dừng, đèn xanh thì đi, tâm không trở ngại, tức là “ứng với không chỗ trụ mà sinh tâm đó”. Nhưng phải thiết tha mà nhớ rằng: ứng với không chỗ trụ mà “không” sinh tâm đó, như thế càng hay.

“Ứng với không có chỗ trụ mà sinh”, cũng chẳng qua là niệm niệm không chấp trước mà thôi! Con người, xưa nay là Phật, ngược lại nhận đồng với mình là phàm phu, trái lại cho là Phật cao không thể vin tới được! Chỉ có đả phá chấp trước nhận thức mình là phàm phu, bản lai diện mục của Phật mới có thể “nước trong cá hiện”, nếu như nhất định có chỗ chấp trước, thì không được nhận đồng: tự mình là Phật.

Người bước đầu học tập Phật pháp, thô tháo náo loạn ở nơi tâm rất nhiều, định lực không đủ, trong một sát na niệm trước diệt, niệm sau khởi, niệm niệm liên tục với nhau, trọn không dừng dứt, nên phải khởi được chánh niệm, từ từ có thể khiến cho tâm niệm thanh tịnh, mà đạt đến vô niệm; công phu này việc cần thiết là phải chu đáo tỉ mỉ, thời gian lâu, mới có thể vào định, đạt tới cảnh giới vô niệm. Tốt xấu, chê khen, mừng giận đều không khởi tâm động niệm, mới có định lực.

Niệm Phật cũng là một phương pháp thiền định. Có thể niệm cho tới khi miệng không niệm mà tâm ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, niệm Phật có công phu rồi, cách “niệm Phật tam muội” không xa.

F. TRÍ HUỆ (Bát Nhã)

Trí huệ được chứng đắc từ thiền định, tức được gọi là: trì giới mà được định, từ định mà phát huệ. Nhưng trí huệ này tịnh mà không phải là trí hữu lậu: thông minh, đa văn, bác học của người đời; mà là chánh trí viên dung vô ngại. Trí tuệ này có khả năng chiếu phá tất cả khách trần phiền não, hiển bày bản tính chân như rõ biết tất cả chân tướng của vũ trụ. Có được trí huệ đối với tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian, vạn tượng vũ trụ, là không chỗ nào chẳng biết, không chỗ nào chẳng hiểu, có thể thông đạt sự lý, phân biệt thị phi, phá trừ các món mê hoặc. Chính xác rõ hiểu chơn tướng các pháp và khế hợp nhận thức chính xác của chân lý, vì sao có thể làm, rất rõ ràng nên lời nói cũng viên dung.

Tu sáu pháp Ba La Mật quyết cần phải cùng giúp cùng làm, không được thiếu một pháp. Vì huệ mà không có định chưa có thể thọ dụng, định mà không có huệ chưa khỏi trầm mê, mà chẳng trì giới bèn trở ngại cho việc chứa nhóm thiện pháp. Ba món học gồm đủ mà không bố thí lại không thể nhiếp hoá chúng sinh, bố thí mà không tu ba món học thì chỉ trồng phước báo trời, người. Trì giới mà không nhẫn nhục thì khó điều hòa khí sân nhuế. Có tinh tấn mà không có các pháp (độ) khác thì luống uổng công phu. Có các độ mà không có tinh tấn thì ban đầu siêng năng mà sau giãi đãi. Cho nên nhất định phải sáu độ cùng tu, mới có thể hành hai việc lợi (tự lợi, lợi tha) của hàng đại thừa Bồ Tát một cách viên mãn.

Hành giả tu Bồ Tát, ngoài việc siêng tu trì sáu độ BaLaMật ra, còn cần phải hành “ Bốn phép nhiếp”, mới có thể vào sâu trong nhân loại mà cứu độ chúng sinh.

G. BỐN PHÉP NHIẾP

Bốn phép nhiếp tức là: Bố thí nhiếp - Ái ngữ nhiếp - Lợi hành nhiếp - Ðồng sự nhiếp.

Bố thí nhiếp: Nếu khắp độ chúng sanh quyết cần phải đi sâu trong nhân sinh, tiếp cận cùng với người được độ thì mới có thể đạt đến nguyện vọng của mọi người

1.    Bố thí nhiếp: Là đối người nhu cầu tiền tài dùng “tài” để bố thí; đối với người cầu biết tâm làm trọng thì dùng “pháp” để bố thí. Thích hợp với thời gian, không gian đầy đủ nhu cầu của chúng sinh, khiến cho tâm kia được hoan hỷ, do cảm cái ơn mà tiếp nhận sự giáo hóa, mà đạt được mục đích hóa chúng sinh.

2.    Ái ngữ nhiếp: Thường đối với người nói lời hòa vui từ ái, lời nói hài hòa đáng thân, khéo nói tiếp đãi với người, nói lời mà khiến người nghe sinh tâm hoan hỉ, nguyện ước muốn nghe, cũng vì đạt đến mục đích hóa độ chúng sinh. Ái ngữ không phải là lời nịnh hót, hoa mỹ hoặc nói dèm pha.

3.    Lợi hành nhiếp: Dùng các việc làm của thân, miệng, ý đều có lợi cho người, toàn tâm toàn ý vì mọi người mà phục vụ, khiến cho họ vui vẻ, cam tâm tình nguyện cùng tu đạo Phật, nương theo lời dạy mà vưng làm, cũng vì đạt đến mục đích độ người.

4.    Ðồng sự nhiếp: Vào sâu trong xã hội, công tác cùng với mọi người, cùng sinh hoạt, gần gũi với nhau, khiến cho bên kia bên đây tình như thủ túc, ở nơi hoàn cảnh khế cơ họp duyên mà hóa độ họ.

Thông thường nói rằng: Bồ Tát vì thành tựu Phật đạo tối hậu mà tu: Sáu độ “Balamật “ và pháp môn lợi tha “bốn phép nhiếp”; Quyết cần phải lấy “bốn tâm vô lượng” làm căn bản, mới có thể chân thật phát huy mục tiêu lợi tha.

12. BỐN TÂM VÔ LƯỢNG

Tâm vô lượng là không có phép hạn lượng, ý là rất khó mà giới hạn suy lường. Bốn tâm vô lượng còn gọi là “bốn đẳng tâm”. Ý là chỉ lấy tâm bình đẳng mà không sai biệt để giáo hóa lợi ích tất cả chúnh sinh. Ở đây nói đơn giản như sau:

1.    Tâm từ: Từ là chỉ niệm ái, tức cho ta an lạc. Tức là nghĩ yêu chúng sinh mà cho chúng sinh an lạc.

2.    Tâm bi: Bi - là chỉ sự thương xót, tức là tâm dẹp đi khổ. Cũng là nghĩ thương chúng sinh chịu các điều khổ, mà thường ôm lòng bi, cứu giúp chúng sinh thoát ly khổ đau.

3.    Tâm hỉ: Thấy người ngăn ác làm lành, sinh tâm hoan hỉ; thấy người lìa khổ được vui, sinh hoan hỉ; tâm nầy khắp duyên nơi chúng sinh.

4.    Tâm xả: Xả là bỏ xả tâm từ, bi, hỉ đã làm, đều không để ở trên tâm, xả mà không còn dính mắc, oán, thân, ghét, yêu thảy đều buông bỏ.

Vui vẻ cùng chúng sinh gọi là Từ, cứu khổ chúng sinh gọi là Bi; thấy chú ng sinh lìa khổ tâm sinh vui sướng gọi là hỉ; Một mực bình đẳng đối với chúng sinh, kẻ oán người thân đều xả mà không còn dính mắc gọi là xả. Tu trì bốn tâm trên còn khả năng: không sinh chấp trước.

CHƯƠNG I

13. TỰ TỊNH KỲ Ý (Tâm thanh tịnh)

“Tự tịnh kỳ ý” tức là tự tâm được thanh tịnh, tâm không động niệm. Không vọng tưởng, không tạp niệm, không phiền não, việc ác không nghĩ tưởng, việc thiện cũng không nghĩ, việc của hiện tại ( trừ việc đang công tác ) không nghĩ, không nghĩ việc của vị lai; Ðem muôn niệm tập trung nơi một niệm - chỉ niệm Phật. Có thể làm được như thế này tức là cảnh giới tâm bất loạn, không có công phu tương đương thì làm không được. Có thể làm được việc không có phiền não thì chỉ chánh niệm, không phải là tà niệm, chỉ có thiện niệm, không phải là ác niệm; Tức là đúng vậy.

Tâm thanh tịnh không phải là chỉ nói, nói thì không có thể làm được, có người tu đến vài mươi năm ngay cả một chữ “tham” cũng không quên được, một chữ “ái” cũng còn thường tại ở tâm đầu. Nếu muốn tâm được thanh tịnh, chẳng hạ một lần quyết tâm thì chẳng thể được! Có thể xả - là có thể xem cho rõ, buông cho rời; Nếu rốt cuộc ở nơi tình đời việc thế tục cứ lay chuyển, tâm làm sao có thể tịnh được?

Tâm thanh tịnh không phải là giống như người bằng đá, thế nào đi nữa đều không nghĩ tưởng; mà là nhất tâm chế ý, gặp việc không mê, chỉ có chánh niệm, không có tà niệm, tức là lúc ăn cơm nhất tâm ăn cơm, ăn rồi lại nghỉ ngơi, lúc công tác nhất tâm công tác, công tác rồi lại nghỉ ngơi, không đình trệ ở trên niệm đầu, không dừng giữ ở nơi niệm quán, cũng như chim bay qua bầu trời không để lại dấu vết.

Ví dụ như: Gặp có người đang bán chim, mà anh muốn mua chim để phóng sinh, nhưng tiền trong túi không đủ, việc mua không thành, trong lòng nghĩ rằng ngày hôm nay có thể mang nhiều tiền hơn một chút thì tốt hơn nhiều, đây tức là vọng tưởng. Lúc ăn cơm thì nói rằng đồ ăn của ngày mai ngon, đây cũng là tạp niệm. Con cái có việc ra khỏi nhà bảo nó về trước hai mươi mốt giờ, nhưng qua hai mươi hai giờ chưa thấy nó về, anh lại đợi nó mà không đi ngủ, tức là buông không rời. Gặp cảnh thuận thì cười híp mắt, gặp cảnh nghịch, bị cảnh chuyển mặt mày ủ rủ khổ sở, tức là phiền não.

Tu tâm thanh tịnh, nhất định cần hạ quyết tâm rất lớn, tâm thường xuyên tâm nhẫn nại, cũng tức là nói “đắm nhiễm tình đời” (nghĩ tưởng bận tâm về người, việc, vật của thế gian), chúng ta nên xả ly càng nhiều càng tốt, rốt cuộc cũng chẳng cần nghĩ tưởng bận tâm, đem cái niệm nghĩ tưởng bận tâm chuyển biến thành cái niệm: NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT; Ðem lợi ích nhà và thân của mình (thân là người gốc, nhà là gia đình của ta) cũng là khởi tâm động niệm, đều là cái niệm lợi ích cho nhà và tự thân (chỉ là nghĩ tưởng mình, không nghĩ tưởng chúng sinh) đem niệm đầu nầy chuyển biến làm lợi ích cho tất cả chúng sinh, không nghĩ tưởng mình, thế nầy tâm chúng ta cũng thanh tịnh nhiều rồi; có thể làm được vấn đề khởi tâm động niệm chỉ là ADIÐÀPHẬT, tịnh không có niệm khác, nhất tâm chỉ có ADIÐÀPHẬT, không bị ngoại cảnh chuyển. Như vật tâm chúng ta cũng thanh tịnh.

A/ NHÌN RÕ – BUÔNG RỜI

Nhìn rõ, tức là nhìn xem tất cả giả tướng của thế gian, tất cả vô thường, như sinh không mang gì lại, tử không mang gì đi, có người khác cũng tốt, không người khác cũng tốt; người có tiền cũng là người, người không tiền cũng là người; người có tiền ăn nhiều cá nhiều thịt gọi là ăn no, người không tiền ăn rau xanh, đậu hũ cũng là ăn no; người có tiền nhiều người khác gặp đến nể mặt, người không tiền, người ta không gặp không nể mặt. Nhưng người có tiền có được bao nhiêu việc không khổ não buồn lo? Người không tiền tự mình nhìn thấy mình, không đi phân biệt có tiền hay không có tiền, tốt xấu được mất, không thể vì không tiền thì không có sĩ diện mà tự ti, cuộc sống được mãi vui vẽ, tự tại ở chỗ cảnh thuận thì vui, gặp cảnh nghịch cũng vui, tâm vui thì cảnh thường vui. Biết (tin) lý nhân quả thì “nhìn được rõ”. Bi thương, sợ sệt, buồn lo, bận tâm, tham lam, phẩn hận tức là nhìn không rõ.

Buông rời tức là không chấp trước: người, việc, vật các món của thế gian, như tiền vàng, tài sản, người thân, nam nữ, ăn uống, ngọc ngà châu báu, bảo vật... Không đem nó mà để ở trên tâm, có cũng như không, chẳng mong ngóng nó, chẳng vì nó mà bận tâm, so tính lo buồn.

Ðem người, vật, việc của thế gian từng cái, từng cái nắm trên tay mà quẳng đi, buông đi buông càng nhiều càng nhẹ, buông càng triệt để thì càng không bận tâm, cái đồ ở trong tâm không còn (hiện thực thì hãy còn) chỉ là trong tâm không có nó mà thôi, tâm mới có thể bình tĩnh, bình được tâm thì mới đầy đủ, đầy đủ thì mới buông được rời. Việc hôm qua không hối, không oán, việc của ngày nay không tham không cầu, việc của ngày mai không lo không sợ.

Nhìn cho rõ, tức là nhìn tất cả giả tưởng, tất cả vô thường của thế gian, đây có thể học tập từ trong văn tự, lời dạy trong kinh điển rất nhiều đạo lý của phương diện nầy đều đưa ra cho chúng ta “nhận thức nhìn được rõ”.

Nhưng buông cho rời, cũng không đơn giản, nói thì dễ mà làm thì rất khó, không có niềm tin kiên cường, càng không nên phí một phen, cố sức mới có thể dẹp thoát sự ràng buộc kìm hãm này; như gặp lúc khó khăn trọng đại, ô nhục hoặc vấp ngã, hoặc những việc không như ý, thì nên không có ngày tiếp tục trở lại việc này.

Buông cho rời tức là buông rời việc thế gian như: tham, sân, si, mạn, nghi, như tiền bạc, tài sản, sự nghiệp, người thân... của chúng ta; Nói chung là căn tánh thấp hèn của con người, việc này thì không dễ dàng. Nếu đối trị với căn tánh thấp hèn này thì cần dùng một cái khác “Tịnh”, để đối trị. Như bố thí, trì giới, sám hối, những việc này không phải là lý Phật cao siêu, tức là cần việc làm. Cũng như bố thí, tức là đối trị tham dục, bố thí càng lớn, càng triệt để, thì càng có thể giảm thấp đi dục vọng của con người, tâm tình sẽ ngày càng nhẹ nhàng sảng khoái, cảm thấy nợ nần ít đi, trong lòng thoải mái, đây tức là kết quả của việc làm bố thí. Ngược lại, nếu bố thí rồi mà khiến cho anh càng thêm chấp trước công đức, rồi truy cầu, tham đắm danh tiếng của bố thí, hư vinh đầy đủ cho tự tâm, đây cũng là biểu thị trạng thái của tâm không đúng rồi, đây cũng là “buông không rời”. Ngoài ra những việc khác như trì giới thì phải thanh tịnh, nếu như không có thì phải điều chỉnh thêm nữa, lý tánh thì nhiều, cảm tánh thì ít, hoặc là bài trừ tâm sở cầu mà làm việc thiện.

Buông được rồi, cần tâm đầy đủ, tâm đầy đủ mới có thể buông được, tâm đầy đủ là tâm địa tự bình. Tâm không đẩy đủ là buông chẳng rời, như không có tiền thì muốn có tiền, có tiền rồi lại muốn có nhiều hơn, càng nhiều càng tốt, tâm làm sao có thể bình. ( Tâm đẩy đủ không phải là đầy đủ cho tâm tham vọng ham muốn của mình, mà làm tâm “thiểu dục, tri túc” vậy). Nếu như chấp dính việc thế gian mà không buông xả, thì ở nơi việc vãng sinh là một món chướng ngại lớn.

Người đời nhiều đời nhiều kiếp, tâm sinh chấp dính cái được ở thế gian, chỉ sợ mất đi, tham luyến mà buông xả không được, lại còn tìm cầu cho đầy đủ đời này, thì ắc sẽ chuốt lấy khổ não càng nhiều cho chính mình, cũng sẽ ngăn trở con đường vãng sinh thế giới Cực Lạc.

B/ TÂM BÌNH THƯỜNG

Tâm bình thường tức là: Trực tâm, tâm dài xa, không tạo tác, không an bài, không phân biệt, việc để trong nội tâm là yên ổn tĩnh lặng và bình hòa, cả một năm, suốt một đời, thường thường như vậy tức là bình thường. Ví như: Người đời tiếp khách quen, chỉ dùng trà cơm bình thường không bày biện sắp đặc, tiếp đãi thế nầy có thể dài lâu, tức là bình thường; Như có quý khách đến bày ra bao nhiêu kiểu đồ ăn ngon, đây thì không bình thường, chỉ có thể tiếp đãi mười ngày nửa tháng, nhà không lễ thường, cho nên tiếp đãi chẳng bình thường, thì chẳng dài lâu được.

Tâm bình thường là tâm hàng ngày biểu thị việc nên làm tự nhiên trong cuộc sống ngày thường, không bị niệm lăng xăng, cố chấp,lộn xộn làm trở ngại, không miễn cưỡng công tác liều mạng chính mình, mà có thể làm việc một cách yên ổn thỏa đáng thuận lợi theo lệ thường ngày, khiến cho sinh hoạt chính mình không bị trói buột.

Chúng ta chỉ cần lấy tâm bình thường để đối mặt với cuộc sống hiện thực, không phân biệt tốt xấu, được mất, giàu do người khác giàu, nghèo do người khác nghèo, bệnh do người khác bệnh, già cũng do người khác già, tùy thuận tự nhiên không cưỡng cẩu, mở thoát những việc trói buộc buồn tình này, mặc cho bốn mùa biến đổi, đều là thời tiết tốt tươi.

Tâm bình thường là một cái tâm giữ được sự quân bình mà thuần khiết, có trí huệ viên dung vượt thoát nổi lòng ôm ấp, không bị sắc tướng cõi dục làm mê, không bị huyễn tưởng trần lao làm lầm lạc ( dối gạt ), tâm trong sáng tự tại, bình thảng vui tươi, trải qua cuộc sống vui vẻ đơn thuần.

Con người có tâm chân thật, nhẫn nhịn, bình ổn và tha thứ, thì gặp việc từ nơi tự bao dung  mà ổn định, nên không thể vì con người, sự tình, vật chất làm cho suy nghĩ phiền não. Cho nên tâm bình thường tức là cuộc sống bình đạm, bình thường, bình bình thường thường, chẳnh vì vật vui, chẳng vì mình buồn, hiểu rõ tại ta, tiếp nạp người khác, lấy tâm từ ái mà bao dung tất cả.

14. SANH TỬ VÀ NGHIỆP

Sanh tử vô thường, thường đem đến sự sợ sệt và bất an rất nhiều cho chúng sinh. Mọi người cho là người chết rồi thì trăm việc hết, cái gì cũng đều không có. Ðây là con người chỉ có nhục nhãn, không có huệ nhãn, không thấy được chân tướng của vạn tượng vũ trụ, nên mới nói thế này. Nhưng Ðức Phật không những có nhục nhãn, huệ nhãn mà còn có Phật nhãn, chân tướng của muôn hình tượng vũ trụ Ngài thấy rất rõ ràng. Ngài nói sinh mạng của con người không phải là chết rồi thì kể như xong hết, nếu như đơn giản như thế này, đời ngừơi cũng có cái tâm tham muốn, thích làm cái gì thì làm cái nấy! Lại nữa sao cần phải nói cái việc có nhân quả báo ứng thiện ác, nếu rõ sinh tử như thế nào là phiền rồi! Kỳ thật, sinh mạng trước khi chưa sinh thì đã có rồi, cũng không phải chết rồi là hết - đơn giản như thế! Không phải nói qua loa vài ba câu thì có thể nói được vấn đề rõ ràng, đồng thời cũng là vấn đề rất khó giải quyết. Do đó với nhu cầu học Phật tu hành, là để giải quyết đại sự sinh tử đời người này.

Hành giả học Phật đối với cái chết, cần thiết phải ghi nhớ hai điều đạo lý:

1. Ðời người vô thường, tuỳ theo thời gian đều có khả năng chết, hoặc tuổi thọ hết, hoặc phước hết, hoặc chết đột ngột.

2. Không nên cho rằng thọ mạng là trời sinh có chủ định về số tuổi thọ, thực tại là đa số nghiệp ác hiện đời, việc không nên làm đi làm, không khéo giúp nuôi tốt tự thân. Chớ nên cho là nhất định tuỳ thuộc ở tuổi thọ hết mà chết, còn có việc chết đột ngột thì sao, nào là tai nạn về nước, lửa, hung sát, xe cộ, trúng độc... tử vong không chính đáng, tình huống bất thường tạo thành.

Trước chưa rõ sinh tử, chết rồi lại sinh, sinh rồi lại chết, chết chết sinh sinh, sinh sinh chết chết luân hồi không dứt, mà nhân tố chủ yếu tạo thành luân hồi sinh tử này tức là NGHIỆP.

Nghiệp, tiếng Phạn gọi là “yết ma”, nghĩa là “tạo tác”, ta và người ở trên tư tưởng, hoặc nhân tư tưởng phát ra tạo tác các ác ở nơi ngôn ngữ và thân thể, giả gọi là “nghiệp”. Bất luận có hành động thế nào, Phật pháp đều gọi là NGHIỆP.

Nghiệp có ba tánh: thiện, ác và vô ký. Thiện nghiệp hay chiêu lấy thiện quả, ác nghiệp hay chiêu lấy ác quả, vô ký nghiệp đã không phải là thiện lại không phải là ác, cho nên không cảm quả.

Liên quan với “nghiệp”, hơi khó khiến cho người hỏi hiểu rõ, nhân vì nó không hình không tướng, không chất không lượng, nhưng người ta khởi tâm động niệm, đều thành nghiệp chủng, vả lại trọn không thể mài dũa hay diệt đi, nó tồn tại hằng hữu, gặp duyên thì khởi hiện hạnh. Chúng ta nếu miễn cưỡng làm một phép so sánh, thì không ngại nói là ấn tượng trong ý thức của ta và người. Ta và người mỗi khi có khởi tâm động niệm, cho đến ngôn ngữ hành vi, không kể là thiện hay ác, trong ý thức tất có lưu giữ ấn tượng, đây tức là nghiệp chủng vào trong ruộng thức thứ tám, ruộng thức thứ tám là thức A Lại Da. Ta và người ở nơi ngôn ngữ và hành vi của thân tâm cho ấn tượng lưu giữ trong ý thức, tuy có cạn có sâu, nhưng đều không do sự lâu hay tạm của thời gian mà xóa diệt. Ðối với một sự vật nào đó, ấn tượng sâu sắc, cố nhiên trọn đời khó quên; vả mỗi khi nhân đối với ấn tượng việc này mà ảnh hưởng đến tâm lý và hành vi của người ta, dẫu cho là ấn tượng của người rất mỏng cạn nhỏ nhặt, cũng sẽ giữ gìn vĩnh cửu ở trong ý thức. Hiện tại các nhà tâm lý học giải thích “mộng” là hoạt động ẩn chứa trong ý thức đồng thời cũng biểu thị cho chúng ta thấy nghiệp lực cũng là bất diệt.

Nghiệp, lấy hiện tại để giải thích đại khái là mỗi người đều nhờ vào kết quả phản ứng hoạt động ý lực không dứt của chính mình, tạo thành tánh cách của mình, tánh cách này lại tạo thành gốc gác của hoạt động tương lai, chi phối vận mệnh chính mình. Từ sự chi phối vận mệnh một điểm đó mà nói, gọi là “nghiệp quả hoặc nghiệp báo”. Nghiệp là vĩnh viễn không diệt, trừ phi nghiệp tận - ý chí đình chỉ hoạt động. Hoạt động nếu chuyển một phương hướng, nghiệp bèn cũng chuyển phương hướng mà tồn tại, nghiệp quả nghiệp báo chẳng phải lấy một thời kỳ tử vong sinh mạng mà hết đâu, tử vong bất quá là “sắc thân” này (thân thể vật chất cấu thành) theo phép tắc vật lý mà có tụ có tan. Sinh mạng thật ra không phải là thuần tuý vật chất, cho nên mỗi người tạo nghiệp, đều không nhân nơi tử vong của thân thể vật chất mà tiêu diệt. Sau khi tử vong, cái lực của nghiệp khiến mình đuổi dẫn chính mình đổi thành một phương hướng khác, hình thành một cái sinh mạng mới, cách chuyển đổi trạng thái này gọi là “luân hồi”. Hiểu được đạo lý luân hồi, lại có thể chứng minh nguyên tắc nghiệp lực không diệt.

Nghiệp lực đều không nhân nơi sự tử vong của nhục thể mà tiêu diệt, sau khi nhục thể tử vong, nghiệp lực gởi gắm ở trong thức của A Lại Da, thức này lại chịu sự chi phối của nghiệp lực, trở lại kết hợp cùng với vật chất riêng thành một sinh mạng mới. Nhưng riêng sinh mạng mới hình thành là người, là súc, là thần, là quỷ, thức A Lại da không thể tự chủ, toàn dựa vào sự dẫn dắt của nghiệp lực. Trên kinh Phật có nói tình hình nghiệp lực dắt dẫn A Lại Da thức là: “ví như đòi nợ, kẻ mạnh dẫn trước”. Thế thì nói nghiệp lực, một phương diện nào đó sức nó nặng, thì lệch rơi về phía đó.

Nghiệp lực tức là sau khi tạo tác thi vi (khởi tâm động niệm), năng lực giữ gìn liên tục mà dẫn phát. Thọ báo nhân gian đời này là nghiệp lực đời trước. Nghiệp lực đời trước cùng với nghiệp lực đời này, lại quyết định cho tiền đồ đời sau; đây tức là nhân quả báo ứng ba đời.

Y cứ nơi luật nhân quả của nghiệp lực mà nói, thời gian nghiệp báo phát sinh có ba việc:

1. Thuận với hiện tại thọ nghiệp; tức đời này tạo nghiệp, mà đời này cũng thọ báo.

2. Thuận đời kế thọ nghiệp; tức đời này tạo nghiệp, mà đời kế đến thọ quả báo.

3. Thuận đời sau thọ nghiệp, tức đời này tạo nghiệp, mà hai hay nhiều đời sau mới thọ quả báo.

Ðây cũng tức là từ ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai mà nói rõ nhân quả là vấn đề không thể tiêu diệt; chỉ cần nhân duyên đầy đủ, rốt cuộc cũng phải chịu báo ứng, mà tạo thành quả báo cho đời sau, cuối cùng là do một vấn đề nghiệp lực đó xúc tác mà thành ư? Ở đây không có ba sự phân biệt:

- Một là theo nơi sức nặng; không luận thế nào, người đến lúc chết, nghiệp lực nhất định sẽ hiện ra, việc tốt xấu lúc bình thường làm đều rất nhiều, ngay lúc này có một cái sức mạnh nghiệp lực đặc biệt (không luận là thiện hay ác), sẽ so kè thế lực mà hiển hiện ra, con người sẽ nương theo cái năng lực này mà thọ báo. Một người sát nhân, trong tâm thường ghi nhớ sự việc ở trong tâm, quên không được, tức khiến cho quên mà lại mạnh mẽcàng tồn tại cái lực; đến lúc chết, những việc làm tội lỗi này sẽ hiện tiền. Cũng vậy, một người làm việc thiện một đời cứu người đến lúc mạng chung, thiện nghiệp đó cũng sẽ tự nhiên hiển bày trước mắt. Ðây cũng như người mắc nợ đến cuối năm, chủ nợ đều đến, một người chủ nợ mạnh mà có sức lực hơn trong số đó, bắt đem về đặc biệt ngược đãi làm hại, không thể không trả trước cho người đó.

- Hai là theo nơi tập khí, như có người không có nghiệp rất tốt rất xấu, bình thường làm việc, thói quen cho là thường, cũng có thể sản sinh ra năng lực vĩ đại, tuy là ác nhỏ, cuối cùng phải mắc ác báo, thiện nhỏ cũng có thể được thiện báo, tức là nói ngay khi trồng nghiệp gì, thì đã định về sau, cuối cùng ắt phải theo nghiệp định này mà thọ báo.

- Ba là theo sự nhớ nghĩ; bình thường cuộc sống không có thiện ác gì trọng đại, cũng không có sự tình chứa nhóm, cuối sau bỗng nhớ tới cái gì đó, thì lấy niệm thiện hoặc niệm ác này mà thọ báo. Phật pháp lúc bình thường chỉ nêu đối đãi người nặng bệnh, tất nhiên bảo họ niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, lúc bình thường xưng tán công đức bố thí, trì giới, khiến họ nhớ khởi lên công đức, tâm sinh thiện niệm, nương nơi công lực này thì sẽ đi lên tiền đồ tốt đẹp. Có người tuy có nghiệp thiện, nhưng lúc lâm chung chịu sự đâm chích đau khổ trong lòng, niệm ác hiện tiền đến nỗi đoạ lạc. Cho nên người đời nay đến lúc lâm chung, không luận già trẻ, đều không nên kêu khóc và xô động thân thể của người chết, chẳng như vậy thì làm phiền tâm thần của họ, khiến họ sinh khởi phiền não. Nên khuyên họ vất đi buông rời, chuyên tâm niệm Phật, niệm công đức... nhưng rốt cuộc lúc bình thường trọng ở nơi lúc lâm chung, như lúc bình thường tạo nên cái ác nặng, nên lúc họ lâm chung khởi một niệm thiện là không thể khởi được; Trừ phi anh ta đời trước có nghiệp thiện, lúc bình thường hay có nghiệp thiện to lớn, hoặc tập thiện thành tánh, mà vả ở lúc lâm chung có trợ niệm thêm, thì có thể quyết định qua nơi cõi lành.

Như y nơi lập trường “thiện có báo thiện, ác có báo ác” mà nói, mỗi con người ở mỗi đời đều có thiện nghiệp và ác nghiệp, như thế không phải là vĩnh viễn không có cách nào liễu thoát sinh tử hay sao? Nói một cách chơn thật, riêng chỉ mỗi nghiệp lực còn không nhất định có thể khiến chúng ta sinh; ngoài nghiệp lực còn có điều kiện của phiền não, trong đó “khát ái” là tối trọng yếu. Tham luyến thế gian, hy vọng sinh tồn, tức là nên dứt đi cái “ái” sinh mạng này; như không khát (ái) các thứ nước thấm (phiền não), cũng sẽ không thể trở lại cảm lấy mầm (khổ của sinh) đâu.

Phật pháp cũng là bảo người: “dứt phiền não, xong sinh tử”.

15. BA CÕI VÀ SÁU ÐƯỜNG.

Hữu tình trong ba cõi, nhân nơi mê hoặc mà tạo nghiệp, nhân tạo nghiệp mà thọ khổ, rồi nhân thọ khổ lại mê hoặc. Ba món: hoặc – nghiệp – khổ này, tức hình thành ra tánh ác tuần hoàn. Nhưng nghiệp mà hoặc tạo ra, có chia ra nghiệp thiện, nghiệp ác, nghiệp nhẹ, nghiệp nặng. Do đây quả báo nhận được cũng có phân ra làm sáu đường. Nghiệp thức ở trong sáu đường mà sinh đây tử kia thì gọi là luân hồi sáu đường.

Thế nào là sáu đường? Sáu đường là: trời, A Tu La, người, ngạ quỷ, súc sinh và địa ngục. Ba đường trước gọi là đường thiện, ba đường sau gọi là đường ác.

Trong đó trời phước báo rất nhiều, thọ mạng cũng dài. A Tu La phước báo giống trời, mà tâm sân rất là nặng, đấu tranh không dừng. Người thì khổ nhiều vui ít. Súc sinh thì là toàn khổ thôi. Ngạ quỷ thường chịu đói lạnh, nên gọi là ngạ quỷ, địa ngục thì khổ đau cõi đó rất nhiều kiểu. Song ở trong sáu đường này, phước báo khổ vui trong mỗi đường cũng phiền phức khác lạ muôn mối, như cõi người có giàu sang và nghèo hèn, chia ra thành đạt và cùng khốn, thọ và yểu... Ba cõi, trong đó chia ra: cõi sắc, cõi dục và các cõi trời vô sắc. Tóm lại, đều do nghiệp lực chiêu cảm, thiện thì đi lên mà ác thì đoạ lạc, lý cố nhiên như vậy.

Biểu đồ ba cõi, sáu đường như sau (chúng sinh sáu đường luân hồi):

Ba cõi:

Dục giới: thế giới dục, có đủ nam nữ, ăn uống.

Sắc giới: thế giới tâm thức, lìa nam nữ, ăn uống.

Vô sắc giới: thế giới tâm thức, không có hình sắc.

Sáu đường:

Trời

A Tu La

Người

Súc sinh

Ngạ quỷ

Ðịa ngục.

CON NGƯỜI – Sanh từ đâu đến và chết đi về đâu?

 Con người, sinh ra từ đâu đến, chết rồi đi về đâu? Anh biết rồi, thế thì quá tốt.

Con người, đời này làm người, là đời trước do phước báo cõi trời hưởng hết nên đọa lạc vào con đường làm người; hoặc ở nơi nhân đạo sau khi chết hợp với việc trở lại làm người mà trở lại sinh làm người; hoặc do khổ báo ba đường ác chịu đủ rồi chuyển sinh làm người.

Người chết, chẳng phải là một khi chết là trăm việc hết, chết rồi thì xong; mà người chết là nhục thân chết thôi, người đời nói “linh hồn”, cái đó vĩnh viễn không thể chết, đó là theo chỗ tạo tác thi vi lúc sinh tiền; làm thiện thì thăng thiên hưởng phước hoặc sinh trở lại làm người, nếu làm ác, thì đoạ lạc trong ba đường chịu lấy khổ báo, tức là chết đây rồi lại sinh, sinh rồi lại chết, sinh chết, chết sinh xoay vần luân chuyển, trọn không dừng lại, đây tức chỗ gọi là luân hồi sáu đường. Cũng tức là báo ứng nhân quả thiện có thiện báo, ác có ác báo.

Con người, thần thức (linh hồn) sau khi chết trở lại chuyển sinh là thật đúng không? Thế nào là không đúng; Từ xưa trở lại trên sách sử chánh kinh ghi chép việc sau khi chết chuyển sinh và mượn thây chết hoàn hồn không biết là bao nhiêu, tức là bảo hiện tại cũng thường có vấn đề này, anh cho là vì đánh lừa người phải không? Hành giả tự sức tu hành, được khai ngộ, có thiên nhãn huệ nhãn, việc trong sáu đường thì có thể xem xét rất rõ ràng; chúng ta là phàm phu chỉ có nhục nhãn, chỉ có thể nhìn thấy việc của phàm phu và súc sinh, còn thiên đạo, ngạ quỷ đạo và địa ngục đạo đương nhiên không thấy.

Tự nhiên bất toàn là việc đánh lừa người, nhưng không biết rốt cuộc là việc gì? Ở đây không có gì khó rõ, ở đây cũng tức là “nhân quả”. So như anh việc làm đời này hợp với thiên đạo, như thế đời sau (sau khi chết) sẽ thăng thiên hưởng phước; nếu như anh đời này việc làm hợp với nhân đạo, như thế đời sau tái sinh làm người; ngoài ra các đường khác đều là như vậy. Ðây tức là giống như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, đều là việc tự nhiên, không lạ lẫm gì cả. Như món anh trồng là dưa, thần không thể biến nó thành một cây đậu; (nếu có, thì đó chỉ là giả thuật không chân chánh). Như thế việc anh làm là nhân “thiên đạo”, thần tự nhiên không thể cưỡng bách anh đoạ lạc vào địa ngục; đây là vấn đề rất hiển nhiên. Trở lại nói đơn giản một chút, tức là làm thiện được phước, làm ác bị hoạ.

Sáu đường thì đường nào tốt nhất? Ðương nhiên đường Trời (thiên đạo) là tốt nhất; kế tới là Atula, rồi đến người. Còn các đường khác thêm một đường không bằng một đường, thêm một đường thì khổ một đường.

Chúng ta nhờ dựa nơi lương tâm, làm nhiều việc thiện, không thể ra khỏi luân hồi sao? Không! thế thì không làm! Người làm việc thiện thì sau được báo ứng tốt sinh vào thiên đạo, chờ cho báo ứng xong hết trở lại chuyển đến các đường khác, cũng như vậy có thể chuyển sinh đến đường súc sinh; Nếu muốn thoát ly luân hồi sáu đường mà riêng nhờ vào việc làm thiện thì không đủ đâu, chẳng học phật tu hành chẳng thể được, chí thành chuyên nhất tinh tấn không biếng lười, không phô bày, không lơ là, mới có thể ra khỏi luân hồi sáu đường; Không phải nói qua loa ta tu hành học Phật là xong, thì là ra khỏi luân hồi sáu đường xong rồi, đơn giản như thế sao, thật đơn giản như thế thì bốn chúng của Phật giáo đều ra khỏi luân hồi rồi.

Khổ vui sáu đường luân hồi đều là một kiểu cũng được, song thì khổ và vui là không giống nhau. Nếu anh cho thế giới Ta bà là biển khổ, đời người là khổ, khổ nhiều vui ít, làm ác dễ làm thiện khó, cơ hội sanh Thiên hưởng phước ít, cơ hội rơi vào ba đường ác thì nhiều. Một khi mất thân người rơi vào ba đường ác thì không phải là việc giỡn chơi. Không muốn ở trong sáu đường luân hối, muốn thoát ly ra khỏi luân hồi của sáu đường, thì cần phải học tu hành.

16. PHIỀN NÃO

Phiền não cũng gọi là: Hoặc, trần lao, nhiễm ô v.v... Do vì nó nhiễm loạn sự thanh tịnh thân tâm chúng sinh hữu tình, không được giác ngộ, làm chướng ngại lý tưởng Niết Bàn.

Phiền não chủ yếu không hiển bày bề mặt mà là tiềm ẩn tánh cách tà ác và cố tật ở chỗ sâu xa nội tâm, một khi có cơ hội liền hiển bày biến hóa.

Phiền não, có thể riêng phân ra: “căn bản phiền não” và “tuỳ phiền não”. Tuỳ phiền não lại có thể từ lớn tới nhỏ về phạm vi nhiễm ô mà chia ra: tiểu tuỳ phiền não, trung tuỳ phiền não và đại tuỳ phiền não. Nay đem các món phiền não mà phân biệt một cách đơn giản để lần lượt nói ra:

Căn bản phiền não.

Căn bản phiền não có sáu việc: tham - sân - si - mạn - nghi - kiến, được giải thích từng việc như sau:

Tham: là chỉ cho tham dục hoặc tham ái. Tham tức là đối tượng và sự yêu thích đối lòng ưa thích, càng nhiều càng tốt, tham lam không bao giờ biết đủ.

Sân: là nguyện vọng đối với mình, khi yêu thích rồi mà có lúc trái ngược, thì tâm tình phẫn nộ liền sinh khởi.

Si: tức là “vô minh” của mười hai duyên khởi, không rõ thị phi, không tin nhân quả, mà khởi lên các món tà kiến, tà hạnh.

Mạn: nâng cao chính mình mà xem thấp người khác, lấy tự “bản ngã” mà tình kết trong tâm.

Nghi: hoài nghi luật nhân quả, hoài nghi thiện ác báo ứng, hoài nghi chơn lý Phật nói; nó làm ngăn trở sự tăng trưởng của huệ căn.

Kiến: tức không giữ được chính niệm, lấy tà kiến, tà hạnh làm pháp đạo để tu.

Trong sáu món phiền não, năm món trên là sự mê hoặc tình ý chấp trước trên tập quán, gọi là TƯ HOẶC (tu hoặc). Ðối với phiền não tư hoặc này dù cho có thể hiểu biết trên lý luận nó là loại sai lầm, nhưng hãy còn rất khó sửa đổi, loại tập quán này mê hoặc ngoan cố, cần phải dựa vào sự nỗ lực tu hành thời gian dài mới có thể lần hồi dứt trừ. Tư hoặc cũng gọi là “độn sử” (phiền não nặng nề chậm lụt)

Món Kiến, là sự mê hoặc trên tư tưởng, cũng gọi là KIẾN HOẶC. Loại phiền não này như có thể nghe lý luận chính xác mà lãnh ngộ, thì có thể lập tức trừ bỏ mê hoặc, do đó cũng gọi là “lợi sử” (phiền não nhạy bén). Như có thể đoạn được kiến hoặc, cũng là thấy được vị trí đạo, tức là KHAI NGỘ. Như nếu dứt được kiến hoặc và tư hoặc, tức là chứng quả A LA HÁN.

Tiểu tuỳ phiền não

Tiểu tuỳ phiền não có mười món: 1. Phẫn, giận dỗi kịch liệt. 2. Hận, do sân giận tích chứa kết ở trong tâm. 3. Phú, chính sự che đậy của mạng sống thường xuyên mà thành lớn. 4. Não, ác não, phiền muộn. 5. Tật, sự đố kỵ ganh ghét. 6. Lận sắc (khan), lòng dạ hẹp hòi. 7. Cuống, dùng lời nói dối lừa người khác. 8. Siểm, dùng lời nói để đánh dò người mà vui sướng. 9. Kiêu, kiêu ngạo (món này cùng với “mạn” của căn bản phiền não có sự khác nhau, là sự tự hào chưa trải qua sự so sánh bản thân mà sinh khởi). 10. Hại, là từ nơi sự sân hận phát sinh ra hành động thêm hại cho tâm người khác. Sự tàn nhẫn cũng là gần như hại.

Trung tuỳ phiền não

Trung tuỳ phiền não có hai món: 1. Vô tàm, không có sự hổ thẹn đối với nội tâm. 2. Vô quý, không có sự hổ thẹn đối với thế giới bên ngoài.

Ðại tuỳ phiền não

Ðại tuỳ phiền não có tám món: 1. Hôn trầm, tâm tình nặng nề không mở mang. 2. Ðiệu cử, tâm tình bềnh bồng không định. 3. Bất tín, không tin có báo ứng nhân quả. 4. Giãi đãi, không có sự nỗ lực. 5. Phóng dật, tức là mặc tình lung tánh vọng làm. 6. Thất niệm, mất đi chánh niệm (có muốn cũng không khởi ra). 7. Tán loạn, tâm không chuyên nhất. 8. Bất chánh tri, không có sự thấy hiểu chính xác.

Tiểu, trung, đại; ba món “tuỳ phiền não” ở trước, đều là chi mạc phiền não (phiền não cành nhánh), theo nơi sáu món căn bản phiền não mà sinh khởi. Tóm lại, cũng là phiền não nhiễm ô, trở ngại cho việc thực hiện chứng ngộ.

17. HỒI HƯỚNG

Hồi hướng là qui hồi công đức của mình tu, thảy đều hướng chuyển về Phật đạo, để xu hướng nơi đối tượng được kỳ vọng, để cầu được vĩnh viễn thóat ly biển khổ sinh tử, gọi là hồi hướng.

Nếu không thể làm việc “hồi hướng” như đây, thì khiến cho một đời trì giới, một đời tu Phật đạo, cũng khó giải thoát sự trói buộc của sinh tử. Hồi hướng là một việc làm trọng yếu trong cuộc sống tu hành của người Phật tử, các công sức trong một ngày làm được, cuối cùng đem đức hồi hướng. Chỗ gọi là hồi hướng, bèn là lấy công đức nhỏ của mình để vào việc to lớn, thế này tích chứa hàng ngày, trong tâm, trong cái nhìn và trong tư tưởng của người này đều sẽ theo phương diện tốt đẹp mà rộng lớn, khiến người phàm nuôi dưỡng trong tâm thành bậc Thánh, công đức đó là do từng việc nhỏ biến thành chẳng phải gọi là lớn. Người ta mỗi ngày niệm Phật, lạy Phật, tụng kinh và các công đức thiện hạnh, đều hay hồi hướng cho tất cả chúng sinh, đồng sinh tịnh độ, đồng gặp Phật Di Ðà.

Công đức không nhất định phải xuất tiền xuất sức mới có công đức. Như giảng kinh nói pháp, nghe pháp, tụng kinh, niệm Phật, lạy Phật, thậm chí nói một câu ái ngữ cổ động khích lệ hoặc lời an ủi, khiến cho đối phương hướng thiện, hướng thượng, những việc này đều là công đức, đều cần nên “hồi hướng”. Mỗi thời khóa ngày đêm niệm cung kính: “đệ tử tên... nguyện đem tất cả công đức của ngày hôm nay hồi hướng: trang nghiêm tịnh độ Phật, trên trả bốn ơn nặng, dưới cứu độ ba đường khổ, nếu có người thấy nghe, đều phát tâm Bồ Ðề, hết báo thân này rồi, đồng sinh nước Cực Lạc”. Ðây là hồi hướng lớn, nếu ở trong nhà có người sức khỏe rất kém, hoặc sự nghiệp của mình không thuận lợi... cũng có thể làm hồi hướng nhỏ. Chúng ta có thể nói: “Lấy tất cả công đức này hồi hướng cho (việc, ai đó) khiến họ thân thể khoẻ mạnh trở lại”... Hoặc nói: “đệ tử.... nguyện đem công đức đã làm trong ngày hôm nay hồi hướng cho cha mẹ đời trước, kẻ oán người thân, chủ nợ đời trước của (ai đó).. thảy đều phát tâm bồ đề, đồng sinh nước Cực Lạc”. Nhưng phải nhớ rằng: nhất định trước tiên phải làm việc hồi hướng lớn, rồi sau đó mới làm hồi hướng nhỏ.

Văn hồi hướng

“(Ai đó) nguyện đem công đức này (hoặc công đức đã làm ngày hôm nay), hồi hướng cho tất cả oán, thân, chủ nợ từ vô thuỷ kiếp đến nay của đệ tử, cha mẹ và lục thân quyến thuộc đời đời kiếp kiếp oán thân bình đẳng, giải oan mở buộc, nghe kinh chú này, thảy đều lìa khổ được vui, vãng sinh tịnh độ”.

Nếu học Phật, trên cuộc sống không thuận tiện, thất ý hơn trước, là nghiệp trước nhiều đời, kẻ oán người thân, chủ nợ đến đòi nợ. Ðã học Phật tu hành, thì kẻ oán, người thân và chủ nợ chỉ sợ đòi không được nợ mà đưa ra trước để đòi, còn gia thêm bố thí, niệm Phật, hồi hướng cho tất cả oán, thân, chủ nợ; thế thì oán, thân, chủ nợ mới có thể tan hết. Có khổ nạn cũng nên phải tự rõ, đây là do nhân ác đời trước, đời này chịu quả báo, quả báo sạch khi trả sạch, bèn được thân nhẹ nhàng. Quyết không thể oán trời trách người! Trách Phật và Bồ tát không linh! Có bệnh ở nơi thân, lấy vô bệnh mà nhìn, bèn không thấy khổ; như vậy mà xem đó, sao lại khổ ư?

18. PHÁP MÔM TRÌ DANH NIỆM PHẬT

Một pháp chấp trì danh hiệu: “A DI ÐÀ PHẬT ”, lúc Ðức Phật Thích Ca còn tại thế, thấy được con người trên thế giới này của chúng ta, nghiệp tạo ra rất là nhiều, chịu khổ cũng rất là sâu, nhất là hạng hạ căn lại nỗ lực làm sao để tu trì, cũng khó được quả Phật, vì thương xót con người trên thế giới này, của chúng ta rất là bi thiết, bèn dạy bảo chấp trì danh hiệu “A Di Ðà Phật”, nguyện sinh nước kia, đổi ác thành thiện, tự lợi lợi tha, tin sâu nguyện thiết, hành trì niệm Phật, nhất tâm không loạn, lúc người mạng chung, chánh niệm hiện tiền, tâm không đảo điên, Ðức Phật A Di Ðà sẽ tiếp dẫn vãng sinh về nước Cực Lạc của ngài; người đời cần gấp hiểu rõ có một chỗ tốt đẹp như thế này, có thể khiến con người trên thế giới chúng ta, không nên trở lại thọ các món khổ, cho nên bất kỳ người nào hỏi, thì trước tiên nói pháp môn trì danh niệm Phật này.

Ðức Phật Thích Ca lúc nói pháp môn tịnh độ “trì danh niệm Phật” này, gọi pháp này là pháp thế gian khó tin. Nguyên nhân là người đời phần nhiều còn có một niềm tin sai lầm, cho rằng trên đời không có cái gì để mình nương tựa một cách xác thực, đem sự tình giao cho một người khác thì không an tâm, bởi vì sức mình làm mới rất đáng nương tựa. Do đây rất nhiều tôn giáo lấy món tưởng pháp này làm cơ sở. Không chỉ các tôn giáo khác như vậy, tôn chỉ tông phái đại đa số của Phật giáo cũng đều như đây, như tông Hoa Nghiêm, tông Duy Thức, tông Thiên Thai, tông Thiền... đều dạy người là con đường của mình do chính mình mở, tức là dựa vào sự tu trì của mình, cắt đứt phiền não mê hoặc, rõ tâm thấy tánh, chứng được chân lý thành Phật, cũng gọi là đoạn mê hoặc, thấy và chứng (khai ngộ); giáo pháp này lúc thực hành chân chánh, là rất khó khăn. Các bậc cao nhân chung của các tông các giáo hãy còn nhiều khó khăn, là trong cuộc sống làm sao cho thanh tịnh được hết hoặc nghiệp! Huống gì người thường, thật ra người mà có thể trong cuộc sống đoạn được hoặc, rõ tâm thấy tánh khai ngộ không được nhiều! Nhưng vừa nghe qua, mọi người đều có thể tin rằng, nguyên nhân tức là con đường của mình tự mở; hoặc nhân người đời ưa bàn lý luận cao xa huyền diệu, không chịu thực sự học Phật, cho là thế gian ắc có bí mật huyền diệu, bí quyết nhanh học đạo, không chịu thực sự an phận. Thực sự an phận thì: 1. Thu chuyển được dã tâm, chẳng thể suy nghĩ hồ đồ và tưởng muốn cuồng loạn. 2. Trì trai giới giữ thanh tịnh, không thể phóng túng hoặc biếng lười. 3. Còn giữ được sự mộc mạc, không tự cho là thông minh. 4. Chân thật không tà ngụy, chẳng có chút phô bày. Những việc này là cần tự mình nỗ lực, mới có thể rõ được. Nhưng người đời mê chấp rất là sâu, chung quy cảm thấy vần đề mình hiện có và sự vật dễ dàng tìm được, chẳng cần trân quý. Cho nên phải nói là bí mật vi diệu của ngàn xưa thật dễ dàng nhẹ nhàng mà truyền cho người. Hoặc giả có thuyết nói là: cảm động đến Thánh linh; hoặc Thần Tiên trao bày, không thể do người dễ dàng chứng được; do đó mới có người tin như vậy. Pháp môn trì danh niệm Phật mà Phật nói, đây cũng giống như đem tấm chi phiếu ngàn vàng cho người ngu, khiến họ khó thể lý giải. Người ngu cho là một đồng tiền còn được thật sự giá trị hơn tấm chi phiếu ngàn vàng, tâm người ngu trí cạn cợt, vả lại tự xấc láo chính mình ngay cả một bảng đồng, đều không đánh giá được; khó đối với sự tin tưởng công đức của danh hiệu A DI ÐÀ PHẬT. Cho nên lời dạy ( trì danh niệm Phật ): A DI ÐÀ PHẬT. So ra các tôn giáo và tông phái khác khó tin. Chúng ta chấp trước đối với đời người, tức ngay cả các tôn giáo khác đều rất khó tin, tôn giáo khác đó vả hãy còn khó tin thay, huống gì lời dạy là tha lực A DI ÐÀ PHẬT. Cho nên nói là: khó ở trong khó, lại nói: không khó nào qua, cũng nói: pháp rất khó tin.

Pháp môn trì danh niệm Phật là tâm đại từ bi của Ðức Thích Ca Như Lai, thương xót chúng sinh chẳng đủ tự lực, không thể một đời tu hành tức xong sinh tử, một đời không xong lại chuyển một đời, dễ dàng mê hoặc, nếu lại tạo ác nghiệp, đọa lạc ba đường, công ngày trước bỏ hết; đối với việc đó nên dạy người chấp trì danh hiệu A DI ÐÀ PHẬT, cầu Phật lực gia bị, tuy tự lực yếu mỏng, cũng có thể nương vào sức từ của Phật tiếp dẫn vãng sinh về nước Cực Lạc, một khi sinh về cõi kia vĩnh viễn không thối chuyển.

19. NÓI ÐƠN GIẢN – A DI ÐÀ PHẬT

“Nam mô A Di Ðà Phật” là một câu lời nói trong nước Thiên Trúc, biến thành lời nói của chúng ta: - Nam mô; Tức là cung kính, quy y, tín ngưỡng, phục tùng. - A Di Ðà; tức là ánh sáng trí tuệ không có ngằn mé và phước thọ không có hạn lượng. - Phật; tức là Thánh nhân, thần nhân, toàn nhân, chí nhân, người có đạo đức, người giác ngộ xong, người có trí huệ tối vĩ đại; Họp chung lại tức là “ Kính tôn trọng qui theo bậc thánh nhân - vô biên - vô lượng trí tuệ, hào quang, phước đức, thọ mạng như thế”. A Di Ðà Phật không phải là ở trong thế giới này của chúng ta, thế giới của chúng ta gọi là thế giới “nhân khổ”. Hơn hai nghìn năm trăm năm (?) trước, có một Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện ở thế giới này của chúng ta, vì chúng ta mà nói trạng huống lịch sử A Di Ðà và thế giới Cực Lạc kia. Chúng ta lại biết rằng Phật A D i Ðà lúc chưa thành Phật, chưa có thế giới Cực Lạc trở về trước, Ngài vốn là một hoàng đế, lúc đó cũng có Phật đang trụ thế. Hoàng đế này rất là tin sùng chánh pháp, về sau cũng xuất gia tin Phật làm Tăng, tu hành không lâu thì chứng A La Hán. Lại phát tâm Bồ Ðề, lập nguyện nếu người ở tương l

CHƯƠNG II  

TRỰC TIẾP NÓI VỀ VIỆC CHÍNH TRÌ NIỆM PHẬT

PHÁP MÔN TRÌ DANH NIỆM PHẬT

Niệm Phật trì danh là giữ gìn hành trì một câu danh hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, rất đơn giản dễ dàng, nhưng pháp rất là rộng lớn. Chỉ cần niệm Phật một cách chí thành, khẩn thiết, chuyên nhứt và cung kính, mới có thể cảm ứng với đạo, tức đời sống được lợi ích.

Người tu tịnh độ từ xưa đến nay, phương pháp trì danh niệm Phật, được thành tựu ấy con số rất nhiều. Pháp môn đó rất là thẳng tắt, rất viên đốn, có thể vượt qua mà không cần trải qua sự lần hồi tu hành, vả lại có thể đốn siêu (vượt qua mau chóng). Cũng giống như từ cấp tiểu học vượt thẳng lên đại học mà bằng phương pháp rất là đơn giản, khiến người ta không dám tin, thật là “bất khả tư nghì” (không thể nghĩ bàn)!

Ðối với pháp môn vô thượng mà giản dị nầy, chớ nên coi dễ mà không siêng năng, chớ cho là khó mà sinh e sợ thối lui, chớ cho là cạn cợt mà tỏ vẻ khinh khi, chớ cho là sâu xa mà không dám thừa đương, chớ muốn mau lẹ mà không chịu bền lâu, chớ lười mỏi mà không mạnh mẽ, chớ vì ngu chậm mà cứ mãi vô tâm, chớ vì căn cơ mình cạn cợt mà tự chê không có phần.

Ví như mài dao, mài lâu dao lụt thành dao bén, nếu vì lụt mà chẳng chịu mài, để đó thành đồ vô dụng.

Lại nữa nếu cho rằng tu hành là khổ, thì không biết là lười mỏi càng khổ hơn sao? Tu hành thì siêng năng lao nhọc tạm thời mà an lạc vĩnh kiếp, lười mỏi thì cầu an một thời mà thọ khổ nhiều đời. Bỡi vậy trì danh hiệu Phật là chơn bất khả tư nghì, hay tu trì thì tâm tánh cũng bất khả tư nghì.

Người tu hành cần cầu một đời việc xong, mau ra khỏi sinh tử, thì chỉ có pháp môn trì danh niệm Phật. Vì trì danh niệm Phật, một phương diện là nhờ sức lực tín, hạnh, nguyện chính mình; phương diện khác lại có thêm lực đại bi đại nguyện của đức Phật A Di Ðà. Có được hai lực lượng tự lực và tha lực, thì dù tự lực chưa đủ còn có Phật lực mà có thể nương cậy. Cho nên nói rằng trì danh niệm Phật là một phương pháp rất ổn định.

Một pháp trì danh rất họp thời cơ, bỡi vì pháp môn nầy không bỏ phế pháp thế gian mà chứng Phật pháp, không lìa Phật pháp mà hành pháp thế gian, tùy thời tùy cơ mà có thể tu hành, không cần vào núi ẩn tu, hoặc đóng cửa ngồi yên, đối với việc hữu ích cho đời vẫn có thể làm được.

Muốn được lợi ích Phật pháp thì phải có tâm cung kính, có một phần cung kính thì tiêu được một phần tội nghiệp, thêm một phần phước huệ. Có được sự cung kính mười phần thì tiêu mười phần tội nghiệp, tăng thêm mười phần phước huệ. Nếu không có tâm cung kính thì dẫn đến thói hư hèn ngạo mạn, nghiệp tội ngày càng tăng mà phước huệ ngày càng giảm đi. Do đó mà sự cung kính chí thành thật là “siêu phàm nhập thánh”, cũng là bí quyết “liễu sinh thoát tử”. Có thể đem tâm chí thành, nhất tâm niệm Phật, tâm cung kính nhớ Phật, chắc chắn có thể lìa được biển khổ sinh tử. Chỉ cần một lòng buộc niệm không rạn vỡ, chắc chắn sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây.

Tâm cung kính là rất tin tưởng đối với Phật và Bồ tát, cần nương theo pháp mà làm, tôn trọng pháp. Mà không phải là cung kính bên ngoài, thấy tượng Phật khúm núm vái chào. Bên ngoài biểu hiện cung kính mà trong tâm không cung kính đó là hư ngụy. Nên phải từ trong tâm chân chính rõ hiểu Phật và Bồ tát, không phải là cung kính bướng bỉnh miễn cưỡng. Thật sự có chỗ rõ hiểu rồi, thì từ trong tâm sinh khởi lòng cung kính, đây tức là “như pháp”.

Niệm Phật và tâm chí thành, tâm cung kính có phải là chơn chánh không? Chư vị nghĩ xem trong lúc niệm Phật hoặc tụng kinh nếu như gặp một người khá quan trọng hoặc một công việc quan trọng, thì niệm Phật tụng kinh sẽ trở thành thứ yếu (ít quan trọng hơn); Như vậy có thể thấy rằng sự cung kính, chí thành nầy chưa được chơn thuần, cho nên cần phải chân thành cung kính một cách chơn chánh, thì niệm Phật tụng kinh mới là việc lớn thứ nhất của đời người. Ví như có người, trong lúc anh niệm Phật tụng kinh, bảo anh rằng: “Hiện tại có một việc buôn bán nếu làm gấp thì sẽ thu được lãi là trăm vạn đồng”, bảo đảm rằng anh sẽ quay đầu đi, không niệm Phật được rồi. Có thể thấy rằng chúng ta cung kính, chí thành đối với Phật và Bồ Tát mà chịu không nổi thử thách, khi trải qua thử thách thì mới hiểu được tâm cung kính, tâm chí thành nầy không chơn thật một chút nào cả.

à Pháp môn niệm Phật, không phải là phương pháp kỳ diệu gì cả, chỉ cần chúng ta có thể dốc lòng mà niệm, nhất định sẽ thành công. Thế nào gọi là dốc lòng (hay còn gọi là “tâm chết”), tức là làm cho chết sạch đi tất cả những cái tâm phiền não, vọng tưởng, chấp trước. Nhất tâm chuyên niệm “Nam Mô A Di Ðà Phật”, trong tâm có Phật, Phật không lìa tâm, tâm không lìa Phật, nhất tâm bất loạn.

Tác dụng của trì danh niệm Phật là cần phải đem tâm ta và tâm Phật họp nhất, đến mức chí thành, yên tĩnh, chân không, vắng lặng, cùng Phật tâm tâm nhiếp với nhau, tâm ta và tâm Phật trọn vẹn một thể. Tự nhiên có những cảnh giới bất khả tư nghì. Nếu tâm ta mờ mịt tán loạn, nguyện đã mất đi sức lực vốn có của bản tâm, làm sao có được những cảnh giới ấy xuất hiện.

Ví dụ như một giọt nước rơi vào trong đất thì chẳng làm được gì, nếu rời đất mà vào biển thì nước cả biển cùng với giọt nước nầy hoà thành một thể, lực đó rất lớn bất khả tư nghì.

Giọt nước dụ cái tâm, đất dụ cho sáu căn, sáu trần và sáu thức (6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. 6 trần: sắc, tiếng, mùi, vị, va chạm, pháp. 6 thức: là sự cảm giác của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Nhiếp giữ các căn, xa rời các trần, vượt thoát các thức, tức chung thông với tâm Phật, chứng với tâm Phật, thành là một thể. Sức oai thần đó cũng là bất khả tư nghì.

Trì danh niệm Phật tuy dễ dàng, một phương pháp tu hành nhẹ nhàng thoải mái; Song khó ở chỗ là không có tín tâm, nguyện tâm, hằng tâm đối với Ðức Di Ðà, chỉ muốn sinh về thế giới Cực Lạc phương tây! Niệm Phật kiểu làm theo lệ, có thể qua loa thì qua loa, có thể bày biện thì bày biện, tùy tiện không chuyên tâm, qua được cho qua, thế thì không có chút gì ở tại tâm ý.

Trì danh niệm Phật, nên cần phải trong lúc niệm chuyên chú vào một cảnh, không nghĩ tưởng việc khác, tất cả đều buông bỏ, nên nhất tâm niệm Phật, hễ nghĩ là Phật, tưởng cũng là Phật, đến lúc công phu thuần thục, rỗng rang tự nhiên rơi rụng câu niệm Phật, chứng nhập vào cảnh giới “vô niệm” mà không niệm nào chẳng niệm. Công phu đến đây niệm Phật mới là đạt đến phương pháp, cảm ứng với đạo, thấy được sức công hiệu tốt đẹp.

NHẤT TÂM NIỆM PHẬT

Nhất tâm niệm Phật, là chỉ có một tâm niệm Phật, ngoài ra không có niệm tạp vọng tưởng phiền não. Miệng niệm Di Ðà mà tâm không tán loạn, miệng niệm Di Ðà tâm tán loạn thì không được lợi ích.

Niệm cần phải niệm nhất tâm, trong miệng niệm Phật, trong tâm tưởng Phật, niệm là Phật, tưởng cũng là Phật, không kể là có vọng tưởng hay không vọng tưởng, nếu là niệm Phật mà tâm tán loạn, hoặc tưởng việc khác, thì không phải là nhất tâm niệm Phật.

Niệm Phật không khó mà khó ở chỗ trì lâu, trì lâu không khó mà khó ở nhất tâm, nhất tâm thế nào? Nhất tâm tức là xả bỏ tất cả công việc của thế tục, buông tất cả việc đời đi, chẳng nên nghĩ, chẳng muốn nhớ, không mong lấy, không vọng dùng, mà chỉ có tâm niệm Phật tưởng Phật.

Giữ gìn sáu hoặc bốn chữ danh hiệu Ðức A Di Ðà, đều cần phải chí thành khẩn thiết, nhất tâm niệm Phật, vọng tưởng tạp niệm khởi, không nên để ý nó, càng không được lởn vởn theo nó, anh niệm Phật của anh, ngày ngày dụng công, năm năm dụng công, thời gian lâu rồi niệm Phật thuần thục, tâm chẳng dong ruổi bên ngoài, vọng tưởng tập khí từ vô thỉ kiếp đến nay tự nhiên tiêu ma hết. Tối kỵ là tất cả trạng thái bồng bồng bềnh bềnh, một cái tâm trôi trôi nổi nổi, chẳng dùng một chút sức lực nào cả, kiểu như thế thì chỉ có một sự rỗng tuếch buông trôi thời gian mà thôi!

Giữ gìn danh hiệu Phật, niệm từ tâm khởi, tiếng từ miệng phát, âm vào nơi tai, từng chữ từng câu niệm được rõ ràng, nghe được rõ ràng, nhiếp cả sáu căn, chẳng được niệm kiểu nuốt chửng hàm hồ qua đi. Nhất tâm niệm Phật, nếu hay chí thành, chẳng chấp thủ ở nơi tướng, tự có thể nhiếp cả sáu căn, có ngày công phu thuần thục, định - huệ tự nhiên hiện tiền, ba món độc (tham - sân - si) không khởi, ác nghiệp chẳng tạo ra.

Có những người miệng thì niệm Phật, trong tâm ham muốn suy nghĩ sai quấy loạn tưởng, phép niệm như thế là không có chỗ tác dụng. Nên cần phải niệm Phật nơi miệng, tưởng Phật nơi tâm, tâm và miệng họp nhất. Ngoài câu niệm Phật ra, việc gì cũng không tưởng nghĩ, niệm gì cũng không khởi, mới dễ được nhất tâm bất loạn.

Thử nghĩ, miệng niệm Phật, tay lần chuỗi, mà tâm lại tưởng việc khác, hoặc mắt nhìn ngó đông tây, hoặc nghe âm thinh nào đó, hoặc có người nào đi qua bên cạnh thì quay đầu mà dòm ngó đánh tiếng đưa tin, hoặc tâm tình buồn phiền, hoặc công việc bận rộn khó nhọc, vả lại gấp rút thời gian làm như qua loa niệm số mục cho hết việc, tức khiến cho mỗi ngày số lượng niệm đến ngàn câu danh hiệu Phật, cũng chẳng được kể là nhất tâm niệm Phật.

Niệm Phật không nên mong cầu công hiệu tâm mới có thể thanh tịnh, nên làm đến chỗ “vô sở cầu”. Người tu hành niệm Phật, tuy hàng ngày bề bộn công việc, dù công việc bề bộn mà tâm không bề bộn, giữ gìn tâm thanh tịnh.

Học Phật tu hành, điều cần yếu trước nhất là tâm sạch và ít ham muốn, mới hay đạm bạc với việc đời, không mang không vát, không buồn, không suy nghĩ, mới có thể chuyên chí nhất tâm niệm Phật. Nếu đa dục (ham muốn nhiều) thì bị sự trói buộc của tham sân si, bị lao vào sự lao nhọc lọc lừa mưu mẹo của việc đời, tâm tình rối loạn niệm Phật làm sao được nhất tâm?

Niệm Phật cần phải niệm toàn cả phương vị, cũng tức là nói: tâm, hành vi và miệng của người niệm Phật cần phải kết họp thành một thể, mở miệng niệm Phật, trong tâm nên cần phải tưởng nhớ Phật và hành vi cũng không nên trái với lời dạy răn của Phật. Thân, miệng và tâm họp nhất là cương lĩnh chính yếu của niệm Phật giải thoát. Nếu như danh hiệu Phật mà ta niệm chỉ dính ngoài cửa miệng và không cùng tâm, thân kết họp với nhau làm sao có thể đạt được sự lợi ích của niệm Phật.

Chánh tín niệm Phật là không nên chấp trước phải niệm như thế nào, nghĩ tưởng đến thì niệm, quên niệm cũng bất tất phải vấn vương nơi ý, có những lúc bệnh hoạn hoặc đau khổ, có thể niệm thì lập tức niệm.

NIỆM PHẬT NHIỀU

Niệm Phật nhiều không phải là số lượng cho nhiều, mà là hằng ngày niệm Phật, tùy thời gian, tùy nơi chỗ, đi đứng ngồi nằm, lúc động lúc tịnh rảnh rang hay bận rộn, công việc không dụng tâm mà đều là A Di Ðà Phật. Có thể niệm Phật số mục nhiều lại có thể tinh thuần “nhất tâm”, thế thì càng tốt.

Niệm Phật nên phải niệm nhiều mới có thể nuôi thành thói quen niệm Phật, thói quen trở thành tự nhiên, bình thường mới có thể khởi niệm niệm Phật tùy thời tùy chỗ. Niệm Phật không có thói quen, chỉ định thời gian công khóa mới khởi được tưởng niệm Phật, lúc bình thường sẽ khởi không được tưởng niệm Phật. Nếu ngẫu nhiên khởi được tưởng niệm Phật, thì niệm cũng không được bao nhiêu tiếng rồi dứt mất. Cho nên niệm Phật cần phải niệm nhiều để tập thành thói quen niệm Phật.

Muốn tập thành thói quen niệm Phật, không phải là một sớm một chiều thì có thể được, mà phải là năm dài tháng rộng nuôi dưỡng mà thành, thói quen thành thục một cách tự nhiên càng phải cần đến công phu sâu dày.

Vì sao cần niệm Phật nhiều? Ðó là vì tăng thêm lớn lực niệm Phật, khiến cho nghiệp lực giảm lại ít đi, lực niệm Phật càng lớn thì lực của nghiệp càng nhỏ. Lực niệm Phật lớn, đến lúc “nhất tâm bất loạn” thì được “Niệm Phật tam muội”. Lực của nghiệp nhỏ, nhỏ đến khi vọng tưởng tạp niệm không khởi, phiền não sẽ dứt. Lực niệm Phật lớn thì lúc mạng chung biết trước thời gian, chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo mà niệm Phật vãng sanh. Còn lực của nghiệp mà lớn hơn lực niệm Phật, thì lúc mạng chung nghiệp lực hiện tiền, nghiệp của ngày trước chiêu cảm khiến tâm sinh sợ sệt, tâm chẳng điên đảo trở thành điên đảo, tâm một khi điên đảo thì bị nghiệp lực dẫn chạy, chuyển nhập luân hồi.

Người đời do tập khí vô minh phiền não, không phải đời nầy mới có, mà đời đời kiếp kiếp đã có rồi, vả lại từ nhỏ đã nuôi dưỡng thêm lớn, hằng ngày đều tưởng đến, hằng giờ đều dùng đến, thì bảo làm sao nó không phát sinh nghiệp lực rất lớn? Cũng như vậy, chúng ta nên niệm Phật cho thành một sức mạnh, trực tiếp lôi kéo khắc phục những vô minh tập khí, phiền não, vọng tưởng. Cũng tương tự, nên hằng ngày niệm Phật, hằng giờ niệm Phật, trong cuộc sống thường ngày tùy thời, tùy chỗ mà tưởng mà niệm. Niệm lâu rồi thì sự niệm Phật mới phát sinh ra “lực niệm Phật”, niệm Phật càng nhiều thì lực niệm Phật càng lớn, nghiệp lực sẽ theo đó mà bị diệt nhỏ đi hoặc tiêu mất, lúc mạng chung vãng sinh mới không có chướng ngại, mới có sự nắm chắc!

Chúng tại gia đã bận rộn công việc nhà lại càng bề bộn công việc xã hội, thực là rất bộn rộn, vậy thì cái nhân chính là bận rộn! Vì việc vãng sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây, dù bận rộn cũng nên lợi dụng thời gian để niệm Phật; không như vậy thì không có lực niệm Phật, trong tâm không có Phật, lúc mạng chung làm sao có thể chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo để mà niệm Phật vãng sanh!

TRONG TÂM CÓ PHẬT

Trong tâm có Phật, là tùy thời tùy chỗ khởi tưởng niệm Phật, đi, đứng, ngồi, nằm, lúc động, tịnh, nhàn nhã, bận rộn, công việc không dụng tâm mà đều có A Di Ðà Phật, lúc miệng không niệm mà tâm vẫn ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, không niệm mà không phải chẳng niệm, Phật không rời tâm, tâm không rời Phật, mới có thể được “nhất tâm bất loạn”, tâm ta với tâm Phật thông nhau, tâm và Phật ở cảnh giới “nhất như”, được niệm Phật tam muội.

à Trong miệng niệm Phật không ổn định, trong tâm nghĩ bậy tưởng loạn, phép niệm như thế thì đều không có chỗ tác dụng. Nên cần phải trong miệng niệm Phật, trong tâm tưởng Phật, tâm - miệng như nhất. Ngoài một câu danh hiệu Phật ra, việc nào cũng không nên nghĩ tưởng đến, niệm nào cũng không nên khởi, đây tức gọi là nhất tâm bất loạn, nhiên hậu mới dễ dàng thành công.

Nhất tâm bất loạn, mà nếu như xen lộn niệm khác, thẳng đến chuyên niệm mà không đạt được, chuyên niệm mà hãy còn chẳng thành, thì nhất tâm bất loạn càng khó làm được.

Niệm Phật khi công phu thuần thục nhất định có cảm ứng bất khả tư nghì. Người ở thế gian phước báo lớn không phải là giàu có tiền bạc hay sống lâu, mà phước báo chân chánh là lúc lâm chung không có bệnh, tinh thần sáng suốt, biết được đi đến đâu, đây mới là phước chân chánh.

Trong cuộc sống hằng ngày tùy duyên mà qua ngày, mang mọi cái phân biệt, chấp trước, buồn lo... buông bỏ cả đi, được đại tự tại, đó mới là hạnh phúc chân chính.

Như gặp tai nạn lớn, nên niệm: Nam Mô A Di Ðà Phật tiếp dẫn con... vãng sinh về thế giới Cực Lạc. Niệm ngày đêm không dừng, đến lúc vãng sinh.

Niệm Phật, nếu như không thể nghiêm trì giới luật, dừng dứt tham sân, hàng phục vọng niệm, đánh phá chấp trước, mà muốn cầu nhất tâm bất loạn thì ắt sẽ vời vợi xa xăm.

Gọi là “nhất tâm bất loạn” tức là chỉ có một tâm niệm Phật, không có tạp niệm của phiền não vọng tưởng.

Nếu trong tâm không có Phật, không những lúc bình thường mất niệm (không khởi được tưởng niệm), nếu là ngẫu nhiên khởi được tưởng niệm, niệm cũng không được mấy câu thì dứt quãng rồi, có lúc ngay cả thời khóa sáng chiều cũng không biết niệm.

Lúc niệm Phật, người khác gọi anh, anh đều không biết, như thế mới có “định lực”, có công phu. Lúc niệm Phật mà có gió thổi cỏ động anh đều biết cả, như thế là không có định lực, nên cần phải quyết tâm công phu thêm nữa.

Ðương nhiên chẳng phải là ngay khi bắt đầu niệm thì đạt được cảnh giới “trong tâm có Phật”. Anh (chị) không ngại thì từ ngày nay bắt đầu, cố gắng công phu không dứt, như vậy thời gian lâu, anh (chị) nhất định trong tâm có Phật. Nên biết thành công tất cả đều là bắt đầu từ hiện tại.

Người sơ cơ học Phật niệm Phật, cố nhiên là chẳng dễ niệm Phật nhiều, càng chẳng thể bàn luận trong tâm có Phật. Song có thể chuyên tâm nhất ý niệm hằng ngày, niệm hằng giờ, lâu ngày công phu sâu dày, tự nhiên sẽ có thể niệm Phật nhiều, trong tâm có Phật. Không nên chỉ vì công việc thế tục bận rộn mà không chịu dụng công niệm Phật, không niệm thì trong tâm làm sao có Phật?

Tối kỵ là ngay lúc có thời gian mà chỉ biết ăn uống chơi vui, nói khoét, xem ti vi... bỏ câu A Di Ðà Phật sang bên một cách thoải mái, thế thì trong tâm làm sao có Phật!

 Trong tâm anh không có Phật, thì cần trong tâm Phật có anh không? Lúc anh mạng chung cần Phật đến tiếp dẫn anh không? Phải biết rằng cầu sinh về thế giới Cực Lạc ở phương tây là tự anh cần đến thôi, chứ không phải là đức A Di Ðà cần anh đến đâu nhé!

Thử nghĩ, có một người ở nơi xa muốn kết bạn cùng anh mà chỉ cho anh danh thiếp, mỗi lần thấy mặt cũng chỉ một thoáng, đánh tiếng thăm hỏi, ngay cả nói cũng không được lấy một câu, giao thiệp càng ít ỏi, người đó muốn đến chỗ anh ở, cần anh đi đón tiếp, anh đi đón tiếp không? Như vậy đem lòng mình so ra thì biết.

Chuyên trì danh hiệu A Di Ðà Phật đơn giản dễ làm. Chuyên là chuyên nhất, chuyên tâm. Trì là giữ gìn không để mất nó đi. Danh hiệu là sáu hoặc bốn chữ “Nam Mô A Di Ðà Phật”. Chúng ta một ngày đến tối, không được rời xa câu Phật hiệu nầy, niệm to tiếng, nhỏ tiếng hay mặc niệm (niệm thầm) đều được. Không nên gián đoạn, lộn xộn, hoài nghi; nên phải chân thành, khẩn thiết, cung kính, chơn chánh phát nguyện vãng sinh về thế giới Cực Lạc, vãng sinh về thế giới Cực Lạc là cơ sở nắm chắc.

Vãng sinh về thế giới Cực Lạc có 2 vấn đề cần thiết không thể không biết: 1- Chánh niệm hiện tiền. 2 - Tâm không điên đảo.

­         Chánh niệm hiện tiền: Là khi mạng chung, nghĩ niệm là Phật mà tưởng cũng là Phật, lúc cuối cùng của hơi thở còn ở tại nơi câu niệm Phật, niệm Phật vãng sanh.

­         Tâm không điên đảo: Là khi mạng chung chỉ có tâm niệm Phật tưởng Phật thôi, không nhớ tưởng đến tất cả công việc của thế tục. Ngày thường tu hành tinh tấn, niệm Phật niệm đến nhất tâm bất loạn rồi, lúc mạng chung nếu có mảy may tưởng niệm việc thế tục tâm sẽ điên đảo, một khi tâm điên đảo thì chẳng được vãng sanh!

Lúc bình thường không cố công niệm Phật, mà từ trong tâm tham ái dính mắc gốc rễ sinh tử như: Giàu có, sự nghiệp, danh tiếng, người thân, ăn uống, chơi bời, không như ý thì giận dữ oán hận... lúc mạng chung làm sao mà không nghĩ đến chúng? Ngay lúc nghĩ nó, tâm sẽ diên đảo, cộng thêm nghiệp đời trước chiêu cảm, tâm hoang mang, ý hoảng loạn, bệnh khổ rất nhiều, tà niệm hiện tiền, tâm không điên đảo cũng thành điên đảo!

Trong tâm phàm phu của chúng ta vọng tưởng tạp niệm rất là nhiều, niệm nầy vừa đi thì niệm khác lại đến. Niệm Phật tức là cần gom trói cái tâm vọng tưởng tạp niệm nầy, niệm danh hiệu Phật nhiều một chút thì niệm tạp loạn vọng tưởng ít đi một chút, hằng giờ dụng công, công phu sâu dày thì có thể thu gom tất cả các niệm tạp niệm vọng tưởng nầy trên danh hiệu Phật, tất cả các niệm tạp loạn vọng tưởng đều không có, đó là nhất tâm bất loạn rồi.

Chánh niệm hiện tiền: Khi con người đến lúc mạng sống gần như sắp đứt hơi thở, dứt khoát trong tâm rõ ràng biết được muốn đến chỗ nào, trong tâm an tịnh chỉ có vấn đề niệm Phật tưởng Phật, không được có niệm khác xuất hiện.

Tà niệm hiện tiền: Người tu hành bình thường không cố công niệm Phật, chỉ giải đãi (biếng nhác), bày biện, lơ là, đến lúc mạng chung tâm nầy sẽ chắc chắn hôn mê tán loạn, điên điên đảo đảo, một chút cũng đoán không được!

Niệm Phật phải sinh chánh tín, mới có thể dụng công tốt đẹp, tùy thời tùy chỗ niệm Phật. Nếu sinh “bất chánh tín” thì niệm Phật thành ra cầu tài, cầu bình yên... có lúc niệm lúc không.

Tâm của người niệm Phật nếu không phải là tâm thanh tịnh mà là tâm niệm Phật. Tức là tâm phiền não, tâm vọng tưởng, tham ái dính mắc việc thế tục, trong tâm thường nghĩ đến nó, cả ngày nhớ mãi không quên, lúc mạng chung làm sao không nghĩ tới nó! Như vậy làm sao có thể chánh niệm hiện tiền, niệm Phật vãng sinh! Vậy nên cần phải buông bỏ việc thế tục. Có nó hay không, không nên nghĩ đến nó, càng không được để nó trong tâm để mà nghĩ tưởng.

Không luận ở nơi hoàn cảnh nào, lại nữa bận rộn cũng được, khi công việc cần suy nghĩ nghiên cứu mà buông câu Phật hiệu, công việc xong rồi lập tức khởi ngay Phật hiệu. Giả như trong việc không nhu cầu vấn đề suy nghĩ nghiên cứu có thể một mặt làm việc, một mặt niệm Phật, lúc gặp cảnh thuận hay nghịch đều không quên niệm Phật, làm được thế nầy, việc vãng sinh có hy vọng.

Tâm niệm Phật chơn hay không chơn, chỉ nên xét nghiệm ở trong phiền não vui ưa, hay ghét bỏ. Ví dụ người niệm Phật có chơn tâm, ở trong phiền não ưa ghét, tất nhiên niệm Phật mỗi niệm mỗi niệm không gián đoạn; còn nếu như một vài vui giận đến trước, mà A Di Ðà Phật vứt bỏ ở sau, như thế làm sao có thể được sự linh nghiệm của niệm Phật!

Cổ đức nói rằng: “Học Phật không khó mà khó ở sự phát tâm, phát tâm không khó má khó ở sự dõng mãnh, dõng mãnh không khó mà khó ở sự giữ gìn lâu xa”. Lại nói: không luận là nghề nghiệp công việc gì, lúc bắt đầu chưa có chi không chịu cố gắng siêng năng, dẫn đến lâu ngày tình thế dời đổi, tâm mỏi mệt sanh, hoặc được ít cho là đủ, hoặc sợ khó mà sống cầu an, phép đời như thế, học Phật cũng vậy.

SỰ TỐI KỴ TRONG NIỆM PHẬT

Sự tối kỵ trong niệm Phật: “Tinh thần phân tán, câu chữ mơ hồ, đã không âm tiết lại không liền lạc, tâm chẳng ứng với miệng, tiếng chẳng nhiếp với niệm, khinh lờn thành quen”.

Người niệm Phật chủ yếu dễ phát sinh sai lệch, thì cần ngăn chặng.

­         Tinh thần phân tán: Lúc niệm Phật tư tưởng không tập trung, đưa tinh thần lên không được. Tâm tình rơi rớt, ý chí thì chìm mất, không tinh ròng khơi dậy, tạp niệm thì vô cùng, chẳng hôn trầm cũng trạo cử, đây là vấn đề tối kỵ. Còn vấn đề kiêng kỵ là câu chữ mơ hồ.

­         Câu chữ mơ hồ: Một câu hiệu Phật nầy, thanh âm phát ra thì lờ lờ mờ mờ, người khác nghe không rõ ngay cả chính mình nghe cũng không rõ. Cho nên có câu rằng: “Mình còn chưa nghe thì Phật làm sao nghe”.

­         Ðã không âm tiết: Âm tiết điều hòa thích ứng thì niệm Phật dễ nhiếp tâm, phương pháp hữu ích thì lực mới to lớn; Ngược lại, sáu chữ trong một câu Phật hiệu, bất kể nhịp gõ chữ nào, lúc thì một nhịp, nửa nhịp, một phần tư nhịp, một phần tám nhịp, thế thì làm cho mỗi câu hiệu Phật bị biến đổi, niệm loạn thành một mảng, còn bàn luận nhiếp tâm thế nào. Không những thời gian từng chữ sắp đặt được tốt, mà sự cao thấp nhẹ nặng của thanh âm cũng phải hợp với tiết tấu. Bỡi vì niệm Phật có tiết tấu thì giống nước chảy róc rách, tự nhiên hợp vận, niệm Phật dễ dàng rõ ràng. Không âm tiết đã chẳng tốt, cọng thêm lại chẳng liên quan thì càng sai.

­         Lại chẳng liền lạc: Là câu sau không tiếp câu trước. “Tịnh niệm tương tục” rất là trọng yếu của sự niệm Phật, mà nếu không liên quan làm sao kế tục với nhau.

­         Tâm chẳng ứng với niệm Phật: Là trong miệng thì niệm Nam Mô A Di Ðà Phật, mà ở trong tâm tính toán riêng một việc ở bên ngoài như: mua chiếc xe mới, hoặc muốn đến chỗ nào, vì tính toán những việc đó thì tâm và miệng làm sao có thể ứng với nhau. Ðến nỗi ngoài ra có một tình huống là: ngay lúc niệm Phật, tạp niệm lăng xăng không biết tạp niệm nhiều thế nầy từ đâu đến, đây khởi kia mất, không cách nào trừ bỏ. Tuy vậy chẳng nên buồn lo, vì đây là hiện tượng tất nhiên trong quá trình niệm Phật, chẳng nên quan tâm nó (mặc cho vọng niệm lăng xăng, hãy nghe chính mình và niệm Phật rõ ràng), đây là yếu quyết. Then chốt vẫn là khởi lên một câu hiệu Phật nầy.

­         Tiếng không nhiếp niệm: Tiếng - chỉ cho lúc niệm Phật, tiếng niệm Phật trong miệng phát ra, âm thinh nầy có tác dụng rất lớn, then chốt của pháp môn tịnh độ, cũng có thể nói là “Mật quyết”, tức ở nơi tự niệm tự nghe. Cái được niệm là Nam Mô A Di Ðà Phật, cái được nghe cũng là: Nam Mô A Di Ðà Phật. Cho nên đều nhiếp sáu căn, trước tiên thì thiệt căn (lưỡi) và nhĩ căn (tai) đều nhiếp. Lúc nầy niệm là danh hiệu Phật, mà nghe cũng là danh hiệu Phật, tưởng cũng là danh hiệu Phật, nên ý căn (ý) cũng được nhiếp, tay giữ chuỗi niệm (thân), (mắt) thì nhìn tượng Phật, trong tỷ căn (mũi) được nghe là mùi hương đốt cúng Phật, cho nên ba căn nầy cũng được nhiếp. Nhiếp sáu căn đều là then chốt ở nơi nghe. Thông thường chúng ta tự tu, dùng cách “Kim cang trì” tốt nhất, tức là có một tí âm thanh vừa vừa ở giữa miệng môi và chân răng, không phải to lắm. Cách nầy niệm đã có âm thanh lại vừa dưỡng khí, gọi là Kim cang trì. Mặc nhiên cũng có thể nghe, song mặc niệm thì mệt một chút. Âm thanh lớn nhỏ có thể linh hoạt, lúc tán loạn và lúc phiền não khởi có thể niệm lớn, dùng âm thanh để nhiếp niệm. Nếu niệm được yên tịnh thì có thể niệm nhỏ, niệm cách Kim cang trì hoặc nhỏ một chút đều có thể được. Cần có tiếng, cần nghe được tiếng nầy. Âm thanh nầy thì có nhiếp được niệm; đây là chỗ thù thắng của pháp môn niệm Phật, then chốt là ở nơi “Tự nghe”.

­         Khinh lờn thành quen: Nếu như lúc niệm tự tâm phiền tạp tán loạn, tiếng được niệm tất nhiên lộn xộn khó nghe. Tâm không chuyên chú tai cũng mất linh nghiệm, tác dụng của tiếng niệm tự nhiên không nhiếp niệm một chút nào cả. Ở tình huống nầy đâu có tác dụng nhiếp đều sáu căn. Ngược lại cái hay dẫn khởi là kết quả xấu có hại “Khinh lờn thành quen”, đây là thành ngữ thường dùng ở trong đạo Phật. Niệm một cách khinh thường không thể chuyển thức thành trí, mà là nuôi lớn cái thói quen (Thức). Chúng ta niệm Phật tức là chuyển ý thức phân biệt thành “Diệu quán sát trí”. Nên khiến nó chuyển. Nếu niệm như thế nầy: vừa không âm tiết, tán loạn, tinh thần lăng xăng, lại vừa không liền suốt, tưởng trong tâm và niệm trong miệng không giống nhau, âm thanh được niệm cũng nhiếp không được ở nơi tâm, phép niệm nầy không phải là “chuyển” Thức mà là “nuôi dưỡng” Thức, Thức được bồi dưỡng ở trong đó, đây chính là “nỗi buồn của cổ đức”, tức là niệm cách nầy rất đáng tiếc! - Khó được thân người, khó sinh ở quốc gia trung tâm, khó nghe được Phật pháp, khó tin tịnh độ; Dù còn chịu niệm, nhưng lại niệm kiểu nầy cho nên Cổ đức rất là buồn tiếc. Niệm cách nầy thì “vĩnh viễn khó thành từng loạt”, niệm Phật niệm đến khi nhất tâm bất loạn rất khó, trước nhất phải đạt đến niệm Phật thành thói quen. Chúng ta nên phải niệm cho được thành thói quen, ít thì mười mấy câu, nhiều thì ba chục câu, nhiều nữa thì một tràng hai tràng, trong lúc nầy tâm không được động chạy, từ đầu đến cuối đều là: Nam Mô A Di Ðà Phật, đây gọi thành tràng, mức độ chính mình là thế nào, chính mình hoàn toàn có thể biết. Cho nên pháp niệm nầy, kiểu như trên, tức là “vĩnh viễn chẳng thành loạt”, đây là phép niệm không tốt, thì nên tránh đi, nên tránh khỏi chỗ dễ sinh sai lệch, mà nên tập trung tinh thần sức lực mặt hướng về ánh sáng.

Trước mắt chỉ nêu ra sự cấm kỵ của niệm Phật, cần gắng sức trừ bỏ, sau đây chính là con đường vạch ra nên tuân thủ đối với việc trước mắt:

+ Âm thanh hài hòa vận tiết ổn định: Thanh hòa, chỉ cho tiếng và ý khi niệm Phật nên hài hòa, hòa mỹ, yên hòa. Bỡi vì âm rất là quan hệ, nếu niệm quá gắt gao hay khàn giọng thì âm thanh chẳng được hòa. Tiếng của người đến chỗ mà âm thanh tốt đẹp vi diệu, thanh tịnh trang nghiêm, thì tự nhiên tâm sẽ khoáng đạt tinh thần vui vẻ, thân tâm được an hòa. Ngược lại thì khiến tâm người loạn, nóng nảy không an.

Vận ổn: Vận là âm thanh hài hòa, lại chỉ cho khí độ của thần vận cao nhã. Ổn là chỉ cho sự an định thỏa đáng, vận ổn là âm thanh an hòa trầm tĩnh, khí vận thì cao nhã, tự nhiên có một sự điều hòa của âm vận.

+ Khẩn thiết chu đáo: Khẩn thiết, ta niệm Phật như đang ở trước Phật, cách nầy mỗi niệm một tiếng, đều là từ trong tâm chí thành phát ra, khẩn khẩn thiết thiết niệm: Nam Mô A Di Ðà Phật, cần phải từng câu từng câu, đây tức là cách niệm chu đáo, cũng tức là tịnh niệm nối nhau. Ðối với người đã có thời khóa ổn định, trước nhất yêu cầu là phải rất chu đáo ở trong thời khóa, thời gian nầy không nên lệch lạc. Lại nói thêm rằng, thế thì không chỉ vỏn vẹn trong định khóa mới chu đáo, mà nên phải xuyên suốt được tùy lúc tùy chỗ, đều cần phải thường thường khởi lên một câu Phật hiệu nầy. Nếu có thể được như vậy, thành tràng thành hạt cũng chẳng khó. Pháp môn tịnh độ (niệm Phật) có cái hay ở trong đây, người đời có thể làm được, không phải là cao không vói tới. Cần anh khai ngộ, thế thì khó rồi, không phải là người người đều có thể, anh cũng có tánh khả năng, chỉ cần làm được cho dù một hai người của ngàn vạn người khó, hiện tại anh có thể kể ra mấy chục người khai ngộ không? Niệm Phật vãng sanh cũng không phải là kiểu nầy, mà ai cũng đều có thể niệm. Cần chu đáo, thường có một câu nầy, sự tình là có thể làm được, vấn đề là tự mình không chịu niệm. Phiền não một khi khởi lên thì không chịu niệm. Giận dữ gấp rút là phiền não, vui vẻ đắc ý cũng là phiền não; Kỳ thật xét kỹ trong phiền não cũng có thể niệm, chỉ là chính mình không chịu niệm, nếu hay tỉ mỉ chu đáo, trì niệm khẩn thiết, tự nhiên sẽ thành loạt thành tràng, nhất tâm bất loạn. Cho nên việc niệm Phật vãng sinh thường xuyên lúc nào cũng được quan tâm.

+ Trầm lắng an nhàn: Câu nói nầy chính là chỉ thẳng những chỗ bệnh trước mắt rất nhiều của người tu hành. Có người dụng công chỉ có lòng muốn gấp gáp, bực tức chẳng thể mau mau liền có chỗ thành tựu, do đó rất là khẩn trương, rất là gấp rút. Ðây cũng là có tâm mong cầu. Nhưng sự thù thắng của niệm Phật thì từ nơi “hữu niệm” mà thầm hợp với “vô niệm”, từ “hữu cầu” mà khế hợp với “vô cầu”, từ “vãng sanh” mà chứng được “vô sanh”. Nên “trầm lắng”, trầm lắng đến mức bình tĩnh, tâm tư không có một chút lo nghĩ bồi hồi sợ được sợ mất nào, lo nghĩ bất an nào. Mà vả lại nên “an nhàn”; Bỡi vì có người nổ lực, cũng bỡi ở tâm tư nôn nóng mà rơi vào sự khẩn trương, bề bộn, rối loạn, lo lắng, gấp rút... Như vậy là đi ngược lại lời dạy của bậc Thánh rồi!

“An nhàn”, hai chữ này tiến đến một bực nữa mà nói, không những chỉ là sự bình tĩnh (trấn định), mà còn là muôn duyên đều nhất loạt buông mất, không giữ không cầu, cho nên là một người đại nhàn giữa trời đất. Trong tâm chỉ nhớ câu niệm Phật, một câu danh hiệu Phật rõ ràng trước mặt, đã không có điều ngăn ngại lại chẳng điên đảo, vắng lặng an tâm. Cho nên có thể thấy rằng hai chữ AN NHÀN quan trọng cần yếu mười phần. Ngược lại, nếu gấp rút ở trong lòng, muốn thấy Phật thấy hào quang, muốn thấy xuất hiện điềm lành, niệm thế nầy thì sẽ sinh ra tâm bệnh; Vả lại không phải là do niệm Phật mà sinh ra bệnh đâu, mà là do trong lòng, gấp rút như thế nên sinh ra tâm bệnh. Chúng ta nên rất là an nhàn, vì sao có thể an nhàn? - Vì tín tâm! Người có tín tâm thì rất an nhàn. Có người hỏi rằng: Ta sao lại niệm chưa tốt, còn vọng tưởng tạp niệm? Ngài Ngẫu Ích đại sư giảng rất rõ: “vãng sanh hay không, hoàn toàn do nơi chỗ có hay không có tín nguyện”. Vậy thì anh có hay không có tín tâm sâu xa? Phải là phát nguyện chân chánh hay không? Chân chánh đó là không muốn lưu luyến thế giới Ta Bà nầy, mà ưa thích Cực Lạc nguyện cầu vãng sanh. Trên thực tế rất nhiều người còn lưu luyến, chẳng thể lìa bỏ, tham luyến tài sản, sự nghiệp, danh vọng, vợ con, vật chất, hưởng thụ, cuộc sống hiện tại tốt đẹp v.v... nên cố sức ham muốn nhiều nhưng sống được mấy năm, rồi lại muốn tốt nhất là trường sinh bất lão! Chính là lưu luyến thế giới nầy mà bỏ lìa không được. Cho nên ưa thích Cực Lạc cần phải phát “đại nguyện”. Nhiều kiếp trở lại đây tất cả chúng sinh đều là quyến thuộc của mình đang ở trong biển khổ đợi chờ ta cứu độ, nhưng ta làm sao mới có thể độ chúng sinh đây! Tự ta còn là người đang giãy giụa trong biển khổ, không có một chút năng lực nào cứu độ người khác, chỉ sau khi vãng sanh, nương sức gia trì của Phật, ta sẽ có được trí tuệ rồi cứu độ lập tức tất cả những quyến thuộc nầy. Phải là tâm tình như thế nầy và nguyện lực như thế nầy. Có tín và nguyện tự nhiên sẽ niệm, thì nhất định vãng sanh, cho nên vãng sanh hay không, hoàn toàn nhờ ở sự có hay không có tín nguyện. Mọi người nói muốn vãng sanh, thì trước nhất mọi người ở ngay nơi tín nguyện mà dốc sức công phu. Nguyện nầy của ta có chơn chánh hay không? Nếu tín nguyện thiết tha thì chắc chắn vãng sanh; Lại nữa vấn đề niệm Phật, trong tâm không nên gấp rút nôn nóng mà phải tự nhiên an nhàn.

+ Tiếng hợp với tâm, tâm ứng với tiếng: Tiếng niệm Phật từ trong tâm thành khẩn thanh tịnh phát ra tự nhiên hài hòa an ổn, âm thanh câu niệm Phật nầy vi diệu, trải qua tai mình mà đạt đến bản tâm, được nghe chính là được niệm, cho nên tự nhiên họp nhau, tiếng họp với tâm. Âm thanh nầy là danh hiệu Phật muôn đức trang nghiêm, cũng tức là âm thanh muôn đức trang nghiêm vậy. Âm thanh nầy vào từ nhĩ căn là tự tâm được niệm, tự tâm niệm Phật, tự tâm là Phật. Cho nên tự tâm chắc chắn tương ứng với tiếng được nghe. Tiếng hợp tâm, tâm hợp tiếng, cho nên nói rằng: “tâm và tiếng nương nhau”. Nói một cách đơn giản: Ta niệm Phật, mà niệm Phật có tiếng thì âm thanh trở lại trợ giúp cho ta. Do ta phát ra tiếng, tiếng trở lại giúp ta, cho nên nói nương nhau. Niệm như thế nầy không cần dùng cách bài trừ vọng niệm mà vọng niệm tự tiêu mất.

Chưa có thể “nhất tâm” thì trước phải cầu “chuyên niệm”, chưa có thể được “bất loạn” thì trước phải học tập “thành từng loạt”.

Nhất tâm bất loạn là lúc niệm Phật tâm không tán loạn, dẫn tới tâm chí thành, chuyên niệm danh hiệu Phật. Trong “Kinh Vô Lượng Thọ”, một điều kiện căn bản được yêu cầu của “ba hạng vãng sanh” đó là: “một hướng (lòng) chuyên niệm”. Thường xuyên chuyên niệm một câu A Di Ðà Phật nầy, là thời gian niệm rất chuyên tâm, không có vọng tưởng tạp niệm. Chưa thể đạt được nhất tâm thì trước phải chuyên niệm. Chuyên nhất chẳng biến đổi, là đối với người thấy khác hay suy nghĩ dời đổi mà nói, đứng núi nầy trông núi nọ, nói chung là chẳng thể yên được ở pháp môn mình tu, có nghĩa là ngày nay muốn niệm Phật, ngày mai muốn tham thiền, ngày mốt lại muốn tu mật, tóm lại muốn học nhiều bao nhiêu cách mới có thể nương nhờ được?

+ Chưa có thể “bất loạn”, trước phải “học thành từng loạt”: Làm chưa đạt được cái tâm “hoàn toàn đều không tán loạn”, thì trước nên khiến nó thành từng loạt. Ta không thể suốt không tán loạn, nhưng ta có cách làm mấy mươi câu thành một loạt, trong một loạt mấy mươi câu nầy không có vọng tưởng tạp loạn; Nếu người không chân thật dụng công thì ngay cả lập thành loạt niệm như thế nầy cũng khó mà làm được. Cho nên nói rằng: “Chơn siêng chơn chuyên, công hiệu tự thấy, không cần hỏi người, xin tự nghiệm lấy”. Như người uống nước, lạnh hay nóng tự biết.

Từng câu niệm mà chơn, chắc chắn ra khỏi Ta Bà. Thế nào gọi là CHƠN? - Một câu giải thích rất bình thường, nếu muốn niệm được chơn, chỉ cần niệm của chơn. Không phải là ngụy trang dối người, không phải là làm trên hình thức, không phải là có mục đích khác, không phải là vọng cầu điều quấy, không phải là cái vỏ bề ngoài. Phải nên khẩn cầu thiết tha, thường thật tín nguyện trì danh, một câu danh hiệu Phật nầy tự mình niệm rất rõ ràng, toàn bộ rất rõ ràng, tức là niệm chơn rồi vậy.

Niệm Phật chẳng thể cầu trước tiên là nhất tâm bất loạn, vì nhất tâm bất loạn rất là khó, có thể được một loạt một tràng, tức là ba mươi, năm mươi hoặc ba trăm, năm trăm câu... mà không loạn, lại có thể tùy lúc tùy nơi mà có thể khởi tưởng niệm Phật.

Niệm Phật mà có thể “nhất tâm bất loạn” đương nhiên là điều tốt rồi, nhưng có thể niệm được thành loạt thành tràng mà chẳng loạn đều không phải là dễ đâu. Có thể niệm được thành loạt thành tràng không loạn, tùy lúc tùy nơi khởi được tưởng niệm cũng là niệm Phật rồi. E rằng chỉ biết niệm Phật trong thời khóa nhất định, ngoài ra lúc bình thường chẳng tưởng được để niệm Phật!

Lúc niệm Phật nhất định nên niệm một cách “chánh tâm thành ý” và “cung kính”, đây là bí quyết nhiệm mầu của niệm Phật trì danh, mà vả lại trong lúc niệm Phật cần tâm không nên thêm việc, chuyên tâm chỉ Nam MôA Di Ðà Phật, niệm được thuần thục, thì có thể nhất tâm bất loạn rồi.

CHẲNG NIỆM GÌ CẢ - CHỈ NIỆM A DI ÐÀ PHẬT

Niệm Phật như thế nào? Xin bảo cùng mọi người một phương pháp: Tức là tùy lúc tùy nơi đi đứng ngồi nằm, động tịnh rổi rảnh hay bận rộn, lúc đi đường niệm, lúc đứng cũng niệm, lúc ngồi cũng niệm, lúc nằm cũng niệm, công tác chẳng dụng tâm suy nghĩ cũng niệm, lúc phiền não niệm, lúc vui vẻ cũng niệm. Việc quá khứ không nghĩ tưởng, việc hiện tại trừ lúc đang công tác cũng không nghĩ tưởng, việc vị lai không nghĩ tưởng, việc lớn không tưởng, việc nhỏ cũng không tưởng, việc ác không tưởng, việc thiện cũng không tưởng, chung qui đều không nghĩ tưởng. Như thế nào mới là chẳng nghĩ tưởng? - Tức là niệm chí thành chuyên nhất: A Di Ðà Phật, không chấp trước tốt xấu, có không, được mất, chê khen, buông hết tình đời việc tục, chỉ có một câu A Di Ðà Phật. Con người cả ngày vì tình đời việc tục mà bận rộn, nghĩ đông nghĩ tây, tâm làm sao có thể yên tịnh được, chẳng những lúc niệm Phật tâm không thể nhất tâm bất loạn, ngay cả lúc niệm Phật thành loạt thành tràng cũng chẳng thể được; Như thế việc vãng sanh thế giới Cực Lạc dẹp bỏ ư?

CHỈ SỚM TỐI MỖI NGÀY NIỆM MỘT LẦN NIỆM PHẬT THÌ LỰC CHẲNG ÐỦ

Chẳng nên cho là sớm tối mỗi ngày niệm một lần niệm Phật, thì là đã niệm Phật, lúc mạng chung có thể vãng sanh thế giới Cực Lạc rồi! Không có việc tốt như thế đâu. Chỉ nương vào sớm tối mỗi ngày niệm một lần niệm Phật, thì có thể nhất tâm bất loạn không? Trong tâm có Phật không? Nhân vì nghiệp chướng của chúng ta rất sâu nặng, ngày trước chẳng nói chi, tức là phiền nào, dục vọng, ác niệm, ác hạnh của hiện tại nay đây không phải là ít, những phiền não ác niệm nầy cần nương nơi lực niệm Phật để tiêu trừ, lực niệm Phật càng lớn thì lực của nghiệp sẽ càng nhỏ đi, lúc mạng chung mới có thể “chánh niệm” hiện ra trước mặt, niệm Phật vãng sanh. Ta thử nghĩ xem lực niệm Phật của ta có thể lớn hơn lực của nghiệp không? – Trong kinh A Di Ðà có nói:

“Không thể lấy chút ít thiện căn nhân duyên phước đức, mà được sinh nước kia (Cực Lạc)”.

Nếu ta chỉ sớm tối mỗi ngày niệm một lần niệm Phật, thì trong ta không hiện hữu Phật, sao có thể cảm thông cùng đức Phật A Di Ðà? Như thế chẳng ngại rằng Phật A Di Ðà quên ta lâu quá, đến lúc ta mạng chung chẳng đến đón ta; mà chỉ ngại rằng tự mình không thật sự thường xuyên niệm Phật, chẳng niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật. Bình thường không biết niệm Phật, lúc mạng chung làm sao có thể khởi tưởng niệm Phật!

Thiện căn nhân duyên phước đức; chí thành trì niệm danh hiệu đức A Di Ðà là “chánh hạnh”, gọi là thiện căn. Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, thọ giữ giới cấm, chẳng làm việc ác, ưa làm việc thiện, đó là “trợ hạnh”, gọi là phước đức. Không rõ được việc tu chân chánh nầy tức là không có thiện căn. Tu mà chỉ cầu tự độ, không phát tâm độ chúng sinh, tức là thiện căn ít. Không rõ việc tu các trợ hạnh thì là không có phước đức. Tu chỉ cầu phước báo trời người, mà không hồi hướng cho chúng sinh, tức là phước đức ít. Niệm Phật là nhân chính, dừng ác tu thiện là duyên trợ giúp. Cho nên nói rằng: không thể lấy chút ít thiện căn nhân duyên phước đức mà được sinh nước kia.

Mười niệm có thể vãng sanh! Từ sớm đến tối niệm Phật gom lại hơn mười niệm không? Niệm Phật sớm tối sao không thể vãng sanh? Nếu có thể, thì có chỗ nắm chắc không? - Người mà mười niệm có thể được vãng sanh, trong muôn người khó được mấy người! Chúng ta muốn sanh về thế giới Cực Lạc nên mới niệm Phật, vì sao không làm cái việc có cơ sở chắc chắn ư?

Mười niệm vãng sanh; Là khi mạng chung gặp được Thiện tri thức khai thị, dạy cho niệm Phật, thì tâm sinh hoan hỉ, thần chí trong sáng, nguyện sanh thế giới Cực Lạc, mình lại có thể niệm chí tâm, cho đến mười niệm, nhưng đây là do sự quan hệ từ sự gieo trồng đời trước mà nay chín, nếu chẳng phải vậy, thì sợ rằng nghiệp chướng dắt dẫn, bạn lành khó gặp, mười niệm khó thành. Bị bệnh khổ bức xúc, nghiệp trước chiêu cảm, chánh niệm khó thành, mười niệm tuy dễ, thật ra khó may mắn tập trung. Ngay lúc thân thể con người khỏe mạnh, dõng mãnh tinh tấn mà không thể giữ gìn tâm may mắn ấy, sớm chuẩn bị cho tư lương tịnh độ, để khỏi đến lúc cần đến không kịp.

Giữ không được cái tâm ở lại lúc ta mạng chung, muốn mời Thiện tri thức đến để khai thị hoặc trợ niệm, thì có biết lúc mạng chung đến không? Mời được Thiện tri thức không? Cần có Thiện tri thức khai thị trợ niệm cũng khó được để mà nhờ cậy! (Có người trợ niệm thì chẳng vãng sanh, không người trợ niệm đã vãng sanh rồi), ngay cả tự mình còn nương cậy không được, huống nữa nương cậy người khác! Nương cậy có được không? Lúc vãng sanh phát sanh chướng ngại, mạng anh liền dứt rồi; cho nên muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì nên làm cái việc có cơ sở chắc chắn, không nên giữ lấy cái tâm may mắn đó!

Ngài Thiện Ðạo đại sư, trong bài kệ khuyến hóa, nói rằng:

“Lần nữa da gà tóc hạt, nhìn xem bước đi lóng cóng, chỉ có tu hành nẻo chánh, thường chuyên niệm Phật A Di Ðà”.

NUÔI THÀNH THÓI QUEN NIỆM PHẬT

Niệm Phật là sớm tối mỗi ngày biết được niệm, vậy thì bình thường biết được niệm không? Ngẫu nhiên nhớ được niệm, niệm cũng không được mấy câu thì dứt. Nếu muốn nuôi dưỡng thành thói quen niệm Phật, tốt nhất là sáng sớm thức dậy còn ở trên giường thì niệm (niệm thầm), tối lại lúc ngủ cũng niệm, niệm đến khi ngủ, từ nay bắt tay làm đi thì thói quen niệm Phật dễ nuôi dưỡng thành. Ngày ngày niệm, giờ giờ niệm, khởi tưởng thì niệm liền, mới có thể nuôi thành thói quen niệm Phật, khiến thói quen trở thành tự nhiên, tự nhiên miệng lúc chẳng niệm mà tâm vẫn ở nơi niệm, chẳng niệm mà tự niệm, trong tâm có Phật, lâu ngày công phu sâu dày, miệng niệm tâm nghĩ, tự nhiên thành một, nhất tâm bất loạn. Niệm Phật niệm đến lúc quên ta (vong ngã), thì đạt được niệm Phật tam muội, cũng có thể ngộ đạo, đoạn trừ phiền não, liễu thoát sinh tử.

Nếu cả ngày vì công việc bận rộn! Vì danh lợi bận rộn! Vì hưởng thụ dằng dặc xao nhãng, phân tán buông lung, tâm chẳng ở tại đạo, cần công phu tu tập cũng lúc có lúc không, dứt quãng hay tới tấp bất thường, thường bị động chuyển trong sự vui, giận, buồn, ưa... đối việc thuận ý thì tâm sinh khấp khởi vui reo, đối với việc nghịch ý thì khởi tâm ghét hận (trôi nổi theo sóng phiền não, làm sao bình tâm tịnh ý mà xét việc sai đúng), thì làm sao có thể nuôi dưỡng thành thói quen niệm Phật. Ðâu rõ biết ba tạng, mười hai bộ kinh, biện tài không ngăn ngại, danh tướng thì bàn luận lung tung, biết rõ mà không làm, nói rõ mà không luyện, thì ra không khỏi ba cõi!

NIỆM PHẬT CÓ NỀ NẾP

Mọi người đều có thể hiểu được ý tứ của câu “Niệm Phật có nề nếp”, tức là toàn tâm toàn lực niệm Phật mà tâm không xen thêm việc khác, lúc có phiền não - niệm Phật, lúc hoan hỉ - cũng niệm Phật, ban ngày - niệm Phật, ban đêm - niệm Phật, lúc bận rộn - niệm Phật, lúc nhàn rỗi - cũng niệm Phật, không lúc nào là không khắc sâu và không ở tại câu niệm Phật. Ðại khái là mọi người liệu hiểu được ý nghĩa vấn đề niệm Phật có nề nếp (thói quen). Kỳ thật đây chỉ là nêu lên sự công phu trên bề mặt, mà chưa phải là niệm Phật trên vấn đề “Ðức hạnh”. Tu hành mà chỉ ở mỗi sự biểu hiện của công phu bên ngoài, mà không có sự nổ lực thăng tiến ở nơi “đức hạnh”, nghiêm trì giới luật (năm giới, mười giới, sáu độ), thanh tịnh tâm; Thế thì, thói quen niệm Phật của người đó cũng giống như một máy niệm Phật quay chuyển tự động, tự động niệm hoài câu hiệu Phật, máy tự động niệm Phật tuy có thể có thói quen niệm Phật, song không thấy có thể vãng sanh thế Cực Lạc.

Người không tu hành thì có thể làm người không cần nề nếp lắm, nhưng người tu hành thì nửa chút việc cũng chẳng nên lơ là, chẳng nên thường bị việc thế tục như: Công tác, kết hôn, sinh con, lo gia đình, mua xe mua nhà... nhiều việc nhiều việc bận rộn! Trong tâm tham ái dính mắc sinh - tử - yêu - hận! Nên nương theo lời dạy như pháp mà tu hành nề nề nếp nếp, nhiên hậu mới có thể được giải thoát (sinh về thế giới Cực Lạc ở tây phương), đây là vấn đề ý vị sâu xa, cũng là chỗ diệu nghĩa của một câu “Niệm Phật có nề nếp” nầy. Nếu như người có thể dụng công niệm Phật phát ra bằng miệng thì càng bổ sung được những thiếu sót trên nhân phẩm; như thế có thể khẳng định rằng Phật giáo đồ bao gồm đại bộ phận đều được giải thoát (sinh tây) rồi. Song đứng trên sự thật ngược lại không phải là như thế, có rất nhiều người niệm Phật chính mình đối với chính mình không có tín tâm, lại còn thưa với thân hữu (bạn bè thân) hãy vì mình mà lúc lâm chung niệm giúp mình một phen (người có tín tâm đầy đủ thì không cần phải thưa gởi như thế đâu); đây chính là người tu hành niệm Phật chẳng đủ sự thành thục, tín tâm dễ bị động lay vậy. Cũng tức là nói rằng danh hiệu Phật bình thường ta niệm chẳng đủ thành nề nếp, trong tâm ta bị những sự việc hoặc những ý niệm “không nề nếp” của ta chiếm lĩnh, trong tâm tồn tại những việc thế tục so tính cưu mang dắt dẫn mãi, khiến cho ta biến thành kẻ “miệng thì nề nếp mà tâm không nề nếp”. Cần nên biết rằng sự tình giải thoát (sinh tây) là chẳng thể hoàn toàn nhờ vào cửa miệng là xong, càng nên quan trọng là công phu trong tâm, nề nếp (thanh tịnh) trong tâm; trên miệng niệm tới niệm lui đều là một câu A Di Ðà Phật, miệng không biết được chính mình có thói quen hay không, nó chỉ là phản ảnh lại nhu cầu của nội tâm mà thôi, nó chẳng qua là công cụ phát thanh, nếu ta không dùng nó thì cũng chẳng thể ảnh hưởng lại nội tâm; cho nên công phu trên miệng không hoàn toàn chứng minh chỗ có nề nếp hay không, công phu trong tâm mới là chính của nề nếp. Ta nếu niệm Phật nề nếp thì nên dùng nề nếp (thanh tịnh) trong tâm để niệm, ngàn vạn lần xin chớ nên dùng tâm không nề nếp mà niệm đức Phật nề nếp (thanh tịnh)! Nếu thế là hành vi tự khi dối, là chướng ngại cho việc giải thoát (sinh tây).

Lại nói rằng, một việc niệm Phật có nề nếp nầy thật chẳng phải dễ, đa số mọi người thật ra rất khó mà niệm Phật có nề nếp, tóm lại là đem Phật mình niệm thành ra ông thần tài để cầu tài, mong rằng có thể được của tiền giàu có v.v... đây vốn là bản tính của con người sai quấy sâu dày, nhưng ta có thể ở trong quá trình niệm Phật cầu tài, ngược lại mà xen lẫn sự ham muốn càng nhiều của mình, khiến cho mình càng khó bỏ thoát được vướng mắc của ham muốn, biến thành niệm Phật cầu phước báo trời người. Cho nên niệm Phật thành nề nếp, tức là cần gội bỏ sạch hết tất cả những ý niệm ham muốn của thế tục nầy, nhìn rõ buông cả, đem tâm nhẹ nhàn không chấp, không vọng lấy, không vọng dùng, niệm Phật một cách chân thực tồn tại. Chẳng nên chỉ niệm Phật trên miệng mà ngược lại trong tâm, để cho sáu dục chiếm đầy, thế thì chỗ thành tựu mà ta niệm Phật thu hoạch được khả năng ít ỏi không đủ dùng cho ta, vì ta đã đều để nó dụng cho việc tiền tài, giàu có, thân nhân... trên những việc ngoài thân, mà không tập trung lực lượng để đối phó ngay cái nguồn của tất cả phiền não (tâm) đã phát ra. Ta có thể đúng như chỗ nguyện mà được sự linh nghiệm về tiền bạc giàu có v.v... thì ta ngược lại cũng khó chiến thắng nổi kẻ địch rất lớn của nhân loại đó là: Tự ngã; Nó từ trong danh lợi và lòng ham muốn mong cầu của thế gian mà thoát ra. Do vì tâm niệm của ta đã chẳng thuần tịnh được.

Trong “nề nếp” đã bao hàm ý nghĩa là hướng theo Phật Ðà mà học tập, nhìn chung, ngoan ngoãn chiếu theo lời dạy của Phật Ðà mà làm. Người chẳng có nề nếp, ngoài việc niệm Phật trên cữa miệng ra, các bộ phận khác đều xa lìa tâm Phật và hạnh Phật, nên biết rằng đức Di Ðà thì không thể mang được một bộ răng của anh lúc anh lâm chung vãng sanh, cái mà ngài mang là cái TÂM của anh, một cái tâm thanh tịnh, tâm học Ngài, nghĩ tưởng Ngài và có nề nề nếp nếp (thói quen) niệm đến Ngài!

Niệm Phật đương nhiên có thể giải thoát (sanh tây), chẳng thế thì cũng không thể có nhiều người xét rộng pháp môn nầy, nhưng niệm Phật giải thoát thật ra chẳng phải là không có điều kiện, nhân vì danh hiệu Phật ắt phải cần kết hợp với người niệm Phật, mới có thể khiến cho một câu danh hiệu Phật phát huy có sức ứng hợp của nó; cũng tức là nói tâm của người niệm Phật, hành vi (thân) và miệng cần phải kết hợp thành một thể; Miệng niệm Phật, trong tâm cũng cần tưởng Phật, hành vi thì không thể trái với sự dạy răn của Phật, đây mới là sự niệm Phật chu toàn.

Kinh Vô Lượng Thọ, đức Phật dạy rằng:

“...Chánh tâm chánh ý, trai giới thanh tịnh, một ngày một đêm, hơn cả trăm năm làm thiện ở cõi nước Vô Lượng Thọ, bỡi vì sao? Vì cõi nước kia là Vô Vi tự nhiên, sẵn chứa các việc thiện, không có việc ác dù nhỏ; ở cõi nầy tu thiện, mười ngày mười đêm, hơn cả trăm năm làm việc thiện ở các nước Phật phương khác, bỡi vì sao? Ở các nước Phật khác người làm việc thiện rất nhiều, người làm ác rất ít ỏi, phước đức tự nhiên, không có chỗ tạo ra ác. Chỉ vì cõi nầy việc ác rất nhiều, không có tự nhiên, siêng nơi khổ cầu ham muốn, chuyển đến dối gạt nhau, tâm nhọc nhằn thân khốn cùng, uống đắng ăn độc, việc ác như thế, chưa từng yên dứt”.

NHẤT NIỆM LÚC LÂM CHUNG RẤT LÀ QUAN TRỌNG

 Chúng ta niệm Phật phải toàn lực ở lúc lâm chung, nhất niệm chánh niệm (niệm Phật tưởng Phật) thì niệm Phật vãng sanh; nhất niệm tà niệm (tưởng việc thế gian, một khi tưởng việc thế gian thì tâm điên đảo) thì rơi vào luân hồi. Sớm niệm tối niệm một câu danh hiệu Phật, đi niệm ngồi niệm... cho đến cả ngày cả năm niệm niệm không thôi, không lúc nào chẳng là thuần thục câu niệm nầy đến khi lâm chung nhất niệm mới thôi. Do nhất niệm nầy chỗ liên hệ rất là quan trọng, nó dắt hồn dẫn phách, tạo mạng sanh thân, chẳng việc gì chẳng do đây, nên niệm thiện thì lên thiên đàng, niệm ác thì xuống địa ngục, niệm ma bèn thành ma, niệm Phật lại thành Phật. Nếu bình thường chẳng niệm nhiều, huân tập chín chắn sắc bén, trong tâm có Phật, đến lúc lâm chung thì sớm đã quên mất chánh niệm niệm Phật, vẫn phải theo các niệm thiện ác đã huân tập chín muồi từ nhiều đời mà đi, luân hồi khắp sáu nẻo đều từ một niệm nầy làm chủ. Nếu chuyên chú ở nơi đức Phật, thì thân tuy chết mất, mà thần thức trong sáng, tức theo nơi nhất niệm mà vãng sanh về thế giới Cực Lạc vậy.

Cho nên niệm thuần thục (trong tâm có Phật) một câu: Nam Mô A Di Ðà Phật, lúc mạng chung mới có thể chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo, niệm Phật vãng sanh; nếu bình thường chẳng niệm Phật (trong tâm không có Phật), lúc mạng chung làm sao biết Phật! Lúc ấy tưởng và niệm đều là những chuyện thế gian, lại thêm khi lâm chung bệnh nguy đau khổ rất nhiều, hoặc sanh ý bên ngoài, hoặc tiếng kêu khóc của vợ con, thần chí thì hôn mê, nghiệp trước thì chiêu cảm, ác nghiệp thì hiện ra, tâm hoảng hốt, ý tán loạn, sáu thần không chủ, hoặc tham yêu cội gốc thức ái sanh tử thế gian, tà niệm hiện ra, điên điên đảo đảo, tâm niệm Phật thế nào cũng không làm sao khởi lên được, nghiệp lực hiện ra, bị nghiệp lực dẫn dắt vào luân hồi, cho nên biết rằng nhất niệm lúc lâm chung rất là quan trọng, quan trọng lắm!

Phải quán sát thân nầy như hư không. Thân vì nghiệp chướng từ vô thỉ trở lại đây sinh ra, nghiệp chướng thì do vọng tưởng mà khởi. Chánh niệm sanh, thì vọng tưởng diệt, nghiệp chướng tiêu trừ.

Phải biết rằng bệnh khổ vây lấy thân là vì nghiệp báo, đây bỡi đời trước tạo ra các ác nghiệp nên đời nầy thọ báo, thấy như quả báo nặng thọ nhận nhẹ, mình niệm Phật của mình, nhất tâm niệm Phật, lại chẳng thấy khổ. Chẳng được để bệnh làm khổ, tâm sanh phiền não vọng tưởng. Vọng tưởng một khi khởi lên thì nghiệp chướng liền đến, mà nghiệp chướng đến thì tâm liền điên đảo.

Vì sao niệm Phật nhiều như thế mà có người chẳng được vãng sanh ư? Bỡi vì là “TÍN - HẠNH - NGUYỆN chẳng đầy đủ nên lúc mạng chung tâm sanh điên đảo”, nghiệp lực hiện ra, bỡi bị nghiệp lực dẫn đi chuyển đến trong sáu đường.

Cho nên niệm Phật cần phải nhất tâm chuyên niệm, niệm nhiều, niệm cho nề nếp để dưỡng thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, lúc mạng chung mới có thể chánh niệm hiện tiền, tâm không điên đảo mà niệm Phật vãng sanh.

HỌC PHẬT CẦN KỊP THỜI

Học Phật tu hành là việc rất yên vui của người đời, cũng là việc đáng quí khó có thể được. Căn cứ pháp của Phật dạy rằng: “Thân người khó được, quốc gia trung tâm (nơi có Phật pháp) khó sinh vào, Phật pháp khó nghe, Bậc đại thiện tri thức khó gặp”. Một tầng lại khó hơn một tầng. Trong kinh lấy người nghe được Phật pháp khó cũng giống như ví dụ con rùa mù gặp được lỗ bộng cây nổi, chín chắn mà nghĩ lại, thật là chẳng sai một chút nào! Hiện tại nhân khẩu trên thế giới nhiều như thế nào, chân chánh có thể nghe được Phật pháp thì có bao nhiêu người ư? Người trên thế giới có thể vào đạo Phật học Phật tu hành, ở trong sóng của biển người, thực tại là số ít trong số ít. Người học Phật tu hành đại khái là như đây không dễ dàng, chỉ khó như đây mới đáng quí, nhưng vì sao có những người rốt cuộc đem việc đó cho là việc dư thừa, rồi thì tránh né chỉ sợ rằng chẳng kịp? Ðây chính là vấn đề rất ý vị! Thật có phải là nhân duyên chưa tới không?

Có người nói: Hiện tại ta không có rảnh tu hành, cũng không rảnh niệm Phật. Chúng ta một ngày hai mươi bốn tiếng đồng hồ, thật ra không có rảnh rang một chút sao? Không phải thế, đều là vì danh lợi và dục vọng chất đầy cả trong đầu, trong đó có rảnh không? Người có tín tâm lấy Phật pháp làm của chí bảo, người không tín tâm đem Phật pháp làm vật phẩm tiêu khiển lúc nhàn rổi! Có thể thọ dụng Phật pháp hay không cũng ở trong đây.

Lại có người nói, mức độ của ta sáu mươi tuổi về sau mới học Phật, hiện tại còn chưa phải là lúc. Người nói những lời nầy, có đáng hay không - Khi đến tuổi sáu mươi thật sự học Phật, đương nhiên là rất có vấn đề, bỡi vì trong đầu của anh ta trang bị đầy cả tiền bạc giàu có, quyền thế, danh vọng địa vị, nam nữ, ăn uống... ham muốn những vật chất hưởng thụ, sợ sệt lắm sau khi học Phật những vấn đề nầy thỏa mãn không thành, nên quyết cần nhân cơ hội lúc còn thanh niên trẻ khỏe mà lăn lộn trong năm dục, đợi đến khi tuổi tác già rồi, thể lực suy yếu, lúc không còn khí lực vui chơi, muốn suy nghĩ học Phật tu hành, mà tâm học Phật của anh ta chẳng thuần, ý lại không chánh, tâp khí tâm bệnh sửa mà không thể đổi, vấn đề lợi ích Phật pháp dẫu có được cũng quyết chẳng thể to lớn.

Có những người tuổi trẻ lầm cho là niệm Phật chẳng cần sớm, chẳng cần phải niệm ở hiện tại, vì hiện tại còn phải chuẩn bị làm rất nhiều việc, lại nói ra rất nhiều lý do, lầm cho pháp môn niệm Phật rất là cạn cợt, coi khinh một câu Phật hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, ngược lại chưa nghĩ ra lời dạy của người xưa:

“Chớ đợi tuổi già mới học Phật

Mồ hoang lắm kẻ tuổi còn xanh

Chớ nên đợi lúc tuổi già nua tinh thần sức lực suy yếu, bốn đại chẳng điều hòa, bệnh đau nhiều nỗi, ở trong phiền não vì tham lam khốn đốn, nghiệp ác xâm lấn, danh lợi ham muốn lại khó buông bỏ, nói tu hành (niệm Phật) đâu phải là việc dễ, niệm Phật chẳng có thói quen, nề nếp, thì trong tâm không có Phật, lúc mạng chung làm sao có thể “Chánh niệm hiện tiền”, tâm chẳng điên đảo? Niệm Phật vãng sanh? Cho nên càng là tuổi trẻ thì càng nên học Phật (niệm Phật), nuôi thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn!

Có người nói: Học Phật (niệm Phật) là tốt, nhưng nhà người ta mỗi ngày bận rộn đến tối, mỗi năm bận rộn tới đầu, chỉ có thể được cái no ấm, đã không tiền làm công đức, cũng không có thời gian rảnh rổi để nghe kinh, niệm Phật. Cuộc sống cần khẩn trương, niệm Phật tuy cũng tốt, nhưng không phải là đồ uống miếng ăn, hãy đợi đợi ta phát tài rồi mới niệm Phật (!)

Có người cho rằng: Tôi là công nhân viên chức, chỗ ở là nhà chung, chẳng thuận tiện. Cúng Phật lạy Phật hẳn nhiên là không thuận tiện, niệm Phật cũng là làm rối sự yên ninh của người khác, tôi làm không được. Nơi công cộng nhiều sự bất tiện, thật ra chẳng sai. Nhưng làm việc gì cũng đều có cách thông suốt của nó, nếu biết niệm Phật là lớn, chỉ cần “thành tâm” mặc niệm (niệm thầm), bèn có hiệu quả lớn, mà chẳng nhất định phải là niệm ra tiếng.

Có người nói rằng: Niệm Phật là pháp của ông già bà lão và người độn căn tu. Hễ gặp những luận điệu như thế nầy cần phải đề cao cảnh giác, chớ nên vì những miệng lưỡi bén nhọn đó chuyển ý. Trong sử Phật giáo chư vị Ðại đức tôn kính, vì sao sau khi thấu triệt và giác ngộ được đạo lý, đều ra sức suy tôn niệm Phật cầu sanh tịnh độ? Như vậy chư vị Ðại đức đâu phải là người tầm thường kẻ độn căn! Sự - Lý không nói cũng tự rõ, chúng ta phải tự suy tư. Một điều khác, đó là xưa nay người thành tựu trong niệm Phật rất nhiều. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thương xót chúng hữu tình, chỉ bày cho thời kỳ mạt pháp, pháp môn niệm Phật rất là khế họp căn cơ chúng sinh, pháp tu đơn giản rõ ràng, đạo tràng khắp nơi thuận tiện thích ứng, rảnh rổi bận rộn đều có thể tu, hễ phàm là người chí thành niệm Phật, đều tương ứng với đại bi đại nguyện của đức Phật A Di Ðà.

Ðây đều là những vấn đề không rõ biết pháp môn học Phật (trì danh niệm Phật) cho là học Phật (niệm Phật) cần tụng kinh, hoặc ngồi yên, hoặc cần tiền làm công đức v.v... pháp môn niệm Phật chỉ giữ một câu danh hiệu: “Nam Mô A Di Ðà Phật”, đã đơn giản, lại thẳng tắc, không tiền làm công đức cũng được; người giàu niệm, người nghèo cũng có thể niệm, lúc rảnh rỗi niệm, lúc bận rộn cũng có thể niệm, là một phương pháp tùy lúc tùy nơi đều có thể niệm.

Biết chân chánh, thấy chân chánh, đó là vấn đề rất quan trọng. Nếu cái biết và thấy (tri kiến) của con người không chân chánh, thì dễ lầm lạc vào ngoại đạo, ngoài tâm chấp lấy pháp, tất cả mê tình nương tà kiến mà khởi, tức chỗ trụ làm nhân chịu sự trói buột, rất sợ ma, hoặc nguyện lực có chỗ thiếu sót. Cho nên nói là nguyên nhân không Chơn thì chuốt lấy kết quả gập ghềnh, nếu người tu hành tri kiến thuần chánh, chuyên chí niệm Phật, sanh về nước Cực Lạc, có thể từ phàm phu thẳng đến quả Phật.

Này các bạn tuổi trẻ! Nếu thật sự muốn lúc mạng chung vãng sanh về thế giới Cực Lạc, học Phật tu hành (niệm Phật) thì càng sớm càng tốt, nuôi thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, khiến vọng tưởng không sinh, phiền não dứt trừ, vãng sanh Cực Lạc thì có cơ sở chắc chắn. Chẳng đợi tuổi già mới học Phật, vì tham lam vây quanh, nghiệp ác xâm lấn, danh lợi ham muốn v.v... buông không rời được, nói vãng sanh thế giới Cực Lạc đâu phải dễ, một khi mất thân người, lại rơi rớt ở trong sáu đường thì có được vui không!

PHÁP NIỆM NIỆM PHẬT

Vì cần thích ứng hoàn cảnh và tâm cảnh niệm Phật mà khởi lên cái nhìn thấy, vì cần thích ứng với căn khí của người niệm Phật mà có các việc không đồng. Lúc nguời tu hành niệm Phật có thể lựa chọn phương pháp thích hợp cho mình rồi mới thực hành. Nếu là niệm được một thời gian mà cảm thấy phương pháp nầy không thể trấn định tâm cảnh lúc bấy giờ, bèn có thể đổi một phương pháp, như thế một lần đổi lại một một lần đổi, đều không có gì chẳng được, chỉ cần thời gian này có thể “định tâm” dẹp trừ vọng tưởng tạp niệm thì là phương pháp tốt cho thời gian nầy. Thí như trị bệnh, chỉ cần trị lành được bệnh tức là thuốc hay đối với chứng bệnh. Vọng tưởng của chúng sinh là bệnh, danh hiệu Phật là thuốc, có thể trừ được cố tật, đó là diệu dược.

1 -  Niệm to tiếng: Là phép niệm mở to cổ họng, phép niệm đó chỉ giây lát thôi, ngại vấn đề hao khí không thể trì lâu, chỉ đối trị với hôn ám nặng nề (hôn trầm), biếng nhát mỏi mệt (giải đãi), vọng tưởng, hiệu qủa rất là rõ ràng. Nhân vì niệm to tiếng có thể sảng khoái đầu óc, chấn chỉnh tinh thần, nhưng không nên niệm lâu, niệm lâu sẽ làm thương tổn nguyên khí và đau cổ khan giọng... tâm bệnh phát sinh. Lúc niệm to tiếng cần chú ý, chẳng nên làm trở ngại an ninh của người khác mà chuốt lấy sự chán ghét, như thế không có tâm Từ bi.

2 -  Niệm nhỏ tiếng: Niệm nhỏ tiếng thì khó nhiếp vọng tâm vọng niệm, thời gian thì có thể niệm lâu được nhưng dễ bị hôn trầm. Lúc tinh thần hưng phấn, người và cảnh không có sự trở ngại lại có thể niệm to tiếng.

3 -  Niệm Kim Cang: Tức là miệng môi máy động, nửa có tiếng nửa im lặng, âm thanh phát ra giữa môi và răng để chính mình nghe được thích nghi; người hành giả một mặt niệm, một mặt dùng tai để nghe, bất luận là sáu hay bốn chữ, chỉ cần từng chữ từng câu nghe được rõ ràng không sai chạy, tự nhiên tâm định. Pháp niệm nầy hiệu lực rất lớn, cho nên dùng từ Kim Cang làm ví dụ mà đặt tên.

Ba cách trên đây là nối kết với duyên bên ngoài.

4 -  Niệm thầm (mặt niệm): Nếu to tiếng, nhỏ tiếng đều không thích nghi, niệm Kim Cang vẫn còn ngại dấu vết; hoặc là chỗ nhơ uế không sạch sẽ, cho đến tắm rửa, đại tiểu tiện, lúc người ồn ào, không nên niệm ra tiếng, chỉ còn cách là niệm thuần dụng tâm. Mặc niệm chữ nhiều khó niệm, niệm bốn chữ, ở trong tâm thức của hành giả mới có sự sáng suốt rõ ràng.

5 -  Niệm nhớ tưởng: Tức là tâm niệm, miệng - môi - lưỡi đều không động, tâm niệm tất cả rõ ràng, lúc nghe trở lại tiếng của tai rõ rõ ràng ràng thì vọng tưởng khởi, ắt cần phải nhiếp tâm, thấy cảnh không duyên, tâm mới có thể định, mới là trên đường niệm Phật, Nếu không như vậy tưởng khởi lên, đó là niệm Phật trống rỗng, việc vãng sanh e rằng không đủ sức!

Hai cách trên là nối kết với sự huân tập bên trong.

6 -  Niệm truy đảnh (tiếp câu): Là dùng phương pháp niệm Kim Cang, nhưng giữa chữ và chữ, giữa câu và câu, liên tiếp liền lạc nhau rất là nghiêm túc, hình như là một chữ đuổi theo một chữ, một câu gối đầu một câu, khoảng giữa không có chỗ hở đứt, cho nên gọi là “truy đảnh”. Lúc nầy trong lòng khẩn trương, tâm và miệng đều tiến đến câu niệm, cho nên vọng tưởng tạm thời lắng lặng.

7 -  Niệm ngồi yên: (tĩnh thổ thiền): Là xếp bằng ngồi ngay ngắn, trạng thái thoải mái, thân cần phải chính ngay, không lắc lư thân, nên thuận với tự nhiên, không gồng lưng ưỡn người, để khỏi bị khí nóng bốc lên, cũng chẳng nên cong lưng cúi đầu, lưỡi tì vào hàm trên, nếu tiết nước dãi thì từ từ nuốt xuống yết hầu, khép hờ mắt, lặng nhìn ngay sống mũi. Ngồi yên nghĩ tưởng niệm Phật, chẳng phải là tham thiền, cũng chẳng phải là chỉ quán, có thể ngồi lâu dài. Hành giả khi mới ngồi, do vọng tưởng nhiều hơn niệm Phật, do niệm tạp nhiễm nhiều hơn niệm tịnh sạch; Lúc nầy thì nên phải dọn trừ đi muôn duyên, buông bỏ tất cả, nhiếp cả sáu căn. Sớm tối mỗi lúc ngồi một lần, thời gian còn lại khác nên nhớ tưởng niệm Phật. Niệm Phật như thế, thì hiệu quả của việc thu được tăng hơn nữa. Lâu xa về sau, thì tùy lúc tùy nơi, một câu danh hiệu Phật, lúc miệng chẳng thể niệm thì tâm cũng tại niệm, không niệm mà tự niệm, ở nơi niệm liên tục kỹ càng không dứt, mới là trên đường niệm Phật. Niệm ngồi yên, chẳng dùng chuỗi để niệm, cũng chẳng nhớ số lượng, chỉ cần có niệm thì tốt. Nhưng trong công khóa sớm tối nhất định phải niệm ra tiếng, có thể niệm to tiếng càng tốt. Nếu ở trong nguy nạn thì nên phát tiếng niệm to, lúc nầy chẳng nên so kể là chỗ nhơ uế. Ðến lúc mạng chung cũng cần phải niệm ra tiếng, có thể niệm to tiếng rất tốt, cần phải nhớ! Phải nhớ!

Nếu vọng niệm nhiều, tức nên dùng pháp “mười niệm nhớ số”, tức là niệm một hơi từ câu thứ nhất đến câu thứ mười thì dừng, lại tiếp tục niệm từ câu một đến câu thứ mười, chẳng được niệm leo đến hai, ba mươi chẳng hạn, để khỏi bị lực của tâm không kham nổi, ắt phải bị bệnh. Nếu nhớ thẳng mười câu mà khó nhớ, có thể phân làm hai hơi, từ một đến năm, từ sáu đến mười, chỉ nhờ vào sức nhớ của tâm mà chẳng được lần chuỗi, thì mới dốc toàn tâm lực ở nơi một tiếng hiệu Phật, vọng niệm không dấy khởi, nhất tâm bất loạn, lâu phải tự được; khi nhiếp được tâm thì đồng, mà khi dụng công thì rất khác nhau. Người kia hết một hơi là một niệm, chỉ có thể sáng sớm một lần, thường dụng công thì tổn khí thọ bệnh. Người nầy thì từ sáng đến tối, hoặc có tiếng hoặc không tiếng, tùy lúc mau lúc chậm, đi đứng ngồi nằm đều không lúc nào là chẳng thích nghi. Chẳng những bỏ được vọng mà rất có khả năng dưỡng thần, so với người lần chuỗi nhớ số kia, lợi ích khác xa.

Niệm có kỳ hạn: Nếu muốn được nhất tâm bất loạn, hiện tại chứng được tam muội, cần lựa chọn một cái thất yên tịnh, bặt dứt duyên bên ngoài, xin khách không nên nói chuyện, chỉ vì một câu danh hiệu Phật, niệm “ truy đảnh” (dùng phép niệm kim cang), hoặc phép “mười niệm nhớ số”. Không nên to tiếng làm tổn thương khí lực, hoặc làm cho bị công hỏa lên; không được ngầm giận mà tổn thương máu, hoặc lơ là thành thói quen, trầm tĩnh nặng nề tối tăm. Cũng chẳng nên niệm qua loa cho hết ngày giờ, cho cùng năm mãn tháng; lúc còn sức khỏe nên niệm mạnh mẽ một ngày một đêm đến bảy ngày bảy đêm không dừng, tích cực nối tiếp, mạnh mẽ lại càng mạnh mẽ, tình thức dứt bặt, tự nhiên thân tâm lại không bị loạn, tức gọi là nhất tâm bất loạn. Nếu chẳng được cảnh giới nầy thì tuy có tạm thời thanh tịnh, cũng là nơi nghỉ tạm, lúc thanh tịnh thì có niệm, lúc động loạn thì mất niệm, huống chi lúc lâm chung rất là đau khổ phiền muộn thì sao? Có thể thấy rằng lúc bình thường trong cảnh yên tịnh chút chút, thì tâm ý thức được việc ở bên, đến lúc buồn phiền thì dù ý thức thông minh làm chủ cũng đều dùng chẳng được vậy.

Nếu liên tục kỳ hạn mà dễ sinh bệnh, thì chẳng nên làm lâu. Xin khuyên chư vị bạn đạo, nương theo phương pháp niệm một ngày xem thử, nếu một ngày không thành, nên tập niệm lại một ngày, hoặc liên tục hai ngày, ba ngày, đến bảy ngày, thấy tinh thần chưa ổn định lắm, một lần bảy ngày chẳng thành, thì phải điều đưỡng tinh thần làm lại bảy ngày. Ngồi, đứng, đi mỗi việc nửa giờ, vòng lại từ đầu. Ðều đặn không dứt, ăn uống, vào nhà xí, mặc áo v.v... một mực là Phật, miệng không niệm được mà tâm vẫn không dứt niệm, chẳng nên khoảnh khắc lộn xộn dừng nghỉ hoặc cảm thấy mệt mỏi, chẳng nên sợ ra ngoài kỳ hạn nên đợi đến lúc khỏe mới khởi niệm. Bỡi vì cách công phu làm thế, không thể đánh dẹp được sự hôn trầm, tán loạn hoặc trạo cử; nếu sợ hôn trầm, tán loạn và trạo cử, chỉ quan tâm dẹp đuổi, chính là đối tác với hôn trầm, tán loạn và trạo cử, càng đấu đá càng thêm nhiều, chẳng bằng buông thân ngủ một giấc, hôn trầm, tán loạn và trạo cử tự diệt mất, tinh thần hưng khởi hơn lên, lựa lúc làm lại. Niệm một ngày tốt nhất là ăn ít hoặc chẳng ăn, chỉ uống nước. Hai ngày trở lên cần phải ăn.

Niệm Phật đáng quí là dụng công phu lúc bình thường, trước có chỗ nghỉ tay, dẫn đến sinh làm người sống vui, lâm chung quyết định vãng sanh. Pháp nầy rất vi diệu và rất ổn định, nguyên nhân lúc còn sức khỏe cố gắng mà làm, để khỏi đến lúc lâm chung tay rối chân loạn. Tuy là già cả yếu đuối, khí lực chẳng đủ, cũng nên khéo tự điều nhiếp mà tu hành. Lúc lên ca làm việc cũng có thể lợi dụng ngày rảnh nghỉ, theo cách thức niệm một ngày xem sao, từ chiều hôm trước đến chiều hôm sau, nếu một ngày không thành sửa đổi làm lại ngày khác, hoặc làm liên tiếp hai ba ngày trong thời gian nghỉ phép, hoặc xin nghỉ phép làm suốt bảy ngày.

Phương pháp nầy nên lấy thời gian giữa mùa xuân, hạ, thu, đông mà làm, để khỏi bị lạnh nóng khó phân.

Lúc niệm Phật có thời hạn, động cơ của người niệm càng đơn thuần càng tốt, công phu càng có thể dùng hiệu quả. Vì rất đơn thuần thì rất thành tâm, niệm Phật rất chuyên tâm thì sẽ tự nhiên phát sinh ra một sức tiến triển tốt đẹp.

Chuyên tu, là phương pháp hay để tu thân, dưỡng tánh, đoạn ác, tu thiện, dễ phát sinh trí tuệ, được nhất tâm bất loạn. Chuyên tu - không phải là tiểu thừa, là trước tự lợi rồi sau lợi tha. Không có trí tuệ mà khuyên người tin Phật cũng chẳng dễ, sao có thể nói cho chuyển động được người đời khẩu phục tâm phục mà học Phật tu hành, ra sức tu trì!

Ðơn thân không lụy phiền về gia đình mà xét ra rất nhiều phiền não. Người có nhà, như trong sinh hoạt không suy nghĩ thì lại không gánh vát được kế hoạch gia đình, một người ở riêng, đầy đủ không ra khỏi cửa, không xem ti vi báo đài, không nghe âm nhạc, chẳng nhu cầu dựa trên sự quấy rối của cảm giác, thì tự nhiên, lựa một cái thất yên tĩnh hoặc ra ngoại ô che một cái nhà nhỏ, từ dứt duyên ngoài, đóng cữa, không việc thì không ra khỏi cửa, chuyên tâm niệm Phật, tinh tấn không lười mỏi, chỉ cần sự quyết tâm đúng mức, nếu không được nhất tâm bất loạn, niệm Phật tam muội thì không ra khỏi cửa.

Lúc nằm và nơi không sạch như: nhà xí, chỗ rửa giặt v.v... chỉ mặc niệm để khỏi lỗi mất cung kính. Chớ nên nói rằng những lúc và những chỗ nầy không được niệm Phật, mà phải hiểu rằng những chỗ nầy không nên phát ra tiếng mà thôi.

Nghi thức niệm Phật đơn giản mà dễ tu hành.

ÐỊNH KHÓA SỚM TỐI

Thời khóa buổi sớm là nghe lời giáo huấn của Phật, cảnh tỉnh chính mình, một ngày nay của ta, khởi tâm động niệm, xử thế, tiếp người đãi vật, chẳng trái với lời dạy dẫn của Phật, đây là thời khóa buổi sáng.

Thời khóa buổi tối là phản tỉnh là kiểm điểm, nghiêm túc làm một lần phản tỉnh, lời dạy của Phật có cố nhớ hay không? Nếu như không làm được, cần phải nghiêm túc sám hối, sửa lỗi lầm, tự làm mới lại, ngày mai nhất định nổ lực làm cho được, đây tức là công đức lợi ích của thời khóa sáng tối; mà không phải là sáng sớm niệm một niệm cho Phật và Bồ tát nghe, tự mình nếu khởi tâm động niệm thì chẳng tương quan một chút nào với lời dạy của đức Phật.

Có phòng trống trong nhà, ta lấy một gian thì rất tốt, nếu thật sự không có chỗ cúng tượng Phật, thì thiết trí ở trong phòng mình cũng được, nhưng cần phải che trên mặt tượng Phật một chiếc khăn vàng, lúc không tụng niệm thì buông phủ khăn vàng xuống, cách nầy khỏi bị lỗi khinh mạn. Tượng Phật tốt nhất là hướng đông, người niệm Phật hướng tây, đối với niệm Phật nếu như không thể thế nầy, thì là tùy tiện hướng bên nào cũng cúng Phật được. Nếu thực tại mà không có chỗ cúng Phật, thì nên mặt hướng về tây niệm cũng được.

Cúng dường Phật, thông thường có: Hương, hoa, đèn, nước trong sạch, các thứ dưa và trái cây; Nếu không có, thiếu mấy món hoặc hoàn toàn không có cũng được. Nhưng nhất quyết không được cúng thịt chúng sinh và rượu, càng không được đốt giấy tiền, các loại giấy bạc, vàng mã.

Lễ Phật: Ðầu cúi sát đất, vái chào, cúi mình kính cẩn, chắp tay; Nếu cúi đầu lễ lạy rất là cung kính thì rất có thể diệt tội cầu phước. Quì, ngồi, đứng đều có thể niệm, nhưng cần phải tâm chí thành thì được.

Nhân chính làm chúng tại gia, nên làm công việc gia đình bận rộn, làm công việc xã hội bận rộn, sợ rằng người niệm Phật trước thì siêng năng sau thì biếng trễ hoăc chẳng niệm nữa. Do vậy mới sắp xếp niệm Phật ngay trên thời khóa sớm tối là cảnh tỉnh người niệm Phật nên niệm Phật mỗi ngày, không nên vì cuộc sống bận rộn! Sự nghiệp bận rộn! Phiền não! Lúc cao hứng v.v... mà quên đi câu niệm Phật.

Người mà “trong tâm có Phật” tùy lúc tùy nơi đều khởi tưởng niệm Phật, thì thời khóa sớm tối không làm cũng được.

Chẳng nên cho là niệm Phật ở trước điện Phật, tượng Phật mới trang nghiêm, mới cung kính; ở chỗ khác thì không trang nghiêm, không cung kính, không phải niệm Phật. Niệm Phật chỉ cần tâm thành, nơi nào, thời gian nào cũng đều trang nghiêm; chỉ ở chỗ không sạch như: nhà tắm, nhà xí... hay lúc áo mũ không tề chỉnh thì mặc niệm mà thôi.

Không nên cho là mua được cái máy niệm Phật để nghe thì là niệm Phật rồi, như thế, công đức niệm Phật không phải là của anh mà là của cái máy! Cho nên lúc nghe máy niệm thì người nghe phải cùng với máy hòa niệm mới có được công đức.

Nếu là công tác rất bận rộn, bận đến mỗi ngày cả thời khóa sớm tối cũng đều không có thời gian để làm! Lúc bình thường càng không thể nói là niệm Phật được, thế thì kẻ học Phật tu hành nên khá tự suy tư! Người lại có thời gian ăn uống vui chơi, xem ti vi, nhàn tản tán gẫu, mà không có thời gian để niệm Phật! Như thế thật là không có thời gian để niệm Phật rồi, vãng sanh thế giới Cực Lạc là việc của người khác!

Sáng dậy sớm hơn một chút, tối ít xem ti vi một chút, như thế thời khóa sớm tối có thời gian để làm.

Biết rằng người vốn bận rộn, nói lệch đi là chẳng được nhàn rỗi, kỳ thật có thật là bận rộn không? Thật chẳng thấy được? Chưa chắc là thật bận rộn, niệm Phật vài giờ nói ngược là lắm sự trì hoãn, vã lại nhìn người xưa nay mấy ai được tám mươi tuổi, chẳng thể vứt bỏ khổ sinh tử ở bên sau, chân chánh việc chính mình, cần khẩn trương muôn ngàn lần, khuyên người phát khởi sự xét nét mạnh mẽ, mau mau trồng sen chín phẩm.

Trong kinh “Phật thuyết bát vô hạ”, đức Phật dạy rằng:

“Ở thế gian nầy, ít nghe không nói, hạng phàm phu thường nói lời không rảnh rỗi - có rảnh rỗi, song chẳng rõ biết, thế nào là không rảnh rỗi? Thế nào là có rảnh rỗi?... Nếu các loài hữu tình muốn đến được hạnh Thánh, lúc tu thiện pháp có tám việc không rảnh tu tập”. Trở xuống dưới đức Phật đưa ra tám việc không rảnh rổi để tu hành ấy là:

1 -     Trụ đồng, trên sắt, các khổ não,

Tro nóng, phân tiểu, rừng dao đâm,

Ở trong địa ngục chịu khổ nầy.

2 -     Ðói khát, châm cổ, khổ hại thân,

Mưa rơi, sông chảy dòng lửa dữ,

Ở trong ngạ quỉ chịu khổ nầy.

3 -     Lại luôn ôm lòng sợ bị hại,

Thường muốn xoay vần ăn nuốt nhau,

Ở trong bàng sanh (súc sinh) chịu khổ nầy.

4 -     Nếu được ở nơi trời Hữu Ðảnh,

Do phước ngày trước sinh ở đó,

Ðược trường thọ mà huệ chẳng thông.

5 -     Sanh nơi quê mùa chốn xấu xa,

Tai chẳng từng nghe tiếng nói pháp,

Không biết, mãi ở chốn tồi tàn.

6 -     Do thân trước kia tạo nghiệp ác,

Ðui, điếc, ngọng, câm, thiếu các căn,

Ngu si tức là trâu thân người.

7 -     Hoặc người chẳng tin nơi tam bảo,

Nói không nhân quả, không quí gần,

Tà kiến như thế phá nguồn tâm.

8 -     Chư Phật đại sư (Bồ tát) chẳng xuất hiện,

Diệu pháp cũng không truyền thế gian,

Như người sinh ở trong đời tối.

Tám việc không rảnh rỗi để tu Phật; việc thứ nhất là chỉ cho chúng sinh ở trong đường địa ngục, việc thứ hai là chúng sinh ở đường ngạ quỉ; Việc thứ ba là chúng sinh ở đường súc sinh, thứ tư là chúng sinh ở cõi trời, thứ năm là chúng sinh ở biên địa, thứ sáu là chúng sinh thiếu các căn và si độn, thứ bảy là chúng sinh không tin nhân quả nghiệp báo, thứ tám là chúng sinh gặp thời Phật không xuất hiện ở đời. Chúng sinh đọa vào ba đường ác không nhàn rỗi tu hành là có thể lý giải, như thế nếu được sinh làm người cũng không rảnh tu hành, đức Phật đã nhận định:

“Ông đã được thân người, lại được nghe chánh pháp, chẳng được Thánh quả bỡi vì trong nhiều đời không được rảnh rỗi”.

Trong đây nói rằng “không rảnh rỗi” là chỉ cho người không tin nhân quả, vì họ tuy đã nghe được chánh pháp, nhưng không tin tưởng. Ðức Phật lại dạy rằng:

“Ông đã được thân người, lại được nghe chánh pháp, không thể làm như lời nói, nên trong luân hồi tám nạn, chuốt lấy các cay đắng”. “Nếu người nghe ta nói, biết được rảnh và không rảnh rổi, cho nên phải có tâm chuyên cần, chân chánh tu hành ở nơi phạm hạnh, Ta dạy người mắt sáng, khéo giữ gìn ở các việc ác, chân chánh niệm để có thể ngăn giữ, chẳng theo các hữu lậu, tất cả theo giấc ngủ, hàng phục đại ma oán, trọn vượt ra khỏi dòng sinh tử, được lên ở bờ kia”.

Lời dạy của đức Phật, đáng để cho chúng ta sâu xa lấy làm Giới. Có còn nói là không rảnh rổi để niệm Phật hay không?

Niệm Phật, là một phương pháp không chia ra giàu sang hay bần tiện, già trẻ nam nữ, lúc rảnh lúc bận, mọi người đều có thể niệm, mọi người niệm Phật thì mọi người đều được vãng sanh về thế giới Cực Lạc ở phương tây; chỉ có điều là tự mỗi người tinh tấn mà thôi.

Niệm Phật, sợ nhất là trước thì siêng mà sau lại lười, không có “hằng tâm”, cho nên người tu hành xưa nay đều đem một việc niệm Phật, gắn chặt vào công khóa hàng ngày, ngày lại ngày thực hành, lúc bình thường tùy lúc tùy nơi mà niệm Phật, để khỏi thối lui rơi rớt.

Công khóa sớm tối, là việc làm (tu) thông thường trong việc làm (tu) chân chánh; nghi thức rườm rà hay đơn giản có thể do người chế ra để thích nghi, chung thì thừa riêng thì bề bộn, ấy là do giản dị mà vào, chỉ có thể do giản dị mà thành rườm rà, không thể từ rườm rà mà thành giản dị được, mà tự thối lui rơi rớt.

Sớm tối mỗi ngày, rửa xong, hướng về tượng Phật hoặc mặt hướng về tây, quì gối hay ngồi hay đứng ngay ngắn, chắp tay ngay ngực, mười ngón tay ngay ngắn không rỗng ở trong lòng bàn tay, tâm giữ sự quán tưởng. Miệng niệm:

- Nam mô thập phương thường trụ tam bảo.(3 lần 3 lạy)

- Nam mô đại từ đại bi bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật(3 lần 3 lạy)

- Nam mô tây phương Cực Lạc thế giới tiếp dẫn đạo sư A Di Ðà Phật (3 lần 3 lạy)

- Nam mô A Di Ðà Phật. (vài trăm hay vài ngàn câu, càng nhiều càng tốt) (3 lần 3 lạy)

- Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát (3 lần 3 lạy)    

- Nam mô Ðại Thế Chí Bồ tát (3 lần 3 lạy)

- Nam mô Thanh tịnh đại hải chúng Bồ tát (3 lần 3 lạy)

(Thế giới Cực Lạc có rất nhiều Bồ tát là thầy - bạn chúng ta. Cũng nên cần phải lạy).

- Ðệ tử (tên) nguyện qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng (1 lạy)

- Ðệ tử (tên) nguyện sanh Tây phương Cực Lạc thế giới. (1 lạy)

- Ðệ tử (tên) phát bồ đề tâm, trên cầu Phật đạo, dưới hóa độ chúng sinh. (1 lạy)

- Ðệ tử (tên) nguyện đem tất cả công đức làm được của ngày nay, trang nghiêm tịnh độ của Phật, trên báo đáp bốn ơn nặng, dưới cứu giúp ba đường khổ, nếu có người thấy nghe, đều phát tâm bồ đề, hết một báo thân nầy, đồng sinh nước Cực Lạc.  (1 lạy)

 Thời khóa niệm buổi tối, cũng có thể thêm hồi hướng nhỏ:

- Ðệ tử (tên) xưa kia đã tạo các ác nghiệp, đều do tham sân si từ vô thỉ, sinh ra bỡi thân - miệng - ý, tất cả nay đây con đều sám hối.  (1lạy)

(Nếu có làm ác cũng có thể ở tại đây mà sám hối)

Niệm Phật định số từ ít đến nhiều, chỉ cần lấy sự thường siêng mà trì, chẳng nên gián đoạn, chẳng được mượn kế làm hỏng công phu, tối kỵ làm cho đủ vẻ, vì đủ hình thức thì khó được lợi ích thật sự

CHƯƠNG III

(1)

CHUYÊN THUẬT

 PHÁP CẦN YẾU CỦA HÀNH TRÌ 

TU HÀNH CẦN BIẾT 

Pháp môn niệm Phật, chung nhiếp năm giáo, khắp trùm ba căn, là một thời giáo hóa của Như lai rất rộng rất lớn, là pháp lớn rất đơn giản dễ dàng. Ngàn kinh tán tụng, muôn luận tuyên dương, chư Phật mười phương khác miệng đồng âm mà khuyên bảo tin tưởng, cao tăng đại đức xưa nay nhất tâm hoằng dương, sự sâu xa của triết lý, sự rộng lớn của vấn đề nhiếp cơ, tám vạn bốn ngàn pháp môn, lấy đây làm thứ nhất. Bỡi vì pháp môn khác đó đều nhờ tự lực mà đoạn hoặc chứng chơn; pháp môn tịnh độ nầy còn gồm cả sự nhờ Phật lực rộng vượt ba cõi. Cõi Ta Bà nhơ uế trầm trọng, cần đến địa vị Thập tín mới ra khỏi vòng khổ; cảnh giới của Cực Lạc hơn hẳn cõi Ta Bà, niệm Phật vãng sanh chỉ chín phẩm cũng thảy đều “bất thối”. Từng nghe tôn giả Xá Lợi Phất phát tâm từ thời đức Phật Ðại Thông, đến nay trải qua nhiều kiếp số lượng nhiều như hạt bụi, hãy còn ở địa vị (thanh văn), có thể thấy rằng cái khó của sự tự lực tu chứng ở cõi nầy; Huống hồ hiện tại cõi nầy nhằm lúc mạt pháp, tâm tánh chúng sinh chướng dày huệ mỏng, phước nhẹ và nhơ uế nặng, muốn nhờ tự lực để tu chứng, lại là khó trên khó. Trong kinh Ðại Tập, đức Thế tôn chỉ dạy đại chúng:

“Thời mạt pháp ức ức người tu hành, hãn hữu một người đắc đạo, chỉ nương nơi niệm Phật, sẽ được qua khỏi sinh tử”.

Bậc cổ đức cũng có nói rằng:

“Học đạo các môn khác, giống như con kiến lên ở núi cao; niệm Phật vãng sanh như buồm đi thuận gió”.

Kinh Phật lời Tổ, khăng khăng khuyên tu tịnh độ niệm Phật, chúng ta sao được cô phụ lòng Từ bi của Phật Tổ, mà chẳng chịu đọc và nghe để sanh tín tâm, phát nguyện niệm Phật, cầu sanh về thế giới Cực Lạc ư!

Từ xưa đến nay người tu tịnh độ, pháp môn trì danh niệm Phật, được thành tựu rất nhiều, pháp môn đó rất là thẳng tắt, rất là viên đốn, có thể vượt bực, chẳng cần trải qua tu lần hồi mà có thể đốn siêu. Từ tiểu học có thể thẳng lên đại học, mà phương pháp vả lại rất đơn giản,

CHƯƠNG III 

PHƯƠNG PHÁP PHÁP MÔN TU TỊNH ÐỘ

(Trì danh Niệm Phật)

- Phát tâm: Phát bồ đề tâm.

- Tín - Nguyện - Hạnh đầy đủ. Thiếu một thì chẳng thành.

- Chấp trì danh hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, một lòng chuyên niệm, chí thành khẩn thiết, hàng ngày niệm, hàng giờ niệm, đến lúc lâm chung có Phật, nhất tâm bất loạn.

ž Phn sau đây là phn chung, không lun bt c pháp môn nào, đều phi biết rõ ràng để ra sức tu hành:

- Tin về luật nhân quả một cách sâu xa.

- Tư tưởng và hành vi nên tuân theo “Bát chánh đạo” mà hành trì.

- Rõ thế nào là ác (chẳng làm các việc ác), rõ thế nào là thiện, (vưng làm các việc thiện), rõ tâm như thế nào mới có thể thanh tịnh (tự tịnh nơi tâm ý).

- Nhẫn nhục.

- Tinh tấn.

- Ăn toàn chay.

- Làm được công đức nên hồi hướng.

- Phạm lỗi cần phải sám hối.

Tu trì pháp môn trì danh niệm Phật tức là mấy câu nói như thế nầy sao? Quá đơn giản; Thế nhưng không nên coi nhỏ những câu nói nầy! Nhìn thì giống như đơn giản, mà làm thì biết rồi, nếu chẳng cố gắng công phu thích đáng, thì thật không dễ gì làm cho thông suốt! Vì người đời nhiều kiếp vốn quen, lại thêm căn tánh kém cỏi nặng nề, tập khí (tâm bệnh xấu xa) lại nhiều. Niệm Phật! Có người niệm lại thành ra “cầu ông thần tài”; Có người ra công gấp rút để việc lợi đến gần, thấy không có cảm ứng thì chẳng niệm nữa, trước thì siêng năng sau thì sa đọa; Có người cho là mười niệm hoặc sớm tối chỉ niệm một niệm tức là đã niệm Phật, thì có thể vãng sanh Cực Lạc, mà chẳng chịu niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật; Có người đã tu được mấy mươi năm, mà còn bị chuyển bỡi hai cảnh thuận - nghịch, bị vây khổn vì tình, bị trói buộc vì ái, ngay cả một chữ “tham” cũng tu hành không thông!

Phàm là học tập một việc gì, cũng cần phải rõ ràng mấy điểm sau: 1- Mục tiêu là gì? 2- Thế nào là có phương pháp hiệu quả? 3- Những nổ lực đã trải qua kia, từ việc người có phương pháp hữu hiệu, đã được thành quả thế nào?

Mục tiêu của pháp môn tu trì danh niệm Phật là vãng sanh thế giới Cực Lạc - thành Phật! Chấp trì danh hiệu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, cùng với trì giới, bố thí, thanh tịnh, tự tâm, nhẫn nhục, tinh tấn, ăn toàn chay là phương pháp hữu hiệu; Trong “Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục” đã chép thuật sự tích của các bậc cao Tăng Ðại đức vãng sanh, đó là thành quả, hơn bốn mươi tám năm - tại Ðài Loan - đã xuất bản quyển “Niệm Phật Cảm Ứng Kiến Văn Ký” cũng là chứng minh cho thấy.

TÍN – HẠNH – NGUYỆN 

Trì danh niệm Phật, Tín - Nguyện - Hạnh, là ba món tư lương (lương thực để nuôi sống) rất quan trọng và rất cần thiết của vấn đề vãng sanh, thiếu một thì chẳng được! Chẳng có “Tín” thì không thể lập “Nguyện”, chẳng có nguyện thì không thể tuân hành lập “hạnh”. Chẳng có “Hạnh” thì không thể chứng “Tín”, mà đầy đủ được “sở nguyện”.

à TÍN, tức là “tín tâm” (chân tướng tín), tin cõi Ta bà là biển khổ, đời người là khổ, khổ nhiều vui ít, tin lời Phật chẳng luống dối hư huyễn, tin chắc chắn có thế giới Cực Lạc, tin chắc chắn có Phật và Bồ tát, tin rằng ta chí thành chuyên nhất niệm Phật, thì lúc mạng chung Ðức Phật A Di Ðà nhất định sẽ đến tiếp dẫn vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Ngay nơi tin thì chẳng được sinh nghi (lơ là), ngay nơi nghi thì không thể vãng sanh! Tín tức là thái độ cung kính chân thành và niềm tin tuyệt đối; Nếu như vừa muốn được lại vừa hoài nghi, thế thì không có hiệu quả. Tín tâm có bốn ý nghĩa:

1 - Tin Phật có công đức lợi ích bất khả tư nghì.

2 - Thường để tâm đối với Phật pháp.

3 - Thường hằng tư duy đạo tu hành, có thể tô bồi thêm lên đức tốt tự lợi, lợi tha.

4 - Học tập đến nơi đến chốn đạo lớn của Phật đà.

“Tín tâm” là căn bản của Phật đạo, suối nguồn của đức tốt, nơi có thể làm tăng trưởng tất cả thiện hạnh, đoạn trừ tất cả mê chướng, ra khỏi dòng lớn ham muốn; Vững chắc tín tâm, phát nguyện niệm Phật. Cầu sanh về thế giới Cực Lạc, tín tâm cần phải kiên cố, chẳng nên lay động tín tâm. Không luận là gặp tà kiến ngoại đạo, hay bất cứ tông phái nào, nếu vui về ngũ dục, đều chẳng nên để cho bị nó làm lay động tín tâm.

Tín tâm vững chắc không dời đổi, thì nên xem xét tâm mình có đơn thuần hay không? Tâm càng đơn thuần thì càng có thể hoàn toàn tiếp nhận được Phật pháp của Ðức Phật dạy bảo chúng ta. Trong kinh nói rằng:

“Phật pháp như biển lớn, tin là có thể vào, trí là có thể độ”.

Như vậy đủ để chứng minh rằng nếu thiếu tín tâm, thì không thể vào được pháp Phật. Có rất nhiều người qui y Tam bảo, cũng trì danh niệm Phật, song niềm tin của họ lại tôn sùng ngoại đạo - loại tín tâm nầy là “Bất chánh” (không chánh tín).

à NGUYỆN, là “chơn nguyện”, ưa thích Cực Lạc, nhàm chán Ta bà, nguyện mau ra khỏi thế giới khổ nầy, nguyện mau sanh về thế giới Cực Lạc kia, nguyện tuân theo sự chiếu rọi của pháp Phật, tin chịu vưng làm. Nếu còn tham luyến các việc: giàu có, danh tiếng, quyền thế, người thân, vật chất hưởng thụ... như thế không phải là nhàm lìa thế giới nầy, mà là tham luyến thế giới nầy.

à HẠNH (hành), là tu trì pháp Phật, tin thọ phụng hành, đừng để niệm tạm quên, tu hành tận sức, chẳng gấp cầu lợi, nửa đường bỏ cuộc, chẳng nhìn khác nghĩ lệch, thấu suốt mà làm. Hạnh thì cần phải làm, chẳng phải niệm nói suông là ta học Phật tu hành mà thôi, tức là phải tu dưỡng bằng công phu. Nếu không như thế, thì cũng giống như: Bánh vẽ mà no được đói, trông trái mơ mà đỡ được khát sao?

Do đó, niệm Phật cần phải phát tâm lâu dài, rời xa tất cả tâm tạp nhiễm, tâm nghi ngờ, tâm kiêu xa... cố gắng ráng sức tu hành như thế, vãng sanh Cực Lạc là lẽ đương nhiên, là điều phải đến.

Tín - Hạnh - Nguyện, nếu như có tín mà không có nguyện, là biết có chỗ đến tốt mà không nguyện đến, cũng là uổng vậy. Có nguyện mà không có hạnh, cũng như phiếu chi mà không có đầu, chẳng giúp được gì đối với công việc. Ba việc Tín - Hạnh - Nguyện, là lấy tín và nguyện để lập hạnh (hành), lấy hạnh để thực hiện tín và nguyện.

Người thực hành niệm Phật, tu tập thiện pháp không được sinh nghi, nếu không tín tâm thì nguyện và hạnh không từ đâu khởi, tức là thiếu mất một sức lực tinh thần mạnh mẽ để tiến thẳng về trước. Người nghi ngờ, bị sự nghi che tâm, ở trong các pháp không được tín tâm, vì không có tín tâm nên ở trong sự niệm Phật thật không được gì.

Một người có “nghi kiến” (thấy nghi ngờ), tức đối với chân lý chắc thật sinh lòng hoài nghi do dự. Chúng ta có thể tin chắc niệm Phật tức là nhân duyên phước đức thiện căn rất nhiều. Chúng ta phải nên đừng tin tà kiến, chẳng nghe tà thuyết, cần khởi chánh tín để chế ngự tâm nghi, bỡi nghi là cấu uế, là mờ mịt, là chướng ngại.

Niệm Phật đối với lúc lâm chung, người xưa đã đưa ra ba nghi cần phải đoạn dứt:

1 - Nghi rằng đời ta tạo tội rất nặng, hàng ngày tu hành cạn cợt, e rằng không được vãng sanh.

2 - Nghi tâm nguyện của ta chưa rõ và tham - sân - si chưa dứt, e rằng không được vãng sanh.

3 - Nghi rằng ta tuy niệm Phật, lúc lâm chung, Phật chẳng đến đón ta.

Nếu có một trong ba nghi nầy, thì nhân nơi nghi mà sinh chướng, mất đi chánh niệm, chẳng được vãng sanh.

Nay đây đưa ra cách trừ ba nghi, để mà tham khảo:

1 - Gốc của nghiệp luống mê muội, tâm tịnh thì được rỗng rang, nghiệp nặng bất tất nghi ngờ vậy.

2 - Tình cũng như mộng huyễn, ngủ thức dậy đâu còn? Tự chịu dừng nghỉ, thì tham sân si dứt, bất tất nghi ngờ.

3 - Chấp cái gì mà sinh phiền não? Tất cả chúng sinh chấp trước các pháp thế gian là có thật, đâu biết rằng các pháp xưa nay đều là hư vọng, như hoa đóm giữa hư không, trăng trong nước, cảnh trong mộng, như bóng như huyễn, đều chẳng thật. Qua sông thì dùng bè, đã đến bờ kia, vát bè làm gì? Tức là phải bỏ đi! Sau khi đã tin chẳng nên nghi ngờ trở lại.

Ngày nay thời mạt pháp, chướng duyên đặc biệt nhiều, chính là lúc quần ma múa may, người thực hành niệm Phật phải mọi lúc thường xuyên đề cao cảnh giác - Cổ đức đã chỉ bày, lược nêu ra mấy cách để tham khảo:

1 - Tin không hết lòng; Lòng tin sâu xa rất là trọng yếu, tất có thể sinh năng lực hành đạo, chánh tín niệm Phật, lìa khổ được vui, đồng thời cũng cần hiểu biết chân chánh, chẳng dao động, chẳng sinh nghi hoặc, tâm thanh tịnh không nghi không cấu uế.

2 - Nguyện chẳng thiết tha; Phát nguyện thì nên nhất niệm thành khẩn, phát tâm vô thượng, tâm độ chúng sinh, hạnh phước chư Phật là “lục độ vạn hạnh”, thảy đều hồi hướng mà cầu sanh về thế giới Cực Lạc.

3 - Hạnh không mạnh mẽ; Do tín nguyện phát ra phối họp với lực hạnh, lúc niệm Phật giống như chiến đấu với ma, tinh thần phải mạnh mẽ, có sức bền chí và có thể siêng năng khổ nhọc.

4 - Mặc niệm lơ là; Niệm Phật quan trọng hàng đầu là nhắc bảo cố gắng siêng năng, mới được lực niệm; Giả sử tâm không chuyên chú, thì lực không đầy đủ, khó địch lại “nghiệp tập khí” từ nhiều đời, cho nên ở trong mỗi niệm chẳng quên công đức đại nguyện thành Phật.

5 - Tâm duyên việc đời; Việc đời như dây trói buộc, cho nên nói tình đời bàn một phần, Phật pháp tự có một phần đắc lực, nên lần lược mà cải tiến; Nói rằng tuổi trẻ dễ đi qua, năm tháng không ở lại, đừng lãng phí thời gian, nên tự mình củng cố, muôn duyên đều buông rời.

6 - Yêu ghét chẳng trừ; Phàm phu phân biệt, tập khí nặng nề, cần nên đọc nhiều “Cao tăng truyện”, để mở mang trí tuệ, vì hai tâm yêu - ghét đều là nhơ, không yêu thì không tham, không ghét thì không sân.

7 - Phân tâm; Mỗi người đều có sự hứng thú và tự hào, dễ chuốt lấy sự phân tâm, chẳng thể chuyên nhất, là điều đại kỵ cho người tu hành, ngay nơi niệm sinh tử, như cứu lửa cháy đầu, chuyên niệm A Di Ðà Phật khiến thành tam muội, lúc lâm chung chánh niệm, quyết định vãng sanh, gặp Phật được “Vô sanh pháp nhẫn”, trở lại ba cõi cứu độ chúng sinh.

8 - Ðề cập kinh điển trong ngoài; Chúng ta nghe có nhiều nhà lý luận tự cho là tài học của mình phong phú, thật thì lúc lâm chung niệm Phật vãng sanh không họp như sự hiểu biết, hoặc người khinh mạn thì tâm nhơ vẫn vậy, tạp nhiễm lăng xăng tâm chẳng an ổn, không thể liễu thoát sinh tử.

9 - Nghe các lời tạp loạn; Ðây là bệnh chung của mọi người, nên biết lời vô nghĩa là hí luận, cho đến những chuyện nhân – ngã, phải - quấy, toàn bộ phát ra những lời lung tung, hoặc những lời búa rìu loạn xạ, sao chẳng làm tổn thương người ư? - Nên cẩn thận!

Pháp môn tịnh độ - Trì danh niệm Phật, khó tin nhưng dễ làm, lý khó giải; Kinh “Phật Thuyết A Di Ðà” nói rằng:

“Niệm Phật pháp môn là pháp khó tin của thế gian”.

Có thể nói rằng phát tâm niệm Phật cũng chẳng phải là đơn giản, ứng với tín và nguyện gọp lại để tiến bộ, niệm niệm là Phật, để mà thoát sinh tử. Niệm Phật lấy TÍN tâm làm NHẤT tâm, có NGUYỆN thì bèn có được định HƯỚNG mục tiêu, thì HẠNH có LỰC; như thế không sợ khốn khó, mặc cho người nào châm chọc coi thường, vì sao vậy? Vì lúc nầy tâm niệm Phật, chẳng bị cảnh chuyển, danh hiệu Phật chẳng dứt, chỉ cầu nhất tâm bất loạn, tâm và Phật đồng ở một nơi, mỗi việc làm (mỗi công hạnh) đều niệm Phật, như thế có thời gian đâu mà để ý đến sự chua ngọt, lạnh nóng!

Người sơ tâm học Phật, thì còn tâm nghi tà kiến, tập khí của tánh tình. Nếu bỏ tà liền được chánh, bỏ nghi liền được chơn, chỉ như thế nầy mới có thể thành tựu được tín - nguyện, khắc phục tánh sa đọa tức có thể khổ nhọc, diệt tập khí tức ngược lại là thanh tịnh; Là chơn, siêng năng, thanh tịnh, như thế thành lập tín tâm. Nếu cầu sinh về tịnh độ Cực Lạc ở phương tây, Tín - Nguyện - Hạnh mà thiếu một thì không thể được. Vãng sanh hay không, chỉ cần hỏi rằng có Tín - Nguyện hay không? Phẩm vị cao thấp, thì nhìn ngay nơi công phu (hạnh) niệm Phật sâu hay cạn?

 CHNG TƯƠNG ƯNG: Bi tín tâm chng vng, lúc còn lúc mt, chng chc chn.

 TÍN TÂM CHNG CHUYÊN NHT: Bi không có sc quyếđịnh, chng chu dc lòng hết sc mà h quyết chí công phu.

ƒ TÍN TÂM CHẲNG LIÊN TỤC: Bỡi tâm tưởng bị gián đoạn, niệm Phật bị gián đoạn.

 TÍN TÂM CHNG CHÁNH: Thay đổi bt thường, gp sao hay vy, đã cn tham Thin, li mun hc Mt, mun gom chung hết vào mđim mi chu; Hoc b tin tài, sđẹp, danh vng, ăn ng dn dắt, nếu người để ở trong lòng, thì lập tức sai lầm.

Pháp môn niệm Phật không có gì đặc biệt diệu kỳ tốt đẹp bằng, chỉ cần ba món tư lương: tin sâu, nguyện thiết tha, ra sức công hạnh được đầy đủ, thì lúc mạng chung tâm sẽ không thể điên đảo, tức được Ðức Phật A Di Ðà hiện thân tiếp dẫn vãng sanh Cực Lạc, liễu thoát sinh tử, chóng thành Phật đạo. Chúng ta nếu quả phát tâm niệm Phật đầy đủ ba món tư lương (tín - nguyện - hạnh), thì có thể ba nghiệp thanh tịnh - lúc niệm Phật, mỗi niệm chấp trì một câu danh hiệu Phật, niệm trụ một chỗ, lấy một niệm mà đình chỉ muôn niệm, tức ý nghiệp thanh tịnh; Hai nghiệp thân và miệng đều theo ý nghiệp dắt dẫn sai khiến, ý nghiệp tịnh thì thân không làm vọng, tức thân nghiệp tịnh; Miệng niệm hiệu Phật tức miệng thanh tịnh, Chúng ta đã vì phát tâm tu hành, trì danh niệm Phật, muốn rõ thoát sinh tử thì chắc chắn phải đầy đủ ba món tư lương: tín - nguyện - hạnh.

Phật pháp chú trọng giảng nghĩa rốt ráo, nêu lý thì cần sự thấu đáo rõ ràng, luận sự thì cần phải triệt để không nên lấp lửng một nửa. Giảng nhân quả nếu chẳng rõ ràng lý nghiệp báo luân hồi, thì không thấu rõ; Giảng Từ bi nếu chẳng phổ cập việc chúng sinh thì chẳng triệt để; Mà vả lại hành thiện bỏ ác nếu chỉ nói suông lẽ đương nhiên của nghĩa, chẳng tin sự thật quả báo luân hồi, tâm ngăn ngừa, sợ sệt, cẩn thận, nếu không có, chẳng thể chân chánh thiết tha mà làm việc, thì khó tránh khỏi việc phô bày tự khi dối.

Học Phật tu hành cần phải như pháp mà phụng hành, cần phải khởi lên từ gốc rễ tâm địa sự tiêu trừ nhân ác.

Phật pháp tu hành như thế nào? Nói một cách đơn giản là: Chế phục mình, làm theo lễ, lòng nhân từ, yêu thương vật, chỉ cần thành khẩn là thật lòng, thật làm, chẳng được phô diễn dối gạt chính mình.

Học Phật tu hành do khởi tín mà vào cửa, quí ở chỗ thực hành; Như giới sát là việc cần thiết thứ nhất của người học Phật, mới học chưa thể dứt tuyệt, thì cũng nên mỗi ngày ăn ít một chút, lần hồi mới có thể dứt được, chẳng tham theo khẩu vị, trong nhà không sát sinh mà lấy tiền mua sắm, cũng khiến cho lò mổ sát hại, cũng nên hỏi lòng không thể nào chẳng chia ra gánh vát lỗi đó. Lại học Phật chú trọng khả năng bố thí; Bố thí một là có thể nuôi lớn tâm từ bi hỷ xả. Hai là có thể phá trừ thói quen (tập khí) phiền não tham lam keo kiệt. Cần phải được sự lợi ích thực tế của Phật pháp, nếu chẳng trừ tham - keo, tâm so đo chấp lấy sẽ nổi lên hừng hực, thì tâm từ bi chắc chắn là không chân thật. Mà vả lại tham muốn là gốc khổ của sinh tử, cội nguồn của phiền não. Nếu muốn tìm cách tránh hung, lìa khổ được vui, mà không gắng sức trừ bỏ hai chữ “tham muốn”, thì không có thể giải quyết được! Nếu muốn trừ bỏ tâm tham muốn, trước nhất từ sự bắt tay làm việc bố thí. Bố thí là chế phục mình quên đi công lao của mình, và thí nghiệm tâm đại bi; Nếu tâm Từ bi thiết tha, chế phục mình mà bố thí, là bỡi chúng sinh, thì thân cũng còn có thể xả bỏ. Ðâu có thể sát hại sinh mạng để mà khoái miệng mình! Ðâu chịu lấy tiền bạc của vật uổng phí để vui cho ý mình! Ðâu chịu keo kiệt để giữ vật cho mình chẳng dùng để giúp người, thì đâu chịu cung phụng cho thật hậu hĩ, coi thường người khổ! Cho nên công phu thực hành, trước nhất là phải xét nét trên việc bố thí, nếu ở đây mà làm mang tính cách phô diễn, thì khó mong có được thành tích tốt. Kinh Phật nói rằng: “Nhân nếu không chơn, thì quả chuốt lấy bị cong vạy”. Công đức của bố thí nguyên chẳng phải là ở chỗ lớn - nhỏ, nhiều - ít, mà toàn là nhìn vào lúc phát tâm, ngày thường như thế nào giữ tâm? Sự liên quan nầy cần phải thành khẩn. Nếu ngày thường tham lận phóng túng, cho đến trong nhà có bệnh khổ nguy cấp, nhằm lúc ấy lạy Phật hứa nguyện, quyên tiền thí giúp, cầu bệnh mau tiêu tai, những việc bố thí nầy không có chút nào phát ra từ tâm chân thật Từ bi, làm sao có thể có được sự cảm ứng.

TU HÀNH KHÔNG ÐƯỢC DO DỰ

Người đời nghiệp ngày trước tạo ra có thiện có ác, thiện ác lộn xộn nhau không rõ ràng; Có lúc sinh khởi thiện tâm, có lúc lại sinh ra ác niệm. Do từ vô lượng kiếp đến hôm nay đây bỡi những vấn đề thiện ác nầy, nên ngay lúc tu hành cũng chẳng dễ dẹp thoát được nghiệp báo; Bỡi vậy có lúc muốn tu hành, có lúc lại nói rằng cuộc sống hiện tại tốt đẹp, có lúc muốn tu hành, có lúc lại phải nhiễm ô, đây đều là do niệm sinh ra ở ngày trước, mà đời nầy kết lấy quả nầy. Niệm trước muốn tu hành, niệm sau lại cần cầu phú quí vinh hoa, phước báo trời người, cuộc sống hiện tại có ý nghĩa; Như vậy thì làm thế nào? - “Lựa việc thiện mà theo, chẳng thiện thì sửa đổi”. Cần phải từng lúc mà đề cao cảnh giác, như đi vào vực sâu, như đi trên băng mỏng, cần có tâm cẩn thận như thế nầy để tu hành. Cho nên tu hành là: “Cử động hành vi tự quản lý, đi đứng ngồi nằm chẳng lìa niệm”. Cần nên mỗi niệm đều thanh tịnh, mỗi niệm đều sáng suốt, không nên mỗi niệm nhiễm ô và tối tăm. Chúng ta mỗi một niệm đều cần phải rất là cẩn thận, mỗi một niệm thiện thì sáng suốt rất nhiều, nhưng nếu là niệm ác, thì càng niệm càng tối tăm. Trên đầu người thiện có luồng “bạch quang”, trên đầu người ác có luồng “hắc khí”; cho nên làm thiện làm ác, tự nhiên sẽ hiện ra hình tướng, ta cũng có thể nhìn thấy được người, nhưng nhìn không rõ bằng chư Phật, Bồ tát và quỉ thần.

Không luận là người xuất gia hay tại gia, không nên không chỉ có chẳng lập công ở trong Phật giáo, mà ngược lại tạo nghiệp tội, cần phải biết vì sao từ vô thỉ kiếp đến nay, tóm lại là không thể thoát lìa được cái khổ luân hồi, vẫn là bị mờ mờ mịt mịt! Lại tính toán hồ đồ không trong sáng, thị - phi lộn xộn, nửa nầy nửa nọ thanh tịnh và ô nhiễm (cho đến nỗi có lúc bình thường tu hành mà mất niệm - muốn niệm Phật cũng chẳng được - thậm chí có người khác ở trong thời gian niệm Phật mà anh cũng không biết niệm cùng họ), cho nên không vượt được luân hồi. Chúng ta nếu chân chánh tu hành, muốn sinh thế giới Cực Lạc, thì trước khi chưa vãng sanh, nhất định cần phải tinh tấn mạnh mẽ, không nên biếng nhát, phô bày, tản mạn, đối phó cho qua việc.

Tu hành, là mọi người cần phải làm cho được sự nuôi dưỡng bằng phẩm hạnh và đạo đức, không chỉ là không thể thiếu việc nổ lực hướng thượng, mà còn là việc phải thực hành của một số người trong nẻo mê. Tu dưỡng phẩm hạnh đạo đức, có thể khiến cho tư tưởng cân bằng, hành vi được sửa đổi, tâm hướng thiện, hướng về sự tốt đẹp. Ngược lại nếu lúc bình thường không chú trọng việc tu thân và lề lối chính mình, thì sẽ dẫn đến thành một con người có hành vi tùy tiện, chỉ chăm vào việc tự lợi riêng tư, không thèm để ý đến sự sống chết của kẻ khác; Do đó sửa đổi hành vi một con người, hoàn toàn ở tại tâm - TÂM TỊNH - có thể nói rằng cảnh giới cao nhất thăng tiến tinh thần, cũng ở ngay nơi người đời. Ðối xử với sự cạnh tranh, cuộc sống, ham muốn nhiều ở trong xã hội, lại cần có sự tu sửa hành vi như thế nầy; Nó có thể khiến cho người ta không tìm cầu mù quáng, chẳng khởi tà niệm, ít dục vọng, biết vừa đủ là đầy đủ, trong vui vẻ giúp người cứu người. Nhưng tu dưỡng tâm cảnh nầy thật chẳng phải là dễ làm được, cần phải chính mình trong cuộc sống ngày thường tu trì nhiều mặt, không được hư ngụy, chẳng cố tình làm ra vẻ, trong ngoài một mối, mỗi lúc làm được việc gì thì lại tuần tự dần đưa vào cảnh tốt đẹp.

Nhưng ở quá trình tu trì, quyết cần phải lấy sự quyết tâm không so tính, chắc chắn và nghị lực, để khắc phục tất cả nghiệp chướng, như các thói quen xấu ác: ham vật dụng, mê hoặc lợi dưỡng, tham lam, sân hận, lòng dạ hẹp hòi v.v... Pháp luật dạy chúng ta cần đình chỉ việc ác mà hãy làm việc thiện, tâm giữ niệm thiện, tuân làm những việc đạo đức cơ bản làm người, thì cư xử người cần phải được tròn đầy, hài hòa, để mà đạt được mục đích hỗ trợ.

Thời đại mạt pháp hiện tại, tà ma ngoại đạo (tà ma là có ý nghĩa hại người; Ngoại đạo chẳng qua là sự hiểu biết, thấy hiểu của người khác không phải là chánh đáng, phàm là việc không họp với sự tu hành Phật pháp, đều gọi là ngoại đạo) dẫn dụ con người đi vào đường mê, hạng người nầy rốt cuộc đều như thế, căn cơ của những người nầy đều là rất cạn cợt, như thế sẽ đạt được Phật pháp chân chánh chăng? Ngay ở trong một đời nầy tu thành công chăng? - Ðức Phật đã nói rồi, tức là thời kỳ mạt pháp có ức ức người tu hành, cũng khó được một người có thể tu thành công; Chỉ có niệm Phật cầu sanh về thế giới Cực Lạc, mới có thể khỏi được khổ luân hồi sanh sanh tử tử nầy. Cho nên ngoài pháp môn niệm Phật nầy, cầu sinh về thế giới Cực Lạc, bất luận dùng phương pháp nào, nếu ở trên một đời nầy tu thành công, trọn không thể được. Nếu là chờ đến đời sau, thì tính xem lại có thể sinh lại làm người không? Hơn một nửa là mê mất, chẳng những chỗ mong đều thành bánh vẽ, vả lại có tạo nghiệp phước nhân, đời sau cũng có nỗi lo đọa lạc!

TU HÀNH CẦN BỀN LÒNG KHÔNG BIẾN ÐỔI

Cây thì lớn lên từng ngày, ta tuy không nhìn thấy sự sinh trưởng của nó, nhưng trong sự không biết không hiểu, nó vẫn lớn lên, cho đến mười năm trăm năm, thì biến thành vật liệu hữu dụng. Cây như vậy, chúng ta tu hành cũng như vậy, không nên gấp rút, chúng ta muốn ngày nay tu hành ngày mai sẽ khai ngộ, không nên như thế; Quyết cần phải tu hàng ngày, tu hàng năm, cũng nên xem nó có tiến bộ gì không, nếu không lui bước thì ta tiến bộ; Chẳng nên cầu mau, chỗ gọi là: “Việc mà gấp tiến tới thì lui cũng mau”. Ngược lại quyết cần phải dùng tâm bền bĩ thường hằng (hằng tâm) để tu hành, hàng ngày cầu sám hối, sửa đổi lỗi lầm; Chỗ gọi là: “Một ngày không có lỗi để sửa đổi, tức là một ngày không có công trạng để tạo”. Cho nên chúng ta tu hành tức là cần diệt tập khí, cải đổi tâm bệnh, bỏ tư tưởng bẩn thỉu, hiện ra ánh sáng quang minh vốn có, trí tuệ xưa nay. Những trí tuệ quang minh nầy là người nào cũng đều vốn đủ có, tiếc rằng bị vô minh ngăn che, không thể khéo dùng trí tuệ quang minh của mình. Vô minh đã ngăn che thì sẽ phải chìm đắm; Nếu ta bừng phát trí tuệ thì sẽ vươn lên. Cho nên tu hành chẳng phải một sớm một chiều, mà là ở ngay nơi niệm, hàng ngày hàng năm đều tu thế nầy hằng thường không biến đổi. Thời gian lâu rồi sẽ mới có thể nuôi thành trí tuệ Bát nhã của chúng ta. Không nên một ngày ráo riết, một ngày nguội lạnh, thế nầy thì vĩnh viễn cũng chẳng thể có công phu, chúng ta tu hành nên học sự trưởng thành của cây cối lớn lên từng ngày, từng ngày thành tâm để tu.

ÐÁNH MỞ SỰ KẾT BUỘC NƠI TÂM

“Phiền não không tìm, không thể có phiền não”. Mỗi người đều có phiền não. Phiền não của chúng ta, cũng giống như sự kết buộc ở trên tâm, tâm kết mà mở không được, vĩnh viễn sa đọa trong vực sâu của phiền não, không cách nào tự vượt ra được. “Nghi Tọa Thiền” chép rằng: - có một lần, Ngài A Nan, đệ tử của Ðức Phật, lúc phiền não không dừng được, bèn đến thỉnh giáo Ðức Phật, Phật mới đem một chiếc khăn tay ra gút lại nhiều gút, hỏi A Nan rằng: “Ðây là cái gì?” Ngài A Nan đáp rằng: “Ðây là gút”. Ðức Phật nhân cơ nói đạo: “A Nan, ở trong tâm ông cũng giống như gút lại nhiều gút như đây, chỉ cần mở ra từng cái một, ông có thể giải tiêu được phiền não của ông”. A Nan nghe xong lập tức khai giải được tâm ý.

Chúng ta là “Bát địa phàm phu”, rất khó mà giải ngộ ngay được, huống chi nói đến chứng ngộ. Nhưng ở trong sự khai thị cao minh mà đơn giản cần yếu của Ðức Phật, chúng ta rất ít lãnh ngộ trên những thứ lớp nào đó cần có; Một, tâm chúng ta xưa nay giống như chiếc khăn tay bằng thẳng không có nếp nhăn, thế thì có gút nào tồn tại? Hai, do ở nơi tưởng vọng làm vọng của chúng ta, mới có sự kết buộc của phiền não, kết buộc nầy là tự chúng ta gút lấy; như mới tu hành vài năm thì đã muốn khai ngộ rồi. Ba, chỉ cần chúng ta bắt tay vào tâm gút kết, chia ra hai bên, gút bèn có thể mở được. Như mà dùng sức kéo đuôi gút, chẳng những mở không được, mà ngược lại càng kéo càng bền chắc. Bốn, quyết cần ra tay từ cái gút - phiền não căn bản - phía trên, cái gút phía dưới sẽ lần lượt được mở. Năm, gút buộc ở tâm được mở, phiền não cũng sẽ không tồn tại lại nữa.

Biện pháp đơn giản nầy có thể làm chẳng đi tìm, chẳng thể có phiền não, nhưng một khi đã có phiền não, cần phải dùng pháp Ðức Phật dạy dẫn A Nan: “Ðem cái gút trong tâm, từng cái một mở ra”. Tức là đơn giản như thế nầy, như đây mà thôi.

KHÔNG NÊN BỊ MẮT, TAI, MŨI, LƯỠI, THÂN DẪN DẮT

Gặp được tốt, nhìn được đẹp, nghe được hay thì cao hứng; Ăn ngon, mặc đẹp, ở sang thì vui vẻ; Người nhà mọi việc thuận ta thì vui lòng thõa ý; Gặp xấu, xem xấu, nghe dở thì nhàm ghét; Ăn sai một chút thì thế nầy không thích ăn, thế kia không muốn ăn, không họp thời trang về đồ mặc thì rầu rầu không vui; Việc nghịch lại thì giận, oán hận; Cả ngày phân biệt ở nơi tốt - xấu, được - mất, khổ - vui, cứ lòng vòng... Ðây tức là bị chuyển theo cảnh! Bị mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý dẫn dắt! Chẳng được tự tại. Tốt - xấu, được - mất, vui - buồn, thuận - nghịch, đều chẳng khởi tâm động niệm; Ngay khi khởi tâm động niệm thì đều bị cảnh chuyển, sẽ tạo nghiệp.

VẠN MA KHÔNG ÐẨY LÙI ÐƯỢC TÂM BỒ ÐỀ

Càng ở trong chỗ khó thì càng tinh tấn, khắp tất cả những việc nghịch ý xen nhau dẫn đến đều vẫn thư thái, chẳng oán trời, chẳng trách người.

“Càng học tốt thì oan nghiệt tìm; Cần thành Phật thì trước tiên phải bị ma”. Nếu không muốn tốt thì oan nghiệt không thể đến tìm; Càng muốn tốt thì oan nghiệt càng tìm, mong muốn tính toán cho xong nợ trần. Bỡi vì từ vô lượng kiếp đến nay, nghiệp thiện - ác đời đời kiếp kiếp đã tạo ra, nó lộn xộn không rõ ràng, do vậy một ngày muốn tu hành, các chủ nợ vốn có đều đến để đòi nợ. Cũng giống như anh từ trước đến giờ là người bình thường, mượn rất nhiều tiền, không rõ là bao nhiêu. Trước lúc anh chưa phát tài những chủ nợ nầy biết anh không có tiền, cho nên không thể đến đòi nợ. Nhưng ngay khi một ngày nào đó anh phát tài, thì những chủ nợ nầy lập tức đến tận nhà để đòi nợ. Vì sao? Bỡi vì anh đã có tiền, nếu chẳng cần đến anh, thì không có thời gian để người ta phải quay lại. Cho nên trong việc tu hành mà gặp nghịch cảnh, thì nên càng tinh tấn mạnh mẽ mà hướng về phía trước, không được lui mất tâm bồ đề. Lúc chủ nợ đến đòi nợ thì trả cho họ. Tức là đem công đức mình có được, hồi hướng cho bọn chủ nợ - cả kẻ oán lẫn người thân - khiến họ được công đức, mà lià khổ được vui, liễu thoát sinh tử, chúng ta không nên gánh nợ mà không trả!

Vô lượng kiếp đến nay, do mỗi nhân duyên không đồng nhau, đời đời kiếp kiếp không biết đã làm bao nhiêu việc. Thế thì lấy đời nầy nói, chín chắn mà nghĩ, chúng ta đã giết bao nhiêu sinh mạng, đã làm bao nhiêu việc chẳng công bằng? Ðối với những chúng sinh khác mà nói, hoặc dẫu không sát nhân, sinh mạng lớn (trâu ngựa, heo, gà, vịt, chó v.v...), nhưng có thể sát sinh mạng nhỏ (muỗi, mòng, kiến, trùng nhỏ v.v...), cũng có thể trong tâm anh đã có ý niệm sát được tồn tại. Giống như có một lúc, vì không biết, mà đã sát rất nhiều động vật nhỏ, hay một ngày nào đó anh đoạt lấy và làm tổn thương sinh mạng của chúng sinh; Nếu anh muốn tu hành, thì chúng nó đều sẽ đến đòi nợ, nợ nầy không phải là một hai món, mà là không thể tính kể hết, đời đời kiếp kiếp được tích lũy qua nhiều ngày tháng, nợ nầy nói cũng không thể xong. Cho nên chúng ta chẳng thể không nói đến lẽ chung, nói ta đã tu hành, mà chẳng nhận có nợ oan nghiệp. Nếu như có cách nghĩ như đây, thì vĩnh viễn chẳng thể thành đạo, bỡi vì trong tâm chẳng công bằng, trong tâm nếu công bằng thì cần nhận rõ, trả nợ thì đã không có việc gì rồi. Cho nên nói là: “Cần học tốt thì oan nghiệp nhiều”. Cũng giống như một người mới phát tài, cho nên bạn nghèo của người đó đều đến nhà để tìm, đều muốn được một chút lợi ích.

Ma, có nội ma và ngoại ma. Thiên ma và tất cả Quỉ được tôn sùng là: “ngoại ma”; “Nội ma” tức là các phiền não và vọng tưởng ở trong tâm, cho đến tất cả những lo buồn khổ não đều là nội ma. Do những cái nầy hay chướng ngại tu hành cho nên gọi là MA. Ngoại ma so ra dễ khắc phục. Nội ma rất khó mà hàng phục; Có thể hàng phục được nội ma, tức ngoại ma cũng chẳng có thể làm hại được. Cho nên tu hành chủ yếu là “hàng phục nội ma”. Nội ma được hàng phục tức tâm thanh tịnh, được mở trí tuệ lớn, có trí tuệ thì có thể dứt được hoặc nghiệp, tức là thành đạo.

“Cần thành Phật thì trước tiên phải bị ma”. Phật được sự trợ giúp của ma mà thành đạo, nếu không có ma thì không có Phật. Ma là để khảo nghiệm ta, khiến ta càng tiến bộ. Cho nên nói là: “Muốn nhìn thấy đến ngàn dặm, lại phải lên một tầng lầu”. Ðây cũng là muốn xem thử nội công của anh đã đủ hay chưa? Nếu đủ, thì bất động không lùi trước ngàn vạn ma quân; Tâm bồ đề không thối chuyển. Càng ở nơi chỗ khó thì càng tinh tấn, tất cả những việc nghịch ý xen nhau dẫn đến đều đối xử rất là thư thái. Phải công bằng, chẳng oán trời, chẳng trách người, có thể cái nghịch đến mà ta tùy thuận thọ lãnh, tu nhẫn Ba La Mật, nên có công phu nầy; Cho nên ma chướng đã đến, thì chẳng đối địch với ma, tự mình nuốt một chút thiệt thòi cũng chẳng sao, tự mình nên phát nguyện độ ma, khiến nó qui y Tam bảo, phát tâm bồ đề. Ðối với ai cũng đều chẳng nên giận, oán hận, như thế có thể hóa hung thành cát, hóa chiến thành hòa, hóa thù thành bạn. Nếu nói rằng tìm chỗ tốt đẹp ở phương diện ngược lại (làm mà có chỗ không được, thì cầu ngược lại cho mình), chẳng nên làm luật sư biện hộ cho mình, không luận là việc gì: “chơn thật nhận mình lỗi, chẳng bàn cái quấy của người, “đồng thể” gọi là đại từ. Ðồng thể, cũng là bao trùm cả ma; Ma cũng là một phần của tự tánh. Nếu tự tánh có ma, thì sẽ dẫn đến ma bên ngoài. Nếu tự tánh không ma, ma bên ngoài sẽ không thể tiến đến. Thế nào là ma của tự tánh? Là tham, sân, si... có câu rằng: “Nếu không có bát mèo ăn, thì nhà không có ruồi”. Ma biết được anh có chút ít béo bở, nó có thể “thừa nước đục thả câu” để kiếm chút ngon, cho nên đến quấy rối anh, mà hiện ra việc ma của nó. Cho nên nhất cử nhất động của chúng ta, một lời nói một hành vi cần phải cho chắc chắn. Nói phải trung tín, làm phải thật kính, chẳng được nói lời vọng. Nếu sợ nhận sai của mình, là rốt cuộc che dấu lỗi lầm, đây chẳng phải là hành vi của người tu hành. Nên phải thành thật mà công bố ra, làm việc rất là thẳng thắng và khảng khái, vốn được chiếu rọi từ lương tâm đạo đức và ý nghĩa để làm việc. Nếu có chỗ chẳng họp với lương tâm đạo đức, thì dứt khoát không được làm.

Phàm người tu cần phải đầy đủ trí tuệ. Trí tuệ chân chánh, tức là không khen chê người khác; Nói: “Anh xem tôi đây này, tôi là số một, tôi thanh cao nhất, mà ngược lại họ thấp hèn như thế”. Phàm là người tự khen thì đã không có tiền đồ, tuy là đang sống, nhưng kỳ thật đã chết rồi, bỡi vì họ đã đi ngược với đạo đức lương tâm, nhìn không được người khác, chỉ biết có mình, đây là người rất không được sự khen vui của Phật và Bồ tát. Nếu muốn được sự vui khen và yêu giúp của chư Phật và Bồ tát, thì lời nói và việc làm một mối, “Nói phải nhìn việc làm, làm phải để ý lời nói”, chẳng mâu thuẩn với nhau. Chẳng nên thường khoe mình tốt như thế nào, đến khi làm việc thì xấu. Người tu hành không nên có tâm riêng tư, tâm tự lợi, cần có lợi ích cho người khác, chẳng nên ráng sức làm thương tổn người để lợi ích cho mình, hoặc nhìn không rõ được người khác, mỗi người nên “hồi quang phản chiếu” (quay lại soi rọi xét nét chính mình), xét coi việc quá khứ, việc hiện tại, lại chiếu xét đến tương lai. Có thể niệm đây ở tại đây (giữ niệm hiện tại), thời khắc không quên lương tâm đạo đức, thời gian lâu rồi, thiện căn tự nhiên tăng trưởng, tâm bồ đề phát lớn, thời sẽ làm đạo Bồ tát, lợi ích chúng sinh, đây là sự quan hệ liên đới.

Người chẳng nên sợ ma, mà thối lui tâm bồ đề, ma chướng chỉ là để xét nghiệm. Cũng như học sinh vừa mới bắt đầu học, cảm thấy bài khóa giáo trình rất khó, nhưng thời gian lâu rồi, học đã nhập môn thì sẽ cảm thấy không còn khó khăn nữa. Từ bắt đầu học tiểu học, trung học, rồi đến đại học, đều có những tình hình nầy phát sinh. Cho nên nói rằng: “Chẳng trải qua một phen lạnh buốt xương, thì làm sao hoa Mai tỏa ngát hương” hay “Mười năm song lạnh không người hỏi, một sớm thành danh thiên hạ hay”. Lúc tu hành chẳng nên cố mong tự đề cao. Người tu hành còn cầu danh cầu lợi, ham muốn lung tung là việc rất không cần. Chúng ta sau khi tu hành, nhất định cần nhận chân được thực tế rõ ràng để tu hành, vun bồi sửa sang gieo trồng hạt giống phước huệ. Tu phước thì cần phải lợi ích chúng sinh, tu huệ thì cần phải niệm Phật nhiều, nghiên cứu tụng đọc kinh điển, thường làm việc lợi ích chúng sinh, thì sẽ sinh ra phước đức. Có người hỏi là có nên dùng tiền tài để làm công đức hay không? - Chỉ cần bảo tồn tâm thiện; Làm mười nghiệp thiện, không có tâm ác; Chẳng làm mười nghiệp ác, đây đều là vun bồi chỗ phước đức, thật ra chẳng phải là nhất định cần dùng tiền làm công đức mới là công đức. Cho nên nói là: “Miệng Từ bi, lưỡi phương tiện, có tiền không tiền đều làm được công đức”. Chúng ta nên mọi chỗ mà tiếc phước, mọi nơi không bỏ phước, đâu đâu cũng tu phước huệ. Tu phước huệ chẳng phải một sớm một chiều được thành, mà năm nầy tháng nọ đều cần phải làm liên tục. “Chẳng nên một ngày dồn dập, một ngày nguội lạnh”, chúng ta nếu là thế nầy, vĩnh viễn chẳng thể có tiến bộ. Cho nên chúng ta cần nhận định “tôn chỉ”, mạnh mẽ tinh tấn, chẳng nên lùi về sau, đây là điều kiện mà mỗi người tu hành nên có.

NHỎ NHẸ KHIÊM TỐN

Gọi là “nhỏ nhẹ khiêm tốn”. “nhỏ nhẹ” tức là tâm rỗng rang (khiêm tốn) không kiêu ngạo, không tự đại, chẳng cố tự đóng chặc bước tiến; “khiêm tốn” là dằng tiếng nuốt khí, là trên thái độ biểu thị “ta ở dưới người”, người khác đều mạnh hơn ta, đều tốt hơn ta. Bỡi vì tâm rỗng rang không có thành kiến, mới có thể hoàn toàn xét nghĩ khách quan, mà có thể tiếp nhận được kiến nghị của người khác. Cho nên cần phải nhỏ nhẹ khiêm tốn ở nơi việc người, ở trên sự tu hành lại cần phải nhỏ nhẹ khiêm tốn, chẳng vậy - vĩnh viễn không thành tựu. Nên biết rằng Ðức Phật giảng bình đẳng, tất cả chúng sinh đều bình đẳng, nam nữ già trẻ, phú quí bần tiện, đều một lẽ bình đẳng, chẳng phân đây - kia, đối với họ đều một lẽ khiêm tốn và hài hòa, ở bất kỳ tình huống nào, vẫn tâm bình khí hòa, chẳng sinh bực mình, nhẫn nại đợi chờ, đây mới là nội công tốt đẹp nhất. Chẳng thể nhỏ nhẹ khiêm tốn, như gà cồ thét gáy, có đấu được rồi, công trước bỏ hết, già chết bất thành; việc phàm việc Thánh đều như thế nầy, mong nguyện những người đồng tu cùng cố gắng.

THÀNH TỰU

Chẳng nên tu một thời gian ngắn thì muốn có sự thành tựu ngay, sự thành tựu không phải là việc dễ dàng như thế. Như chúng ta học muốn được học vị bác sĩ (tiến sĩ), thì cần phải trải qua: tiểu học, trung học, đại học, thạc sĩ, rồi mới có thể được bác sĩ, trong những khoảng thời gian đó lại trải qua nhiều lần thi cử, nếu có một lần mà thi qua không được, thì học vị bác sĩ cũng mất hy vọng mà thôi, chỉ biết “Nhìn biển bao la mà than dài!”. Niệm Phật tu hành cũng là như đây, nếu chỉ niệm có mấy năm như thế mà muốn có thành tựu, dẫu là người căn khí bậc thượng cũng chẳng có thể mau như vậy đâu! Người tu tự lực mới bàn đến việc “thành tựu”; Bỡi vì người tu tự lực nếu không có “Thành tựu” thì ra không khỏi ba cõi! Cho nên cần có sự thành tựu, mới bàn đến thành tựu. Tu tự lực không nhẹ nhàng thoải mái giống như niệm Phật. Ta chỉ nhìn đến người tu tự lực có sự thành tựu, mà không thấy được sự ăn uống khổ sở, công phu phải ra sức của người tu tự lực. Cũng bỡi vì dễ được như thế, người niệm Phật chẳng bàn đến sự thành tựu, cũng không có thành tựu để bàn, vì khỏi được cái nhân cần có là “Thành tựu”, hễ thêm một việc ở nơi tâm là chướng ngại một việc. Người niệm Phật, lúc mạng chung, biết trước được giờ chết mà chánh niệm luôn được duy trì, tâm không điên đảo, niệm Phật vãng sanh tức là thành tựu!

Chẳng nên tu mới mấy bữa đã mong có sự thành tựu, trước nhất phải xem thử sự dụng công của ta đã được bao nhiêu? Xem thử sử dụng sau khi tu hành, thì biết được công phu tu hành của ta có sâu nhiều chăng! Chẳng ngại làm việc kiểm tra như sau đây:

- ẤN CHỨNG DÙNG BƯỚC ÐẦU:

1 - Sau khi phiền não khởi, chớp mắt đã tiêu mất, rất là dễ chuyển.

2 - Thói quen sâu xa ngày thường hãy còn ưa chuộng, chợt dứt đi mà sửa đổi (Như: chẳng phải do áp lực từ bên ngoài đến, mà chợt tự động ngăn ngừa thuốc, rượu, thịt v.v...), tự động ăn chay.

3 - Gặp việc không đi vào chỗ bế tắc, mà thường từ chỗ siêu việt để nghĩ tưởng.

4 - Gặp việc thường phán đoán quán sát trên nhân quả, tùy duyên, nhân đó mà thích ứng, ở đó mà được thư thái, tâm được - mất đều bình an và điềm đạm.

5 - Ngay lúc gặp gỡ những việc phi lễ (vô lễ) và sỉ nhục, cũng chẳng dễ gì giận dữ và oán hận như ngày trước.

6 - Ít oán trách, ít so kể, ít tranh chấp, ít lao xao rộn ràng, ít phân biệt.

- BƯỚC KẾ TIẾP:

1 - Ðối với người có chỗ thân yêu, chỉ là soi xét chỗ thích ứng để mà dẫn dắt, giúp họ có sự tự lập, tự cường, tự trị, mà chẳng phải cả ngày cõng vát chẳng thôi, lo nầy nghĩ kia, phập phồng lo lắng, cả ngày buông không rời.

2 - Ðối với sắc đẹp, sự hiển vinh tôn quí, cừu thù ở đời, kẻ vô lại, người tà đạo, lúc ứng phó tâm không thành kiến, dùng tâm bình đẳng bình thường để đối đãi nhau.

3 - Ðối với sự vật, tiếp tục, sự ưa chuộng rất là yêu vui, có thể biết đó là vô thường, yêu mà không chấp giữ thì chẳng bị lụy vì nó, dẫu mất đó cũng chẳng cảm thấy khó chịu, chẳng làm nô lệ cho sự vật.

4 - Ðối với danh lợi, quyền thế, chuyên môn sở trường, của báu, phạm vi mình có, nên biết là huyễn mà không dính mắt, tùy duyên lấy bỏ, được không vui, mất không buồn, biết phân định đó là vô thường.

5 - Lúc đối đáp giao tiếp, lúc vui hết mình, lúc kinh sợ, lúc lo lắng, lúc cô quạnh... có thể chịu nổi không bị bức bách, nhân sự thích ứng mà tự như vậy, hoặc dứt bỏ buông rời, mảy may không quái ngại.

6 - Ðối với hoàn cảnh chẳng tốt đẹp, công việc không thuận lợi, chỗ ở không thích nghi, bề mặt không tốt đẹp... các cảnh nghịch; Ðều nên phá bỏ tâm trói buộc, tùy cảnh gặp, nhân đó mà thích ứng, mà an ổn, không lấy việc khổ vui thế tục mà làm khổ vui.

- LẠI BƯỚC KẾ TIẾP:

1 - Nên tự sửa đổi tính cách, như bỏ lìa: đa nghi, keo kiệt, gấp gáp, thô tháo, khéo tính toán, khéo tranh luận, khéo hư vinh, khéo bài xích người khác... những cái riêng của ta cố chấp kết nhóm khó lìa, từ sự câu chấp mà dẹp thoát, mà hào phóng, mà siêu vượt, mà viên thông, mà tự tại.

2 - Gặp lúc thiên tai, nhân họa, bệnh tật, khổ nạn nặng nề v.v... thì biết tất cả sinh diệt vô thường, nguồn gốc không huyễn, nên không buồn không sợ, xử sự thư thái, tùy duyên mà “Nhậm vận”, tự tại vô ngại.

3 - Tuy biết phân biệt nhưng không trụ ở hai tướng, chẳng vì so lường mà sinh vọng tưởng, chẳng vì thương ghét mà sinh phiền não, vào ở “trí không phân biệt”.

4 - Ðối với ranh giới thị - phi, chánh - tà thì hoàn toàn rõ chăng? Có tròn đầy rỗng không hay chăng? Lòng dạ có rộng rãi hơn trước hay chăng? Vọng tưởng, phiền não, chấp trước có giảm ít cho đến không có hay chăng? Ðối với nghĩa chân thật tự ta thì đã có rõ ràng không nghi ngờ hay chăng? Ðược “Pháp hỷ” hay chăng? Pháp hỷ thì tinh thần no đủ, không mỏi mệt dễ dàng, thời gian ngủ nghỉ ít đi, tu hành không biếng nhác. Có tinh thần là từ trong pháp hỷ.

Muốn biết công phu tu hành của mình sâu được bao nhiêu? Ðức hạnh của mình có được bao nhiêu? (Ðã đủ đức hạnh, thì chỗ ở không đóng cữa ngõ mà ruồi muỗi hay các loài trùng nhỏ... chẳng thể tiến vào); Các phần trên, nếu có thể tự ta khẳng định, thì là thành tựu của anh.

Ở thời gian tu hành, gặp bất cứ cảnh giới nào, dù duyên thuận hay nghịch, đều phải cư xử thư thái, thuận nghịch đều phải tinh tấn, xem tất cả muôn sự muôn vật thành là vì chúng ta mà nói pháp, nếu chúng ta rõ biết muôn sự muôn vật đều ở tại thuyết pháp, thì có thể biết chỗ kỳ diệu chẳng thể nói được; Nếu có thể rõ ràng rồi, thì có thể biết bản lai diện mục, là đi trở về nhà, mượn pháp thế gian mà tu pháp xuất thế, chẳng bị muôn pháp mê hoặc, ngay khi tất cả cảnh giới đến, đón tiếp mà hiểu biết, không bị nó chướng ngại, thời gian thế nầy lâu rồi, Phật tánh của chúng ta sẽ hiển hiện; Nguyên nhân không hiển hiện, tức là chúng ta chẳng tiến về trước, gặp thiện duyên thì do dự không cương quyết, gặp ác duyên thì chạy với nó, do đó mà bị dừng giữ lại ở trong đời hiện tại. Cho nên xem không rõ, buông không rời, tóm lại chẳng được tự giải thoát, hồ đồ sinh ra rồi hồ đồ chết đi, chung qui là điên điên đảo đảo, tìm không ra đạo lý như vậy. Ðời người nầy tức là đời người hồ đồ, tóm lại cho là mình có thành tựu lớn, có của cải giàu, có sự nghiệp lớn, có danh vọng nhiều, mọi người khen ngợi, vâng làm, trọng đãi, phô trương nhiều! Hiển hách nhiều! Ở trên đời người thế là thành công rồi; Ðâu chẳng biết rằng thành công trên đời người, tức là thất bại trên sự tu hành! Ra không khỏi luân hồi! Cho nên cần đưa ra sự tính toán đặc biệt rõ ràng, làm một con người tu hành chân chính minh bạch, đánh phá cửa sinh tử, vượt thoát vòng luân hồi, thế nầy mới là người tu hành chân thật.

TRONG SẠCH TÂM ÍT HAM MUỐN – TRỪ PHIỀN NÃO

Mỗi người đều có rất nhiều phiền não, đây là nguồn gốc dẫn dắt mê hoặc và đau khổ. Người đời muốn thoát ly sự trói buộc của phiền não, quyết cần phải tiến tu năm phương pháp:

1 - Cần có chỗ thấy chính xác. Ðối với muôn sự muôn vật trên thế gian, cần nên giữ lấy cái nhìn chính xác, bày rõ quan hệ nhân quả, tin xác thực tất cả cội nguồn của khổ đau, đều khởi từ phiền não trong tâm ta, một ngày kia phiền não đã tiêu trừ, thì khổ đau sẽ tự nhiên không từ đâu sinh khởi. Người đời bỡi do chỗ thấy không chính xác, cho nên mới đối với “muôn sự muôn vật” và “Ngã” đã sinh khởi cái chấp có thật, hơn nữa do không rõ phép tắc sự tuần hoàn nhân quả của việc đời, mà luống tự tăng trưởng mê hoặc. Bị trói buộc ở nơi quan niệm sai lầm nầy, phiền não đương nhiên sẽ không có cách nào tiêu mất, sự đau khổ cũng sẽ theo thời gian mà tăng trưởng. Cho nên nói: Chỗ thấy chính xác là nguyên nhân chủ yếu nhất để tiêu trừ khổ đau.

2 - Cần khắc phục dục vọng. Người đời nếu có dục vọng thì nhất định có phiền não. Cho nên cần phải lấy tâm thanh tịnh để giữ gìn dục vọng sinh khởi từ sáu căn là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, cần dứt trừ cội nguồn phát sinh phiền não.

3 - Chẳng bị nô lệ vật bên ngoài. Vạn vật ở thế gian là ứng với sự nhu cầu của con người mà sinh, mục đích của mặc y phục là ngăn che và tránh lạnh, cho đến bao lấy những cái xấu hổ bên trong; Mục đích của ăn uống là đủ no và nuôi dưỡng đời sống, để tiện việc tu tập, chẳng được tham lam hưởng lạc, mà chẳng biết đủ đầy. Nếu có thể giữ được cách nhìn chính xác nầy, chẳng bị vật bên ngoài sai sử, thì phiền não không từ đâu mà sinh khởi.

4 - Tâm nhẫn nại phải nên bồi dưỡng cao độ. Không luận là hoàn cảnh hiểm ác bao nhiêu, nếu nhẫn nại khiêm nhường, tất cả phiền não tranh chấp sẽ bị tiêu diệt ở nơi vô hình. Quá nóng, lạnh giá, đói rét, khô khát đều cần nhẫn nại; Gặp bị nhục mạ, chê bai, cũng cần nhẫn nại bình tâm tĩnh khí, quên hết những nỗi bận tâm, lo âu, lửa phiền não không cách nào nổi dậy, cũng sẽ chẳng cách nào thiêu hủy tự thân được.

5 - Xa lìa sự mê hoặc dẫn dụ của cảnh xấu (ác). Chính như người hiền chẳng tiếp gần các loại như: Ngựa chứng, chó điên; Người tu hành cũng chẳng nên tiếp gần hoàn cảnh đầy dẫy hiểm ác, hoặc chỗ ở gần, bạn bè, sách vở v.v... những điều có hại đối với mình, người tu hành nếu xa lìa sự mê hoặc dẫn dụ của các việc hiểm ác, lửa phiền não tự sẽ bình yên dứt mất.

Các món dục vọng của thế gian, tóm lại chẳng ra ngoài năm việc: Ðồ vật được thấy ở mắt, âm thanh được nghe ở tai, mùi hương được nghe ở mũi, vị được thưởng thức ở đầu lưỡi, cảm giác được chạm xúc ở nơi thân; Năm cơ quan mắt, tai, mũi, lưỡi và thân nầy tìm cầu cảm giác khoái thích và hấp dẫn, bèn là năm việc ham muốn (ngũ dục).

Con người, hầu hết đều vì dục vọng của bản thân bị hấp dẫn mà chìm đắm trong đó, không xét hiểu được kết quả đam mê ở nơi ham muốn của bản thân thì sẽ phát sinh nhẫn đến tai hại đáng sợ.

Cũng vậy, nếu người ta có thể tu luyện tâm mình, chẳng bị mê hoặc bỡi năm dục, thì không luận là hiện tại hay vị lai, đều có thể không phiền não, không khổ đau, được hạnh phúc mà vui vẻ.

Một con người tham cầu không nhàm chán sự giàu có, danh tiếng, quyền thế, sắc đẹp, thế thì phiền não sẽ không cách nào dẹp thoát được.

Tâm người là nhu nhược mười phần, rất dễ lay động, một chút mà không giữ thần giữ ý, thì sẽ hướng lệch lạc đến ở trong dục vọng đầy những tập khí nặng nề. Ví như xem được, nghe được, muốn được sự vật vui thích, thì sẽ sinh khởi tâm THAM. Xem được, nghe được, gặp được sự vật chẳng thuận ý mình, thì sinh khởi tâm SÂN. Xem được, nghe được, gặp được sự vật đáng sợ, thì sẽ sinh khởi tâm sợ hãi. Trong tâm nếu thường xuyên ở trong cảnh tham, thì tâm tham sẽ tăng mạnh. Nếu thường nghĩ tưởng cảnh sân hoặc cảnh sợ hãi, thì tâm sân và tâm sợ hãi cũng sẽ mạnh mẽ lên từng ngày.

Cho nên cần phải đem mình mà nghiêm túc giữ gìn, phá trừ tất cả niệm tà ác, triệt để dẹp bỏ tâm tham, sân và hại (sợ hãi); Bồi dưỡng tâm chẳng tham, chẳng sân và chẳng hãi sợ. Nếu như tâm chẳng thanh tịnh, hành vi sẽ có mối tệ; Hành vi có mối tệ, thì không thể tránh khỏi phiền não. Do đó, nên thanh tịnh nội tâm, cẩn thận lời nói và việc làm.

PHƯƠNG PHÁP ÐOẠN TRỪ PHIỀN NÃO

1 - Không nghĩ quá khứ, hiện tại, vị lai, tốt xấu, đắc thất, vinh nhục, khổ vui.

2 - Giữ gìn nhãn căn của mình, dùng pháp “bất tịnh” mà quán sát, nếu dùng pháp tịnh mà quán thì sinh ra các món phiền não; Năm căn khác cũng như vậy.

3 - Xa lìa tất cả các việc ác, như sự dụ dẫn mê hoặc của tri thức, bạn bè, ở hàng xóm v.v...

4 - Ở việc ăn mặc, chẳng phải là sự lợi dưỡng tự thân, hay là để cống cao ngã mạn; Ðó chỉ là nhiếp phòng cho mạng căn, khiến cho thân được yên ổn; Hai cảnh thuận nghịch cần nên nhẫn; Ðói, khát, lạnh, nóng, muỗi, ruồi... bức xúc, tiếng ác đập gõ cũng nên nhẫn, thân thể gặp các bệnh rất là khổ đau, còn có các việc không vui cũng đều nên phải nhẫn.

Người tu hành nếu sinh niệm ham muốn, chẳng chịu trừ bỏ, sinh tà kiến chẳng chịu xả trừ, thì phiền não khởi, chỉ duy lấy chánh kiến, chánh tư duy mới có thể đoạn trừ phiền não.

NGÃ CHẤP

Chấp trước: Chấp là giữ cứng; Trước là dính chắc; Vọng tưởng là lầm lỗi; Chấp trước là giữ chặc lấy lầm lỗi.

Phàm là chấp trước: thân ta, tâm ta, tri kiến ta, khả năng ta, ta lợi hại, ta yêu ghét v.v... đều thuộc về “Ngã chấp”. Chính con người thường lấy NGÃ làm trung tâm, lúc tranh sĩ diện, tranh hư vinh, tranh ý khí, tranh được mất từ công việc, tức là lúc biểu lộ ngã chấp.

Ðời người nguyên là vô ngã và chẳng có kiến chấp ngã, ngay khi người ở yên tịnh, lúc chẳng ghét chẳng cầu, không ân không oán, vốn không gọi là ý thức ngã và phi ngã; Kiến chấp về ngã bỡi do phân biệt so đo mà sinh, ý thức vun bồi mà thành, thói quen đã chứa khó sửa đổi mà chấp.

Người thường hoặc dùng thân thể làm “Ngã”, hoặc dùng sự thấy hiểu của tư tưởng làm “Ngã”, hoặc dùng hành vi tạo tác làm “Ngã”, hoặc dùng danh dự - giàu có - quyền thế làm “Ngã”, thậm chí dùng cái thuộc sở hữu làm “Ngã”; Chỗ gọi là “Ngã” ấy, bất quá là một món giả định trên quan niệm mà thôi.

Sợ sệt đời người, lo lắng xã hội, chỉ duyên chúng sinh chấp trước ngã kiến (kiến chấp về ngã), thói quen chứa nhóm riêng tư, người người đều cố tham chấp “cái ta” nầy, bài trừ những cái chẳng phải ta, vì mưu lợi cho “cái ta” nầy, bèn đưa mình lên và ức chế người khác xuống, ở việc đó mưu tính hại nhau, nhiễu nhương không dứt, thành ra tranh chấp, ghét hận, oán cừu, đánh nhau, tàn hại v.v... rất là buồn khổ.

Chấp trước hư vinh, tranh hơn ghen ghét, ỷ mạnh tranh thắng, kích động tổn thương người. Si mê danh lợi, cam chịu làm tay sai, dốc lòng dựa dẫm leo cao, chẳng trừ thủ đoạn, mưu tính hại nhau, trở trái vô thường, bán bạn cầu vinh, làm phản cướp lợi, vì riêng tư mà làm rối, che dối thiện lương, vì quấy làm tồi, tán tâm cuồng bệnh. Tham lam, tranh bá, đoạt lấy, tàn hại, đấu tranh, giết chóc, kết oán.

Thân có: Sinh, lão, bệnh, tử. Vật có: Thành, trụ, hoại, không. Tâm có: Khởi, chấp, chuyển, dứt. Người có: Kết, họp, tản, lìa. Sự có: Lập, hưng, suy, phế. Trời có gió mây bất trắc. Ðời có họa phước ngày đêm, tùy thời gian chuyển biến, không có hằng thường, việc thế gian không như ý ta ấy, thường thì tám – chín phần mười; người ta ở trong sự chuyển biến không dứt nầy chỉnh đốn hoàn cảnh, chẳng nên đem một mảnh ý thức riêng mình si chấp giằng co, ngoan cố không chịu biến đổi, hoặc “gọt chân cho vừa giày” (làm sai những nguyên tắc đã có sẵn), si mê tự trói buộc, cũng chẳng nên giữ gìn chấp lệch về một phía của riêng mình, rắp tâm cưỡng cầu, cố sức đoạt lấy, hoặc cố ý bẻ cong sự thật, cố giữ ý phá hoại, càng chẳng nên đối với cái không thích riêng mình mà trói buộc ở nơi tình, phóng túng đường tình mạnh mẽ, ý khí tranh chấp, hoặc tìm cừu thù gây sự, đánh nhau rất là hung ác. Ngược lại, quán sát cần nên thấu triệt, lý trí sáng suốt, khi đã rõ ràng ra thì ôm lòng thương xót, nhìn thấu tâm cảnh, nên rất là đạm bạc trong sự ham muốn riêng tư, đối xử với người tốt đẹp hài hòa, sửa đổi công việc một cách tròn đầy bao dung. Chớ nên chấp cái “nhân” của thói quen, chớ nên chấp “tri kiến” mà trói buộc, chớ nên chấp “ngã” mà có sự riêng tư, chớ nên chấp “oán” mà có sự đấu tranh.

LÚC NIỆM PHẬT VỌNG TƯỞNG NHIỀU

- Có những người nói: Lúc ta niệm Phật, không hiểu duyên cớ vì sao, vọng tưởng ở trong tâm ta khởi lên nhiều, do đó niệm Phật không thể chuyên tâm được, muốn trừ vọng tưởng thật là rất khó?

Người ban đầu học Phật, tâm còn thô tháo động loạn nhiều, định lực chẳng đủ, niệm trước dứt niệm sau khởi, niệm niệm liên tục trong một sát na, trọn không dừng dứt. Vọng tưởng tức là nghiệp chướng. Tâm có chơn có vọng, một mà hai, hai mà một; Tâm phàm phu nhảy nhót dong ruổi, niệm niệm luân lưu biến chuyển, chưa từng có một lúc dừng nghỉ, đây là vọng tâm vậy.

Chúng ta có thể lăng xăng loạn động ở tâm tư, không lúc nào ngưng tâm nhứt ý niệm Phật là việc rất tự nhiên, nhân vì chúng ta rốt cuộc còn phải trải qua thời gian ở trần thế, gốc của phiền não vọng niệm đó là đã trói buộc lâu ngày chẳng buông rời, nên bất tất phải tiêu diệt nó. Không có vọng niệm thì không thể phát sinh ra chánh niệm, không có phiền não thì chẳng thể muốn thoát khổ. Mà niệm Phật là chánh niệm, chúng ta còn phải niệm ra câu niệm không dứt đoạn: “Nam Mô A Di Ðà Phật”, vọng tưởng không cách nào mọc rễ thì tự động tiêu diệt, chẳng thể lâu dài trói buộc ở nơi chúng ta.

Niệm Phật có vọng tưởng, là chúng ta dụng công niệm Phật soi rọi ngược lại ở trong tâm, do đó mới biết có vọng tưởng, lúc trước không niệm Phật, trong tâm mất đi sự quản lý, chính mình cũng có thói quen không suy xét; Chúng ta niệm Phật là chèn ép vọng tưởng đi.

Hàng phàm phu chúng ta, ban đầu niệm Phật, thì vọng tưởng lăng xăng, tâm không cách nào yên tỉnh được, biện pháp duy nhất là chí thành khẩn thiết niệm chuyên tâm; Vọng tưởng khởi lên không thể bỏ được, càng không thể muốn tiêu diệt nó; Ta niệm Phật của ta, thuận với tự nhiên, thời gian lâu rồi, công phu đến lúc, vọng tưởng sẽ tự nhiên giảm ít cho đến không còn; Nếu muốn vọng tưởng không khởi thì vọng tưởng ngược lại càng nhiều. Có thể nhất tâm bất loạn thì không có vọng tưởng rồi. Rất nhiều người thường xuyên đề cập, lúc niệm Phật còn có vọng tưởng, chẳng qua là chút ít mà thôi. Không nên vì niệm Phật có vọng tưởng nhiều mà sinh phiền não! Công phu của ta đến lúc nhất tâm bất loạn, vọng tưởng sẽ không có.

Niệm Phật có vọng tưởng nhiều, tâm khó qui nhất, phải nhất tâm chí thành khẩn thiết (chuyên niệm - tập niệm thành thói quen sẽ dễ nhiếp tâm hơn), lâu ngày vọng tưởng tự mất. Nếu khó qui nhất, tức nên dùng “Mười niệm nhớ số”. Gọi là mười niệm nhớ số tức là ngay lúc niệm Phật, từ một câu đến mười câu, cần niệm rõ ràng nhớ cũng rõ ràng. Ðến mười câu rồi, lại bắt đầu từ câu một niệm đi... không được dùng chuỗi, chỉ nhờ tâm nhớ, nếu một lần nhớ mười câu khó nhớ, có thể phân làm hai hơi, từ một đến năm, từ sáu đến mười làm hai lần niệm; Nếu giữa chừng vọng khởi thì bắt đầu lại từ câu thứ nhất mà niệm. Niệm được rõ ràng, nhớ được rõ ràng, nghe được rõ ràng, mỗi ngày niệm được vài vạn, đều niệm như thế, lâu rồi tự được. Vọng niệm nặng nề thì chăm vào câu niệm Phật vậy. Như lúc chẳng niệm Phật thì lăng xăng sóng dậy, vọng niệm lao xao chẳng dừng, dù khoảng sát na, đâu có thể tỉnh giác được ư.

Như thế nào trừ được tạp niệm? Chẳng tiêu trừ được, nhưng tự phấn chấn tinh thần, dùng một niệm nầy hoàn toàn để nơi Phật, tạp niệm tức không có. Song tinh lực mệt yếu, thì không thể khiến cho tạp niệm không có, lại phải như thế nào? Ðạo lực chưa đầy đủ, nhiều những tán loạn, thì thu nhiếp sáu căn lần quay về thanh tịnh. Ngay khi tạp niệm khởi, chẳng nên xử lý nó, cũng chẳng nên chuyển theo nó, mà ta chỉ niệm Phật, sẽ tự nhiên không tạp niệm vậy. Nhưng lâu sau tạp niệm lại khởi, thậm chí ràng buộc không mở được, bất tất phải nóng nảy, chỉ lắng trong sự suy nghĩ của tâm, khiến sáu chữ Hồng Danh phát ra từ tâm, thành tiếng từ miệng, nghe tiếng rõ ràng ở trong tai, trở lại lưu xuất từ trong tâm niệm, xoay vần xâu nhiếp chẳng để gián đoạn, thì tạp niệm tự sẽ không có.

CHẲNG NÊN VỌNG CẦU CẢM ỨNG

Ðã từng có nhiều người lần đầu nghe nói “Tịnh độ tông” - Pháp môn trì danh niệm Phật, kinh ngạc đối với một tiếng “Nam Mô A Di Ðà Phật” chứa đựng sự thẳng tắt thành Phật rất đơn giản, rất dễ dàng và rất rộng rãi, mà hiện ra nét mặt vui tươi, trong lòng phát ra tâm tình rạng rỡ như là “Ta đã tìm được rồi”. Thế là trên tay lần chuỗi, trong miệng niệm Phật râm rang, bất luận là đi, đứng, ngồi, nằm đều niệm, chuỗi chẳng rời tay, miệng chẳng lìa câu danh niệm Phật, một bộ dạng tu hành thật sự; Trải qua bao nhiêu thời gian, trên kinh đã nói một tiếng niệm Phật diệt được hà sa tội, nhưng ta đã niệm vô số tiếng rồi, mà cuộc sống cũng giống như không có sự thay đổi gì, việc không như ý mà người thường thế tục gặp được, cũng mãi đổ trút trên đầu của ta. Xem người niệm Phật ở trên “Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục”, mỗi việc đã đầy đủ sự cảm ứng thần kỳ, không chỉ là Thần về thế giới Cực Lạc, thì cũng là gặp thấy được Ðức Phật A Di Ðà, và Bồ tát Quán Thế Âm, sao ta không có một chút cảm ứng nào? Một khi thất vọng thì chẳng chịu niệm nữa. Trạng thái tâm lý gấp rút cầu lợi như thế thì cầu chẳng được, chỉ biết người khác niệm Phật được cảm ứng thôi, ngược lại không biết họ niệm Phật đã bỏ ra bao nhiêu là công phu? Ðã niệm Phật bao nhiêu năm? Lúc niệm Phật “Nhất tâm bất loạn”. Anh niệm Phật đã được bao nhiêu năm? Lúc niệm Phật gió thổi cỏ động anh đều biết đến, vọng tưởng tạp loạn lăng xăng, sáu căn chẳng động - anh làm không được; Chỉ hỏi vấn đề thu hoạch, mà không hỏi vấn đề cày bừa, vọng cầu cảm ứng có được hay không?

Có thể từ niệm Phật mà đạt được chỗ tốt đẹp rất nhiều, là quyết định ở nơi tâm tình và nổ lực niệm Phật của ta. Cũng vậy, người niệm Phật, có chỗ khác nhau rất lớn giữa người có thể niệm và người không thể niệm. Người có thể niệm, rất dễ dàng có thể niệm thoải mái trong lòng; Còn người không thể niệm rất dễ dàng rơi vào sự gấp rút cầu lợi, khô khan, lãnh vực cơ giới hóa, mà mất đi sự hứng thú của tín tâm. Nếu như hoàn toàn tin vào kinh điển, hoàn toàn tin vào nguyện lực đại bi của Ðức Phật A Di Ðà, nếu như lấy lòng cảm ơn cảm tạ để niệm Phật, cảm ơn có thể niệm Phật thì sao là vận may! Cảm tạ mình có thân tâm niệm Phật, cảm tạ chư vị đại đức tổ sư nhiều đời truyền nên huệ mạng Phật pháp... mà có thể niệm Phật, ắc cần người và việc cảm ơn cảm tạ rất ư là nhiều rồi, ở trong lòng cảm ơn như thế nầy mà niệm Phật, thì tâm tình rất là thoải mái; Nếu như lấy tâm tình vui vẻ để mà niệm Phật, chẳng hiểu là anh được một việc vui vẻ hay không? Niệm Phật A Di Ðà, đời sau sanh về thế giới Cực Lạc, có thể chẳng vui sao? Tức khiến không muốn niệm Phật có chỗ tốt đẹp nhiều thế nầy, rõ ràng là bản thân niệm Phật thì có thể khiến tâm lăng xăng vọng tưởng của ta được một đối tượng chuyên chú thanh tịnh, thân tâm an ổn tốt đẹp, tự tại, cũng có thể khiến ta đã cảm được sự vui vẻ rồi.

Chẳng nên đem tâm tình gấp rút cầu lợi, buồn khổ, cầu tha thứ để mà niệm Phật, chẳng nên đem Ðức Phật A Di Ðà xem như là Thần để cầu tài, cầu bình an, cầu tha thứ... mà niệm Phật. Niệm như thế nầy, sẽ khiến cho niệm Phật là việc thưởng thức nơi tâm và vui nơi mắt mà thôi!

Ðã trải qua bao nhiêu thời gian... mà ta không có một chút gì cảm ứng? Cũng giống như đi lên gò núi nhỏ, gian nan niệm Phật đã lâu, phát hiện ra không được một cái gì, ở đó gấp rút đi trở lại, quay về điểm khởi đầu. Trải qua sự nổ lực niệm Phật một thời gian, kết quả là bỏ cuộc giữa đường, bây giờ hồi tưởng lại, cũng rất là gấp gáp cầu lợi, thế là rách việc rồi!

Nếu ta không gấp gáp cầu lợi, chỉ là giống như nước chảy về phía trước một cách vô tâm, nước chảy cuối cùng có lúc tập trung về nơi biển lớn; Tâm linh tịnh hóa không hay không biết đó tóm lại cũng có một ngày sẽ xuất hiện trình độ tiến bộ rõ ràng, có một ngày ta sẽ phát hiện ra chỗ tốt đẹp to lớn đến từ sự niệm Phật, quyết định tâm tình niệm Phật đối với ta.

Nếu như ta giống với cái ta quá khứ, cũng gấp gáp cầu lợi, đem trạng thái tâm ấy mà niệm Phật, cũng có thể sẽ giống như ở trước là bỏ cuộc giữa đường, rõ ràng đã lãng phí đi một pháp môn tiềm năng thâm hậu.

Nếu như ta đem sự tin tưởng hoàn toàn vào kinh điển mà nói, hoàn toàn tin vào sự tốt đẹp vi diệu của thế giới Cực Lạc, hoàn toàn tin vào nguyện lực Từ bi của Ðức Phật A Di Ðà, ngay lúc ta dùng tâm tình nầy để niệm Phật, nghiệp chướng nhiều đời khởi lên mạnh mẽ, cũng ngăn cản không được sự tiến đến giác ngộ dũng mãnh của ta.

Nếu như Ðức Phật A Di Ðà trong tâm trong mắt ta không chỉ là một tượng Phật được tôn trí trên khám Phật cúng dường, mà là pháp thân biến khắp hư không, mười phương thế giới chúng sinh chung một thể tánh; Ngay khi ta đem tâm tình thế giới nầy để niệm Phật, tức khiến cho nghiệp tội sâu nặng đều giống như cục băng bộc lộ sự tiêu tan mau chóng dưới mặt trời.

Trước lúc chưa được nhất tâm, nhất thiết là không được nôn nóng trước vọng cầu cảm ứng; Vì sau khi nhất tâm thì đương nhiên có sự cảm ứng. Tâm chưa nhất, mà cầu cảm ứng, tức tâm cầu cảm ứng nầy sẽ là một chướng ngại lớn cho sự tu hành.

CUỘC SỐNG QUA ÐI THÌ TỐT

Người đời vì lập nghiệp, thành gia, sinh con, mua xe, mua nhà v.v... muôn điều bận rộn! Tu hành học Phật không vì những việc thế tục nầy mà bận rộn! Cuộc sống qua đi thì tốt, nếu có ít tiền gởi ở ngân hàng để sinh lợi tức, cũng có thể để sinh sống, sự nghiệp không có thì ngại gì? Cần nên hướng đến việc niệm Phật vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Tiền bạc chẳng phải là vạn năng; Chẳng nên cho tiền bạc là vạn năng, có được tiền là mua được quỉ đuổi được ma.

Tiền bạc nhiều thì lo rầu nhiều; Ðã có tiền bạc nhiều thì luôn ở trong sự lo âu và sợ sệt.

Tiền bạc cố nhiên là cần, thật ra chẳng có thể đầy đủ toàn bộ nhu cầu cho tánh tham con người. Ví như sự: khẩn trương, lo rầu, sợ sệt, phiền muộn, rỗng tuếch; Hay là: thoải mái, vui vẻ, tự tại, phấn chấn cũng chẳng thể dùng tiền bạc để đổi lấy được.

Xác nhận tiền bạc ở trong cuộc sống ngày thường là “vật phải cần”, ăn uống, mặc, giao thông, vui vẻ... đều cần đến nó, cuộc sống của mỗi người cùng với tiền bạc rất gần gũi tương quan, nhưng có một ngày lúc tiền sụt giá hay không có tiền, thế thì không thể vui vẻ được.

Cơm hẩm áo thô, vui thú rõ ràng như cũ; Nếu lo lắng lăng xăng không dừng, buồn lo họa hoạn trói thân, thì dẫu mặc gấm ăn sang, cũng chỉ cảm thấy muôn điều sầu khổ.

Chờ khi tư tưởng thông rồi, thấy rõ ràng rồi, thì ta nhiều tiền như thế, cũng chỉ là cái rương! Sau khi tiền nhiều dư dũ, ngược lại bị gặp khổ não và rầu lo rất là nhiều, cho nên đừng vì tiền nhiều mà bận rộn lăng xăng!

Áo mặc, cơm ăn, đến đi, qua lại... những việc người đời đã tốt lại càng muốn tốt, đã nhiều lại càng muốn nhiều, thậm chí dùng sinh mạng để đổi lấy. Nhưng thực tại có thể hưởng dùng thì có hạn, ăn nhiều một chút thì đau căng bao tử, mặc nhiều một chút thì nóng đổ mồ hôi, một thân chẳng thể ngủ hai giường. Vật ngoài thân thì muốn càng nhiều càng tốt, thật ra có thể hưởng dùng được bao nhiêu? Lúc chết đi mang theo được cái gì? Song thì con người rốt cuộc vẫn là con người, cầu lấy trên cơ bản vật chất đầy đủ, mà đừng nên làm dày thêm việc sai quấy; Nhưng nếu đảo lộn gốc ngọn, một khi mê muội tìm cầu cho đầy đủ trên vật chất, rồi thì cho rằng tiền bạc là mục đích của đời người, rồi tự cho là lẽ phải, học Phật tu hành như đây, muốn vãng sanh về thế giới Cực Lạc ngược lại thì trôi mãi trong luân hồi.

Phấn chấn cầu tài, lục đục vì danh, song, dẫu cho kiếm được tiền của rất nhiều, đối với việc vị lai vẫn không hiểu được một chút nào, chẳng nắm chắc mảy may, rốt cuộc mới phát hiện giàu có thật ra không phải mục tiêu của đời người, há chẳng phải là một cuộc bận rộn rỗng không! Người xưa nói rằng: “Ruộng tốt vạn khoảnh, ngày ăn một thăng, nhà rộng ngàn gian, tối lại cũng chỉ ngủ một giường”. Thân ta thật ra sự nhu cầu chẳng nhiều, ngược lại sự xa xỉ ham muốn chính ta và ăn mòn riêng tư, cho đến nỗi cả ngày chẳng thể nào vừa ý, thật thoải mái được. Tuy trên vật chất là giàu có, song sinh mạng ngược lại thiếu vị khô cằn. Ðứng về cuộc sống tinh thần mà nói, thì nghèo thiếu không có gì cả.

Thảng hoặc chỉ vì bận rộn, tranh danh đoạt lợi, vơ vét giàu có, thê thiếp đầy nhà, nghiên cứu ăn ngon mặt đẹp, tâm say nơi tiếng tăm sắc dục, cuộc sống vật chất mong cho cao cấp mới có sỉ diện, mới có phong độ, mới có hiển hách... bề bộn bận rộn cả ngày vì danh vì lợi, chứa nhóm ý niệm nầy, tâm thần vì đó mà tiều tụy, không có phút giây yên ổn, lo rầu nghĩ nhớ lớp lớp, mây sầu giăng thảm, khổ não không thể tự tiêu cho đến chết, buồn nầy lúc nào mới tránh khỏi!

Người đời lục đục, hấp tấp bôn chôn, rộn ràng, nhộn nhịp, việc để tìm cầu không ra khỏi hai chữ “danh - lợi”; Sự thật, sau khi thành danh được lợi, ngược lại thì đời người ấy cái khoảng cách với hạnh phúc và khoái lạc rất xa; Bỡi vì danh lợi trọn không có chỗ dùng, mà vả lại được thì khó, mất thì dễ; Chẳng những là cần giữ lấy cái lợi ích ấy mà đã phải phơi lòng treo mật để có được, còn đem sinh mạng để tìm cầu cho cao hơn một bực, do đó lại có chủ định khổ nhọc trọn đời, không được yên ổn.

Làm quan to hay có tiền nhiều mới có sỉ diện, làm công việc nặng nhọc thô kệch, ăn đạm bạc đậu rau thì không có sỉ diện, bị người coi thường; Ðây tức là không thấy rõ, tự chuốt khổ não. Kỳ thật, có sỉ diện, là tâm hư vinh làm điều quái gở, cuộc sống đời người mãi mãi trôi chuyển trong sáu đường, tức là tham ái dính mắc vấn đề “có sỉ diện” nầy.

Tiền bạc không phải là ở nơi có nhiều, dùng hàng ngày đủ là được; Làm quan chẳng là phải lớn, mà làm tốt trách nhiệm là được; Mạng sống chẳng phải ở chỗ dài lâu, mà phải khỏe mạnh thì vui. Không tham bên ngoài thì thanh tịnh bên trong, vả lại được nhiều phước; Tâm không xấu hổ thì khỏe mạnh và tuổi thọ nhiều. Có hai việc: Phước - Thọ nầy thì sẽ tốt hơn nhiều so với: Tiền vàng nhiều, sự nghiệp nhiều, con cháu nhiều. Ðã nhiều tiền thì sẽ bị chi phối không tốt, là nguồn gốc của tội ác.

Tự ta say sưa, do đó cũng chính ta khen thưởng cho ta, cũng tức là tự mình coi trọng mình. Không có sự tự ti mặc cảm là không chú trọng sỉ diện, không coi trọng mình, cũng có thể thu được cảm nhận đầy đủ và vui vẻ, thảnh thơi tự tại, thân tâm tự nhiên khỏe mạnh thoải mái; Ðời người có cảnh giới nầy, lại cầu gì để được người khen thưởng (có sỉ diện).

Sự nghiệp đã lớn, sự tình đã nhiều, công việc đã nặng, ranh giới quan hệ của người lại phải ứng phó cho tốt, việc nhiều tâm phiền, cả ngày bận rộn, khổ nhọc quấy động trong tâm, làm cho thân tâm cứ mãi khẩn trương. Ðời người giàu có vốn có định số, chẳng nên giở thủ đoạn trong ý mà cưỡng cầu, nếu được cũng chẳng thể hưởng lâu. Xem rõ những vấn đề đó, coi thường những vấn đề đó, giàu có hay nghèo khó cũng nên để nó thuận với tự nhiên, mà bình thường. Ông chủ nhỏ, người làm công, ngày làm tám tiếng đồng hồ, chẳng làm thêm; Tự hưởng lấy đúng với công sức mình đổ ra, có gì là chẳng tốt? Tiền ít một chút, có thể ước lượng sự thu vào để mà xuất ra, còn dư tiền thì phải khéo giữ, lúc không có công việc thì có để mà ăn, không cầu người khác, không có người tìm tới để đòi nợ, chẳng nóng nảy, chẳng lo nghĩ, một thân nhẹ nhàng, cuộc sống được vui vẻ tự tại.

Phật pháp yêu cầu người đời chẳng nên chấp nơi hư danh, tài lợi, riêng tư trong lòng, ham muốn của người, vật chất... Vì những vấn đề nầy đều là nhân tố chủ yếu của khổ đau đời người. Vì những vấn đề nầy không những khiến cho con người sanh lòng xảo quyệt đoạt lấy, làm thương hại đến đạo lý, mà rốt cuộc rồi còn phải chuốt lấy ngày lâm chung chẳng tốt đẹp yên bình.

Xem thấu suốt sự lý tình người, thì có thể không còn lo nghĩ; Xem không thấu, nghĩ không rõ, thì sẽ tâm phiền toái suy nghĩ loạn động. Phiền não nhiều do hai chữ DANH - LỢI mà ra; Lạc quan nhiều do một niệm CHẲNG CẦU mà có. Không yêu cầu quá sức, thì không có sự thất vọng ngoài ý muốn; Mà đã không có sự thất vọng ngài ý muốn thì không sinh ra sự oán trách. Ðem hai chữ “danh lợi” bỏ đi, tâm cảnh bèn sẽ linh thông sáng suốt; Trừ sạch quan niệm “tham cầu”, phiền não tự nhiên trong suốt.

Xem và phá một cách triệt để năm dục - danh lợi, chuyên tâm nhứt ý niệm Phật, không nhìn gió mây biến huyễn, trăng khuyết trăng tròn, xem cái gì cũng đều không động ở bên trong, thế mới là chơn tâm tu hành.

Nuôi con ngừa lúc tuổi già, ngậm kẹo đùa trẻ (niềm vui thú của người già), thời đại đó đã qua rồi. Thời đại biến chuyển, trào lưu biến chuyển, hoàn cảnh cũng biến đổi; “Nuôi con” chỉ là một vấn đề trách nhiệm, một loại nghĩa vụ. Niềm hy vọng thời đại con trẻ nuôi người già đã qua rồi. Con cái trong thời hiện đại cần phấn đấu chính mình, độc lập chính mình, là một gia đình nhỏ, đã không có thời gian và sức lực dư thừa để chiếu cố người già. Nếu lại muốn nuôi con để ngừa lúc tuổi già, không nên ngóng chờ lỗ mũi con cái mà thở, nên nhìn sắc mặt của con cái, thậm chí biến thành vật thừa trong tâm trong mắt của con cái, thế thì thê thảm quá! Con cháu tự có cái phước của nó, chẳng nên vì con cháu mà làm trâu làm ngựa; Con cái lúc còn nhỏ thì nuôi dạy cho tốt, lớn lên thành người rồi thì hết chức phận, nên giữ ít tiền, làm việc học Phật tu hành cho chính mình (Niệm Phật), nên tinh tấn để vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

TIÊU TRỪ NIỆM THAM

1 - Nhìn thấu suốt, phân tích rõ, hiểu được cái gì là CHƠN THƯỜNG, cái gì là VÔ THƯỜNG, biết tất cả không khả năng giữ mãi, có mãi, chấp mãi, cũng không cần lấy nhiều, chứa nhiều, quán chiếu thấy năm uẩn là không, tự nhiên không có niệm tham.

2 - Ðời người giàu có vinh hoa, sinh chẳng mang đến, chết cũng chẳng đem theo, được chẳng vui, mất chẳng buồn, tham của người khác làm gì? Vả lại sau khi chết vãng sanh về thế giới Cực Lạc thì vạn lần tốt đẹp đầy đủ.

3 - Một việc ham muốn mong cầu (dục vọng), ở nơi niệm trọn không chỗ dừng nghỉ, tuy là do tham mà được, cũng vĩnh viễn khó mà đầy đủ; Ngược lại, vọng niệm thì điềm tĩnh chẳng cầu, tuy là ngay nơi không có gì, mà rõ ràng tự được, không mảy may gì là chẳng vui.

4 - Người ta có thể tiêu trừ niệm tham, thì sẽ ít chấp trước, ít tranh đoạt, ít đố kỵ, ít oán trách, khiến cho xã hội có xu hướng hòa bình yên ổn.

TIÊU TRỪ NIỆM SÂN

1 - Niệm sân thường nhân nơi tâm giận mà khởi, tâm giận thường vì sự riêng tư của bản ngã, sự sai lệch của bản ngã, cân lường, so sánh, háo thắng, ỷ mạnh, ưa sỉ diện, ưa hư vinh mà khởi ra; Cho nên gọi là sợ mình chẳng thành mà thành ra giận người. Cần biết rằng người phàm việc phàm, mỗi cái đều có nhân duyên, mỗi cái tự phải nổ lực, mỗi cái đều có phước báo, sao không biết tự trồng ở nơi ruộng phước, mà lại chuyên đi làm cái việc ức chế phá hoại người khác, dẫu tổn hại người mà chẳng ích lợi gì mình!

2 - Niệm sân lại thường còn do nơi tâm oán hận mà khởi, oán hận lại thường nhân nơi hiểu lầm, biết sai, bị xúi dục, bị ly gián, sinh tranh chấp, ôm lòng hiềm khích, nhớ lấy cừu hận, nghĩ sự phục thù v.v... mà khởi ra. Cần nên biết rằng con người đối xử với nhau, phải có đức bao dung cho lớn, có thể nhẫn việc để mà giúp đỡ, nếu còn oán sân với nhau thì kiếp nạn cứ xoay vần, họa báo không dứt được. Huống nữa oán sân với người thì kết lấy duyên ác, người ấy chưa chắc gì vì ta oán sân mà chuyển thành tốt; Ngược lại lượng thứ cho người thì có thể kết duyên thiện, người đó có thể nhân vì ta Từ bi mà được chuyển hóa, cảm hóa.

3 - Ngay lúc niệm sân khởi, người niệm Phật nên chọn ngay mà dùng tuệ giác chiếu để gấp rút chuyển pháp, và làm phép quán “bình đẳng bất nhị”.

TIÊU TRỪ NIỆM SI

1 - Thế gian vốn không có thị - phi, được - mất, tất cả bỡi do tâm huyễn (không chơn) của con người tạo tác giả định, chúng ta nên thận trọng rõ ràng chỗ tạo tác đóù là hợp lý hay không? Là chính đáng hay không? Có ý nghĩa giá trị hay không? Nếu như không nhận rõ xanh, hồng, đen, trắng thì mù mắt chạy theo, si mê vọng chấp, tự rơi vào cạm bẫy, cam chịu sự trói buộc, bèn là việc cực đoan ngu tệ.

2 - Phước báo đời người, mỗi người tự có nhân duyên, tất cả nên tùy duyên, tùy hỉ mà lấy bỏ, chẳng nên mờ mắt mong cầu, si mê trói chặt, cưỡng lấy xảo đoạt, mánh khóe khổ cầu, chỉ là tạo ra những duyên nghiệt ngã, nhân quả trả báo nhau, để hại vô cùng.

3 - Tự đến khuyên người dừng sự tranh cãi là nghĩa cử thiện, khích người đấu tranh với nhau là nghiệp ác. Hãy còn si mê ở nơi tranh chấp tới cùng, đấu tranh ghê gớm, kết cừu báo oán, thì lâm vào thế ngồi trên lưng cọp, tự chuốc phiền toái và não hại người khác, kia đây trái chống, nhiễu nhương trọn đời. Vì việc gì đây? Chớ tạo sai quấy, người Thần đều buồn.

4 - Người niệm Phật, nên hằng giờ phải quán chiếu tự tánh, rõ ngộ bản thể thanh tịnh, phá trừ vô minh, tự nhiên xa rời được si mê.

TIÊU TRỪ NGÃ KIẾN

1 - Sự nhu cầu một ngày của đời người, trăm công việc muốn được chu toàn thì kia - đây phải nương nhau, hợp tác giúp đỡ cho nhau, mới có thể cùng tồn tại cùng hưởng lấy. Nếu miễn cưỡng chia ra: kia - đây, cùng nhau đấu tranh chê bai nhau, thì rõ ràng tàn hại cùng nhau.

2 - Con người quí ở chỗ là khoang dung thông cảm với nhau, vui hòa chung ở, hóa giải oán cừu, vun bồi việc tốt đẹp, mà tránh khỏi sự phát sinh tranh chấp, tạo nên khẩn trương.

3 - Con người mà khi đã muốn làm việt thiện, lợi ích chúng sanh, làm việc phục vụ, rộng lòng bố thí, thì còn e ngại gì nữa vấn đề tiện nghi bị người chiếm đoạt, chỗ ở tốt bị người chiếm lấy? Lại còn sợ gì nữa khi người khác hơn mình.

4 - Cuộc sống nổi trôi như huyễn mộng, chẳng qua đời ta như kẻ lữ hành lặng lội một đời người vài mươi mùa nóng lạnh (năm) mà thôi! Cái ta có: nào chồng, nào vợ, rồi con cái, bạn bè xã hội, quốc gia... thậm chí chỗ gọi là của ta, cũng tạm là nhân duyên giả hợp, duyên phần có lúc hết, qua lại vô thường, chẳng phải chết rồi chấp cho vĩnh hằng, cũng chẳng phải lấy ta làm trung tâm, mà sinh kiến chấp lệch lạc, tư riêng, yêu thương và sân giận.

5 - TA_ ngày hôm qua, chẳng phải TA ngày hôm nay, TA hôm nay chẳng phải TA ngày mai. TA bèn là ở sự biến hóa vô thường tùy lúc, nên chẳng thể được. TA đã chẳng thể được, thì hà tất gì phải tham chấp ở nơi cái TA nầy? Mà đi bài trừ bác bỏ cái chẳng là TA, công kích những gì khác mình, tạo thành tranh chấp, đố kỵ, hờn giận oán cừu, đối địch đấu tranh, tàn hại nhau v.v... biết bao điều đau khổ.

6 - Người phải quay lại quán tự tánh là bản tánh thanh tịnh, chẳng dính mắc, chẳng ô nhiễm, quán sát thế gian tất cả đều “bình đẳng bất nhị”, không oán không thân, cũng không có kiến chấp tướng người tướng ta, tình và pháp cả hai điều mất, người và ta điều không, rõ ràng mà rộng lớn, sao lại có cái thấy (kiến chấp) riêng tư đối với ta?

TIÊU TRỪ CHẤP TRƯỚC

1 - Tâm người thường mỗi khi bị vô minh che lấp, gặp việc chẳng kể là phải - quấy, thiện ác, chủ quan trước tiên, thường ưa chấp lấy. Tâm như keo dính, gặp lợi là chấp lợi, gặp khổ chấp khổ, gặp vui chấp vui (gặp ngã chấp ngã, gặp pháp chấp pháp, gặp thấy (kiến) chấp thấy, càng chấp càng bền chắc, tâm bị chấp sai khiến nên rơi vào mê khổ).

2 - Chấp thì phát sinh cái lực ma sát cản trở mà làm ngăn hại, chẳng chấp thì bốn phía đều không, tất cả sinh hoạt vô ngại, mới dễ giải thoát.

3 - Nhân quả cũng chẳng nên chấp trước, có thể tùy duyên mà gạt bỏ hóa trừ. Nhân ác cố gắng chẳng nên dính mắc, nên cần làm thiện để hóa giải, trọn có lúc được tiêu trừ. Nhân thiện cũng chẳng nên dính mắc, vì bỡi dính mắc sẽ có tướng: Ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả; mà chẳng thể giải thoát.

4 - Ðem pháp đời mà nói, ban đầu của đời người, cội nguồn là một tấm trắng không, tất cả phong tục, tập quán, pháp luật, chế độ, phải quấy, chia phân, sang hèn, được mất, cao thấp v.v... đều là sự quan hệ do nơi tâm huyễn giả định bày ra, tạo tác mà lập nên. Nhưng tất cả sự vật sau khi đã lập, thì có sự tương đối, do đó có lợi thì có tệ nạn, quan tâm việc nầy thì mất việc kia, theo duyên chuyển hóa, sinh diệt vô thường, thật sự không thành tâm ý và trạng thái bất biến, cũng không thành tiêu chuẩn và sự cao cả của thói quen bất biến. Cho nên xử sự quí ở chỗ khách quan không câu chấp, trọn không nên thành kiến, đối với tất cả các phép tắc chế độ, hành vi cung cách, dùng đến thì làm, bỏ thì xả buông, mới có thể nhân nơi con người, thời gian, công việc, nơi chốn mà điều chế thích nghi, làm - bỏ phải sáng suốt thích nghi với nhân. Nếu còn chấp lệch lạc một chút trong đó mà nắm chắc chẳng buông rời, ăn lâu chẳng tiêu hóa, mê muội biến thành đần độn, ngoan cố biến thành bệnh tật, tự lụy tự khốn đốn, thì đi đến chỗ ngăn trở chướng ngại, không thể ứng xử với đời được viên dung, vả lại ngu muội mê hoặc chính mình, một đời bị sự sai bảo của kiến chấp và tình thức, bị khống chế và trói buộc, trần lao không hết, phiền não không cùng. Nếu còn đối với những cảm xúc nầy tức từng mức so tính ở nơi tâm, từng giờ chẳng quên ở nỗi nhớ, thì cái thần của tâm bị tước đoạt, liên tục quên mất đường về, tâm chẳng tự chủ, sự não loạn làm sao dứt được?

SỰ CHẾT TỐT ÐẸP

 Con người - cầu cái gì? Cầu cuối đời được an lành mà thôi, cuối cùng được tốt đẹp tức là “sự chết tốt đẹp” mà mọi người nói đến. Cuối đời an lành là rất khó! Không thể dùng tiền bạc mà có thể mua được, con người đại phú đại quí không nhất định là đến cuối đời được an lành, người sống lâu trăm tuổi cũng không nhất định được cái chết tốt đẹp. Giả dụ ta thường nhìn thấy người khác trước lúc lâm chung bệnh rất lâu, tình trạng giãy giụa đau khổ như thế, cầu sống không được, cầu chết không xong, anh lúc đó sẽ có thể nói lên lời cảm thán: “ta một đời không cầu gì khác, chỉ cầu mong cuối đời được an lành thì tốt rồi!”.

Người ta lúc lâm chung, đều sẽ khinh hãi sợ sệt, sáu thần không chủ, tay quơ chân đạp, giống như con cua rơi trong than lửa và con kiến rớt trong chảo nóng. Trên thân thể phát sinh sự co giật mặt mày gân thịt, tròng con ngươi (mắt) nở to, thị giác chậm chạp si đần, hơi thở hiện tượng gân rút. Chúng ta bình thường chỉ xem bất quá là cái dáng giãy giụa bên ngoài, kỳ thật, nỗi bàng hoàng, đau khổ, sợ sệt không có sự trợ giúp... ở trong tâm của họ, đó mới là vấn đề bút mực khó có thể hình dung!

Ðược cuối đời an lành chẳng phải dễ. Cuối đời an lành, tuyệt không có thể nhờ vào sự man mắn, nhất định phải là do “Thật đức” rộng tu Phước - Huệ mới có thể được. Cuối đời an lành có sự quan hệ với thiện nghiệp trong quá khứ, nhưng chủ yếu nhất còn phải là do “đức tốt” đời này của chúng ta và tâm linh an ổn yên tĩnh và hòa bình. Trừ phi chúng ta có thể rộng tích chứa đức, dừng dứt vọng niệm, công phu gắng nhiều; không như thế thì lúc lâm chung rất khó được tự tại.

Cuối đời an lành là tâm không có ngăn ngại, kết quả là sự dẫn dắt của sợ sệt thì cuối đời an lành chẳng dễ dàng! cũng chẳng biết lúc lâm chung sẽ gặp phải chướng ngại gì. Vì sao cuối đời an lành là rất quan trọng ư? bỡi vì giả như một người không phải chính xác là lúc thọ mạng hết, mà là do bệnh nặng, chết treo, họa xe, lửa đốt, chìm nước, thế thì họ có thể chứa hận trong lòng.

Lại nữa, lúc chết đột ngột (hoạnh tử), thân thể chịu nỗi khổ sở rất lớn, trong tâm buồn oán xen nhau, mà còn uất hận bất bình trong tâm.

Cuối đời an lành, có ba việc:

1 - An lành nhỏ:   Không gặp hoàn cảnh chết đột ngột ngoài ý, không bệnh mà chết.

2 - An lành vừa:   Cuối đời không những không có bệnh khổ, mà trong tâm không có nỗi oán và bệnh bên trong, ngước lên không thẹn với trời, cuối xuống không xấu hổ với đất, an lành vui vẻ mà qua đời.

3 - An lành lớn:  Chính mình biết trước giờ chết, mà thân tâm trọn không quái ngại, ra đi rất thoải mái, thậm chí còn có Phật và Bồ tát đến tiếp dẫn, sinh về cõi tịnh của Phật và Bồ tát, đây mới là đời người thành công.

Chúng ta muốn biết (đời nầy của mình có thể có rốt cuộc an lành hay không?) có ngay trong việc làm cuộc mộng từ nơi lúc bình thường của chúng ta, mộng loạn một khi thông suốt, đương nhiên là biễu thị vọng niệm còn có thể được đều phục. Vọng niệm không điều phục, đương nhiên là trượng trương cho việc tu dưỡng không đến nơi đến chốn. Tu dưỡng không tốt, làm sao có thể nắm chắc được cuối đời an lành?

Bỡi vì làm mộng và cuối đời an lành có quan hệ mật thiết thế nầy, nên vị cao tăng đời nhà Minh là đại sư Tử Bá bảo chúng ta rằng: “Nếu muốn thành tựu được mau, sớm có chỗ nắm chắc được cuối đời an lành hoặc vãng sanh thế giới Cực Lạc, thì mỗi ngày sớm thức dậy, nên phản tỉnh cảnh mộng đêm qua, giả sử trong đêm qua chúng ta dấy lên một ác mộng lộn xộn lung tung, sáng nay nên thương tâm chảy nước mắt giống như mất cha mẹ, thì sau đó phải tự quở trách chính mình, sám hối và phát nguyện khẩn thiết, lại càng phải khẩn trương và nỗ lực dụng công. Mỗi ngày đều làm thế nầy, công phu luyện tập tâm trí nhất định tiến bộ rất mau”. Vì để cho chư vị rõ hiểu thế nào gọi là “mộng lộn xộn lung tung”? Ta cần phải trước tiên nói rõ một số chủng loại của mộng. Căn cứ lời chép của “Luật Thiện Kiến”, mộng có bốn loại:

1 - Mộng do bốn đại không hòa; đây là vì do các cơ của thân thể không được đều hòa thích ứng mà phát sinh ra. Ví như lúc mới ngủ mộng thấy núi lở, hoặc bay nhảy trên hư không, hoặc thấy Cọp, chó Sói, đến rượt đuổi v.v... chẳng phải một. Những việc nầy đều là hư giả mà chẳng có thực tại.

2 - Mộng thấy trước; “Ban ngày có suy nghĩ, thì đêm đến có mộng” mà mọi người nói, tức là chỉ do loại mộng nầy, vì trước đã xem thấy những sự việc hoặc hiện tượng nào đó không dứt được, mà sắp đặt tổ hợp nội dung, được nổi bày lên ở trong cảnh mộng, đây cũng là mộng hư giả mà không phải thật.

3 - Mộng trời người; trời thần vì người làm thiện mà thị hiện cảnh mộng cát tường, khiến cho họ tiếp tục làm thiện. Vì người tạo ác mà thị hiện cảnh mộng sợ sệt và không tốt đẹp, để khuyên và ngăn trở họ chẳng nên làm ác nữa; đây là loại mộng chơn thật (có ứng nghiệm).

4 - Mộng tưởng; mộng nầy là nhân vì phuớc đức và tội chướng trong quá khứ của người ta cảm hiện ra. Ví như người có phước đức trong mộng thường gặp sự tình cát tường và làm thiện. Người có tội chướng, thường gặp sự tình sợ sệt và bất thiện. Mộng thấy chúng ta ở nơi việc lễ Phật, tụng kinh, trì giới, bố thí, niệm Phật, cũng là thuộc mộng tưởng. Mộng được sự tình cát tường và làm thiện là chỗ có ích cho việc tu dưỡng đạo đức đối vớichúng ta.

Chỗ gọi là “mộng lộn xộn lung tung”, là chỉ những việc hư giả mà chẳng thật tại, vả lại đối với thềm bực cái ÐỨC của chúng ta lại không phải là cái mộng có ích.

Chư vị rất nên đặc biệt xem kỹ cảnh mộng! Vì cảm thọ ở trong mộng rất là chơn thật, nó là chỉ tiêu tu dưỡng thềm bực đạo đức của chúng ta. Ðồng thời dấy lên mộng cũng có ba việc: Thiện, ác và không thiện ác. Mộng được lạy Phật, lễ Phật, niệm Phật, tụng kinh, nghe kinh, nói pháp, làm việc thiện, cứu người... là thuộc thiện và công đức. Mộng thấy mình đi làm việc sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói vọng v.v... những sự tình đó thuộc ác mộng. Mộng thấy củi, gạo, dầu, muối, dạo chơi công ty bách hóa, đi chơi công viên v.v... là thuộc loại mộng không thiện ác. Mộng được làm thiện là có sự trợ giúp cho thềm mức đức hạnh đối với chúng ta, mộng làm ác và việc thế tục lung tung là biểu thị bất lực trong tu hành của chúng ta, nên cần phải sám hối và nỗ lực dụng công mới được.

Trong đây nhân tiện nói rõ thêm một điểm tức là: Tạo ác nghiệp trong mộng, vì nghiệp tâm suy nhược, nên không thể quả báo. Có liên quan ở trên sách giới luật cũng nói rằng: “mộng các ác hạnh như: ăn cắp và tà dâm v.v... không kể là phạm giới”. Vì là hư mà không phải thật, ở trong mộng mà chúng sanh bị ta xâm phạm thì không có sự tổn thất thực chất. Huống nữa chúng ta chẳng có ý phạm giới tạo ác, mà là hạt giống và tập khí trong mộng tâm của ý thức mạnh, nó khống chế chẳng dừng, cho nên mới có thể làm ra mộng. Gọi là “mộng lộn xộn lung tung” ở trong đó nói đến, tức là có mộng có liên quan đến sự tạo tác và việc tạp thế tục.

Chúng ta là người học Phật tu hành, không những có thể cuối đời được an lành (vãng sanh thế giới cực lạc), mà có thể đang ngồi hoặc đang đứng mà chết. Cần nên chí thành tinh tấn, thời gian đến rồi tự hiểu rõ, nên sắp xếp tốt công việc của mình, chuẩn bị đến thế giới Cực Lạc.

Năm tàn sắp hết, chẳng bao lâu là ngày ba mươi tháng chạp, là sau cùng của một năm, nếu chưa chuẩn bị tiền bạc cho thỏa đáng, thì chủ nợ kéo đến, làm sao ngăn chặn được? người ta lúc mạng chung cũng là ngày ba mươi tháng chạp của một đời, là lúc sau nhất của đời người. Nếu chưa đem được lương phạn vãng sanh chuẩn bị trước cho thỏa đáng, thì ắt tay chân quơ cào, ác nghiệp nhiều đời đồng loạt hiện khởi trước mặt, làm sao dẹp thoát? Lâm chung tuy nương sự niệm giúp của người khác, các việc đều như pháp, cũng khó được cậy nhờ, ở chính mình cậy nhờ không được (vì lúc bình thường chẳng niệm Phật, niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật), nhờ nương nhà người ư? Làm sao có thể nương được, cho nên tự mình lúc bình thường tu hành, thì cần thật sự niệm Phật chuyên cần, niệm Phật nhiều, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn, thì được lâm chung tự tại. Xin khuyên cùng chư vị nhân giả, tóm lại cần chuẩn bị sớm mới tốt.

NGƯỜI NIỆM PHẬT TỐT NHẤT LÀ CHẲNG VỌNG CẦU KHAI NGỘ

Khai ngộ - thật chẳng phải mỗi người tu hành đều có thể thu hoạch được. Người niệm Phật không được vọng cầu khai ngộ mà tăng nhiều thêm một việc ở nơi tâm đầu, thì tăng nhiều thêm một chướng ngại.

Khai ngộ chẳng phải là việc nói dễ dàng như thế, nếu lời dễ dàng như thế thì hàng ngũ Tăng - Ni ở chùa đều đã khai ngộ cả rồi.

Người niệm Phật tập thiền tĩnh tọa, thì tĩnh tọa là “Niệm Phật”, chẳng phải là tham thiền, chỉ quán, cũng chẳng phải là luyện khí. Người niệm Phật tĩnh tọa (ngồi yên tĩnh), là niệm Phật (mặc niệm), niệm cho thuần thục danh hiệu Phật, trong tâm có Phật, nhất tâm bất loạn thì tốt, có thể được niệm Phật tam muội càng tốt. Chẳng nên đem vấn đề khai ngộ làm mục tiêu, coi đó là tâm tình thu hoạch ngoài ý muốn mà tĩnh tọa, ngộ không khai cũng chẳng thể thất vọng, nếu tâm tình và sự việc yên tĩnh mà còn mong cầu vấn đề khai ngộ, ngộ khai không được, Phật niệm cũng không xong, đến lúc cả hai đều rơi vào trống không!

Muốn khai ngộ, cần phải tự lượng mình là căn khí bực nào? Có thể khai ngộ hay không? nếu còn cái tâm muốn khai ngộ, thì trong tâm niệm cũng không thanh tịnh rồi, ngộ làm sao có thể khai?

Tưởng đến sự khai ngộ, thì khởi lên sắp xếp một sự nhận thức rất là cơ bản ứng đối vấn đề khai ngộ, như: tĩnh tọa phải ngồi làm sao? Quá trình điều thân, an tâm, khai ngộ cảnh giới như thế nào? v.v... đều cần có nhận thức, mới có thể lúc ngồi không xảy ra lầm lạc, hoặc được chút kiểu lạ hiển hiện, hoặc được chút huệ hiểu biết, linh cảm giống giống, hoặc như huyễn vọng tưởng, hoặc thấy ánh sáng thấy hình ảnh, hoặc người nói lời ra tức khắc ngộ được, hoặc bị ma dối gạt, lại gật gù đắc ý cho là ta đã khai ngộ rồi!

Khai ngộ chữ “ngộ” nầy là chỉ cho rất nhiều người muốn khai ngộ, cho là ngộ, căn bản không có NGỘ! ngay cả bên kia bức tường cũng nhìn chẳng thấy, khai làm sao ngộ!

Ta chẳng phải là người đã trải qua khai được ngộ, căn bản không có tư cách để làm việc “khai ngộ”, chỉ đem chỗ biết sơ sài nói ra một chút ít mà thôi.

“Khai ngộ” thật chẳng phải là ngồi miết mới có thể khai ngộ, đi đứng cũng có thể khai ngộ, nghiên cứu kinh điển hoặc nghe một câu nói, xem một động tác cũng có thể khai ngộ được, anh là người thượng thượng căn khí mới có khả năng, cũng chẳng phải mỗi lần ngồi hai ba tiếng đồng hồ như thế được khai ngộ, đơn giản dễ dàng như thế sao?

Khai ngộ chữ “Ngộ” nầy, dùng miệng để giảng, dùng văn tự viết đều rất khó mà biểu đạt rõ ràng, nay dùng chữ “mê” để nói ngược lại mà có thể khá hơn một chút; ví dụ như đối với một sự việc, một câu nói, hoặc xem hoặc tưởng, xem hoặc tưởng ở trong đó, đi cũng tưởng, đứng cũng tưởng, ngồi cũng tưởng, tưởng một cách chuyên tâm nhất ý, tưởng... tưởng... tưởng..., tưởng đến nỗi có người khác đến ở trước mặt cũng chẳng hay biết, đây gọi là MÊ, người đời gọi là “sinh si đần”, thậm chí người khác kêu réo anh, anh cũng không hay biết, đây gọi là TRƯỚC MÊ (mắc dính mê), người đời gọi là “thất thần”, mê đến cực điểm (nhập định), mười ngày hai mươi ngày, bèn tỉnh lại (xuất định), muôn cảnh tượng vũ trụ nhìn thấy hết, cũng biết cả, nhìn càng xa, biết càng nhiều, quả vị thì càng cao.

NGỘ, có đại - tiểu ngộ. Tiểu ngộ là ra không khỏi ba cõi, vì sao? Vì ngoài ba cõi nhìn không thấy, cũng không biết! Ví như muốn đi nước khác, mà ngay cả việc mua vé máy bay cũng không biết, thì làm cách nào để đi?

Tĩnh tọa, đầu tiên cần phải điều hòa thích nghi qua lại, khí mới thuận nhẹ nhàng, không biết có sự hít thở, ăn ít cũng không đói (một ngày một bữa, hai ngày một bữa), ngủ ít cũng chẳng mỏi mệt, mới có thể ngồi được lâu (ngồi một hai ngày không đứng dậy). Thân người có ba cái quí: Tinh - Khí - Thần. Tinh đầy thì khí đủ, khí đủ thì thần thoải mái, thần thoải mái thì thân tâm nhẹ nhàng, thân tâm nhẹ nhàng thì khí mới thuận, mới tế nhiệm (tinh tế), mới có thể ngồi được lâu, mới có thể “nhập định”, sau nhập định giống người chết, như đất, còn có thể sống được trở lại (xuất định), ngộ được khai rồi, thật là chẳng thể nghĩ bàn.

Hành dâm, ăn nhiều, vận động kịch liệt, công tác nặng nề, có sự trở ngại cho sự thích ứng thân tâm, cần phải chú ý!

Ăn không cần no quá, tùy theo việc gặp mà an, mới có thể chuyên tâm tĩnh tọa, tập luyện thân tâm. Hàng ngày nghiên cứu vị ngon, ăn cần cho thỏa sự tham muốn cửa miệng, tâm địa như vậy làm sao thân tâm có thể điều hòa thích nghi qua lại.

Có những loại thực vật ăn vào khí sẽ không thuận, cần phải mỗi loại ăn thử mấy ngày, nếu sau khi ăn phát hiện thấy hiện tượng không thuận khí, thì không nên ăn nữa!

Tĩnh tọa cần phải tập thiền định, thống nhất tập trung tinh thần trở lại, yên tĩnh cái tâm là “Ðịnh”. Niệm Phật cũng là một phương pháp định, nhất tâm bất loạn tức là “Ðịnh”.

Tĩnh tọa cần: An tâm và điều thân.

An tâm: Thì quán không biết huyễn, tưởng mở nhìn suốt, buông rời chấp trước, bỏ lìa bận tâm, trấn nhiếp tinh thần, bài trừ nhiễu nhương, tâm bình khí hòa, an lành tự như. Cũng tức là khiến tâm chuyên chú một chỗ, thống nhất tập trung tinh thần trở lại, chẳng để tâm tán loạn, tâm niệm không khởi và tự tánh bất động đối với tất cả cảnh giới thiện ác, ngoài lìa tướng, trong chẳng loạn.

Ðiều thân: Là thuận thông thư thái khí mạch, là bài trừ khí do chất tạp trong cơ thể, đả thông khí mạch toàn thân, tiêu trừ bệnh chướng, thân thể thoải mái nhẹ nhàng. Ðiều thân, chẳng phải là luyện KHÍ điều chỉnh hơi thở. Lúc ban đầu ngồi thân thể có những tình huống không được thích hợp như đau tê hay ngứa ngáy, đây là quá trình bắt đầu, thể chất mỗi người không đồng, cảm thọ cũng khác nhau, lâu ngày có thể lần hồi dẫn đến tự như (như thường). Lúc ban đầu ngồi ngay khi thở ra hít vào (hít thở sâu) thì anh phải biết, biết thôi, không lý giải nó, nên thuận với tự nhiên, qua một thời gian, anh biết ngay nơi khí hít hoặc khí thở, thời gian ngồi ít lâu, lại trải qua một khoảng thời gian khí hít cảm thấy nhẹ thoảng rồi, lại trải qua một khoảng thời gian lúc ngồi giống như không có hít thở, lúc đó thân cũng được nhẹ nhàng, lại qua một khoảng thời gian cảm giác đã không có hít thở, lúc nầy thân anh không nên động. Nếu đã không hít thở rồi, tâm động lên lại biết có hít thở, lại phải đợi một khoảng thời gian nữa mới cảm giác được không có hít thở, lại phải trải qua một khoảng thời gian, gân chẳng động, tâm chẳng lăng xăng mà nhập định. Tĩnh tọa nói cách khác là nhẹ nhàng thoải mái, lại nữa, có người đã ngồi mười năm, hai mươi năm mà còn mỗi khi ngồi chẳng được ba tiếng đồng hồ thì đứng dậy, khí còn đình trệ ở nơi hít thở.

Lúc ban đầu ngồi tốt nhất là có thầy giỏi hướng dẫn, hay tìm mua quyển sách “tập tĩnh tọa” để tự tập luyện, giúp tăng thêm một nửa công việc.

Khai ngộ, thật ra không phải mỗi người tu hành đều có thể đạt được. Tư chất thiên phú của con người không đồng, tinh lực thể chất cũng khác, dùng tâm mà thể hội, chỗ ra công sức có cạn sâu lại là sự quyết định NGỘ và KHÔNG NGỘ! Như xem sách, có người xem hai mươi phút là xem xong một quyển sách, không những có thể rõ hiểu mà có thể tụng lại; có người đến hai tiếng đồng hồ vẫn xem chưa xong, xem mười lần trăm lần cũng không thể đọc lại được. Có người chạy, cũng bao nhiêu cây số, mà chỉ mất ba mươi phút, chạy xong như không có việc gì, có người cũng chạy bao nhiêu cây số ấy, mà ba mươi phút mới chỉ được nửa đường, thế mà mệt đừ thở dốc; Cũng như ăn quá no thì không tiêu vậy. Tuy là tĩnh tọa như nhau, nhưng do thiên tư bẩm sinh chẳng đồng, căn lành có cạn có sâu, sự ra công sức không đồng, khai ngộ cũng có trước – sau, lớn - nhỏ sai biệt, hoặc là không ngộ. Cho nên bất tất vì mình hãy còn chưa khai ngộ mà buồn sầu thương tâm!

Chúng tại gia, vì việc nhà bận rộn, việc xã hội bận rộn, còn vì bận rộn tĩnh tọa, việc nhiều tâm phiền, chỉ lúc yên tĩnh tâm mới sơ sơ có chút ít bình ổn, muốn yên tĩnh cũng không yên tĩnh được, lại chẳng thể nói ÐỊNH, ngộ cách nào khai?

Chúng tại gia muốn khai ngộ thì cần phải chuyên tu! Nếu chẳng chuyên tu, thì việc nhiều tâm phiền, muốn yên tĩnh thì yên tĩnh không được, làm sao có thể nhập định!

Muốn khai ngộ, thì tranh thủ lúc tuổi còn trẻ, người tuổi trẻ thì khí huyết tràn đầy, có thể ngồi được lâu. Già rồi, khí suy huyết kém, xương cốt cứng đờ, tiến bộ có mức bị giới hạn.

Nếu tự cho là đã khai ngộ, cần phải ấn chứng chính ta, chẳng ngại làm việc kiểm tra như sau: Ðối với nghĩa chơn thật chính ta đã rõ ràng không nghi hay chưa? Ðối với ranh giới phải - quấy, chánh - tà hoàn toàn rõ ràng hay không? có thể viên dung giữa không và có hay không? Phiền não chấp trước thì có giảm ít cho đến không còn hay không? Mỗi việc đưa ra là tự ta khẳng định! Anh cũng sẽ khai ngộ chơn thật thôi. Nếu muốn hành dâm, uống rượu, ăn thịt, ham muốn nhiều, lời nói việc làm chẳng thống nhất v.v... những hành vi phá giới, tức là dính mắc nơi dấu hiệu của ma, cần nên đình chỉ việc tĩnh tọa, siêng năng hơn lên mà sám hối sửa đổi cho chơn chánh, tránh khỏi bị sự vây bủa của ma.

Lúc ngồi, nếu như thấy hào quang, thấy Phật và các cảnh tượng, tất cả đều chẳng nên khoe khoang, tự mình vui, để khỏi bị anh linh bên ngoài khống chế, mà đi vào đường tà; Nên chẳng khinh sợ, chẳng vui mừng, chẳng dính mắc, chẳng xử lý, chỉ là không tưởng đến, không lý giải, để khỏi chướng ngại. Lấy việc chẳng lý giải, chẳng khinh sợ, chẳng vui mừng, chẳng động tâm, anh có thể làm được không? Làm không được thì nên đình chỉ việc tĩnh tọa! Nếu anh vui mừng những việc đó, nghĩ tưởng đến, thế thì những an linh bên ngoài (ma) đó sẽ phụ gá trên thân của anh, anh cho là ngộ đã khai, thì tâm thần của anh bị an linh bên ngoài mê loạn và khống chế, nắm lấy chỗ đó, nó sẽ khiến anh biếng nhác, phá giới và tạo các ác nghiệp.

SỰ HỮU DỤNG SAU KHI TĨNH TỌA DẬY

 A - Ấn chứng bước đầu:

1_ Sau khi phiền não khởi thì dễ chuyển, nháy mắt tức tiêu biến. 2_ Ðối với thói quen sâu sắc thường ngày hãy còn ham mê, chợt nhiên dứt bỏ mà sửa đổi. 3_ Gặp việc không chui vào chỗ bế tắc, mà thường nghĩ tưởng từ chỗ siêu việt. 4_ Gặp việc thường quán sát phán đoán từ trên lý nhân quả, gặp việc tùy duyên nhân đó mà thích ứng, chẳng nhờ chẳng cầu, tâm được mất bình đạm. 5_ Ngay lúc gặp điều phi lễ hoặc sỉ nhục, đối xử một cách thư thái, chẳng như trước kia dễ sinh giận mà không vui. 6_ Ít bực tức, ít so đo, ít tranh chấp, ít lao đao.

B - Ấn chứng tiến lên một bước:

1_ Ðối với những người có quan hệ thân yêu, chỉ là chiếu cố dẫn dắt, giúp họ tự cường tự lập tự trị, mà chẳng phải cả ngày bận rộn không dứt, trói buộc không rời, lo đây nghĩ kia, dốc lòng tận sức thấp thỏm lo âu, cả ngày buông không rời. 2_ Ðối với sắc đẹp, vinh hiển tôn quí, cừu địch giữa đời, ngang tàn bạo ngược, vô lại, tà đạo... những con người ấy, lúc ứng phó không có tâm thành kiến, dùng tâm bình đẳng bình thường để đối đãi nhau. 3_ Ðối với sự vật hay công việc thường ngày hay thích nhất, thói quen và nỗi đam mê v.v... có thể biết đó là vô thường, yêu mà chẳng chấp, thì chẳng bị nó làm lụy, mất cũng chẳng cảm thấy khó chịu, chẳng làm nô lệ cho sự việc hay vật chất. 4_ Ðối với danh lợi, quyền thế, phô trương, sở trường, châu báu đã có, có thể biết huyễn mà không dính mắc, tùy duyên lấy - bỏ, được chẳng vui, mất chẳng buồn, vì biết nó là vô thường. 5_ Ở lúc giao tiếp, vui say, sợ sệt, lo lắng quạnh vắng, có thể dung chứa mà không bị bức bách, nhân sự thích ứng mà bình thường, hoặc dứt khoát buông rời, mảy may không ngăn ngại. 6_ Ðối với hoàn cảnh không tốt, sự việc chẳng thuận, chỗ ở không thích nghi, mặt mày không tốt... các cảnh nghịch, có thể phá trừ sự kết buộc của tâm, tùy duyên gặp, nhân đó mà ứng xử, tùy duyên gặp mà an, chẳng lấy khổ vui của cuộc thế tục mà làm khổ vui.

C - Ấn chứng tiến lên một bước nữa:

1_ Có thể cải đổi tập khí xấu, như là xả ly những thói của ta như: Tư riêng, đa nghi, keo kiệt, nôn nóng, thô tháo, ưa so tính ưa tranh luận, ưa làm phiền, ưa hư vinh, ưa bài xích chê bai kẻ khác, v.v... chứa những thói quen cố chấp khó lìa, từ câu nệ mà thoát khỏi, mà hào phóng, mà siêu việt, mà thông suốt tròn đầy, mà tự tại. 2_ Gặp lúc thiên tai, người bị họa, bệnh ách, khổ nạn... một cách nặng nề, biết tất cả sinh diệt vô thường, nguồn gốc là không là huyễn, có thể không lo không sợ, đối xử thanh thảng, tùy duyên mà NHẬM VẬN, tự tại không trở ngại. 3_ Tuy biết phân biệt, nhưng chẳng trụ ở hai tướng, chẳng nhân nơi so sánh mà sinh ra vọng niệm, chẳng nhân nơi ghét yêu mà sinh ra phiền não, vào ở nơi “trí vô phân biệt”.

HỌC PHẬT TU HÀNH CHẲNG NÊN SỢ KHÓ

Thành Phật! Thật là việc rất khó, quyết cần phải có sự trả giá tương đương, mới có thể đạt đến công phu tương đối. Như việc đi làm, mỗi ngày từ sáng sớm dậy đi làm, làm thẳng đến chiều tối mới trở về nhà nghỉ ngơi, cần đổ ra rất nhiều mồ hôi tâm huyết mới có thể lãnh được lương bỗng đúng tháng, chẳng khổ nhọc sao? Rất là khổ nhọc! Tu hành cần được công phu ngang bằng, cũng cần bỏ ra thời gian, tinh thần và sức lực tương đối, như tu hành mà không khó thì chẳng nói đến “tu hành” làm gì. Nếu sợ khó thì chẳng nên tu hành! Chỉ hơi tin Phật, lại cố cầu phước báo trời người, hưởng lấy dục lạc thế gian, quên đi rằng: “Vui đến cùng cực lại sinh buồn!”. Ðến lúc đó thì thành ra địa ngục của nhân gian.

Hãy xem cuộc sống của các vị pháp sư, cuộc sống tự cố gắng quá ư là tích cực, nghiêm túc và khắc khổ, tiết kiệm nhiều, chắc thật và tự nhiên. Mục đích tìm cầu của họ là làm sao ngang bằng đến sự cao thượng, thánh khiết và vĩ đại; Ngược lại chúng ta đây lại chạy theo phàm phu danh lợi, rượu thịt, cảm thấy hổ thẹn quá!

ÐUỔI ÐI LO SẦU

“Tâm HỶ LẠC là thuốc hay, cõi lòng buồn thương sẽ khô gầy hình vóc”. Tin rằng không có người nào hiểu được sự vui vẻ hay lo buồn, nhưng nó ngược lại như loại bóng râm bao trùm lấy tâm người, gạt ra không được. Trời từ lời nguyện con người, cố nhiên khiến cho con người vui mừng, nhưng mà đời người việc không như ý có đến tám chín phần mười, ai lại có thể may mắn tránh khỏi ư?

Nhưng có vài người thường thường đối với những chuyện vặt vãnh, nhớ rất rõ ràng, cả ngày chẳng vui, giống như là trên cuộc sống loanh quanh chỉ gặp toàn những người, chuyện vật xem ra không vui vẻ, giống như là bóng tối cuộc đời bao quanh anh ta, không cách nào tránh thoát sự đoanh vây của buồn, hận, sầu bi.

Người nếu thường bị việc nhỏ nhặt không đáng kể làm cho đăm chiêu ủ dột, biểu thị sự u uất, như thế than thở ưu phiền, mà trong vô hình không biết không rõ sự đã hao tốn bao nhiêu là năng lượng trên tinh thần, phân định được không?

Nếu như trong cuộc sống việc quá nhiều, khiến chúng ta không thỏa mãn, có phải chăng do chúng ta yêu cầu quá nhiều? Sự oán hận của chúng ta, có phải chăng vì chúng ta khoang dung quá ít? Anh có tấm lòng thế nào, thì có cuộc sống thế ấy, nếu anh cả ngày tiếng thở lời than, cần phải biết rằng so với trăm bệnh, lo sầu càng sẽ khiến người khó mà thoát thân, một ngày chuốc lấy trên thân, khiến người không những dễ dàng đánh mất tuổi trẻ, vả lại dễ suy tàn đi tâm sống động, làm cho đời người khô gầy thiếu vị, cho nên anh hiện tại nên đuổi dẹp mau gốc rễ mà trừ bỏ đi lo sầu đầy chật cả trong tâm; làm mới lại sự thoải mái tràn trề đầy ắp vui vẻ.

MỘT NỤ CƯỜI GIẢI TỎA NGHÌN SẦU

Một người nếu miệng thường nở nụ cười, khiến cho cảm giác người ta tất nhiên là một sự hòa khí, vui vẻ trong lòng. Cười chẳng những chỉ khiến thân tâm anh khỏe mạnh, tự được vui vẻ, trừ được thất vọng và nôn nóng, cải thiện quan hệ con người, là việc mà mọi người đều biết, nên không nói lời thừa. Nhưng bàn đến là thời gian bình thường nên cười nhiều; tóm lại có người thở ngắn than dài đều mau sầu chết người! Nên cười sao cho dứt được lời than. Kỳ thật, ta cảm thấy ngược lại, càng gặp việc trái ngịch khốn khó, càng nên cười nhiều. Bỡi vì tác dụng của nụ cười, thật chẳng phải là biểu lộ sự thoái mái tiêu cực, mà lại là sự thoải mái sáng tạo tích cực, xua đuổi nổi lo, giải tỏa cuộc sầu. Cười nhiều thường cười, tự nhiên là hòa khí đầy đủ. Nếu có một người từ sáng đến tối cứ kéo dài thừ nét mặt ra, than ngắn thở dài, như vậy làm sao không chuốt lấy họa!

Cười thật ra chẳng nhu cầu sự quyết định trước nhân tố hoặc chuẩn bị động tác trên tâm lý gì đâu. Bất cứ người nào, chỉ cần cơ thịt hai bên quai hàm động xếch lên chút xíu, khiến khóe miệng vểnh lên, thì đã có nụ cười trên mặt rồi. Nếu chịu bật khí ra tiếng, yết hầu phát ra âm: Ha... há! thì là phát ra cười to, cũng thuộc về việc tầm thường, cho nên cười không được do không chịu làm, chẳng phải là không làm được. Cũng có người hoài nghi rằng: “Nụ cười hiện lên mặt, trong lòng nuốt từng giọt đắng, phỏng có tác dụng gì?”. Kỳ thật, bồi dưỡng cho nụ cười là có thể “từ ngoài mà vào trong, ngược dòng mà vào”, biểu hiện trên mặt cười nhiều, cười lâu rồi thì có thể thói quen thành tự nhiên, đến lúc đó, lại được vui từ tâm sinh ra, chẳng đặc biệt cầu bên ngoài, nụ cười được phát ra từ trong tâm.

Cười, cũng là lúc ngay tâm đầu chẳng thấy thoải mái, tức khiến cho nụ cười qua đi những vấn đề ngày cũ, mang theo nụ cười bao dung để xử lý vấn đề, tóm lại vấn đề xử lý bao bọc sầu khổ đang mang sau lưng là cần phải nhẹ nhàng có hiệu quả, cười một cái giải nghìn sầu, nếu chẳng ngại anh thử coi.

- BA CÁI VUI ÐỜI NGƯỜI:

Sống trên đời nầy, mỗi người đối với khổ vui đều có tiêu chuẩn bất đồng, việc vui được đưa ra để ví dụ cũng chẳng phải là một dạng:

- Chỉ được chỗ ở thường vô sự.

- Ăn no, mặt ấm.

- Thường niệm: NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT.

Ba việc vui nầy: Chỗ ở và công tác không có người đến quấy rối, công tác gánh vát thoải mái, lúc làm thì làm, lúc nghỉ ngơi thì nghỉ ngơi, chẳng tham ái gì đến vinh hoa phú quí, không so tính tốt xấu, được mất, khen chê, sự đời nhìn rõ việc thế tục buông rời, phàm việc nghịch đến thì thuận thọ, có lòng bao dung, tâm bình khí hoà, tâm an lý được, vô sự nhàn nhã, nhàn rồi có thể thường niệm Phật, nhàn rồi có thể qua lại đó đây, tất cả tâm tình thích thú đều là lấy sự bình đạm nhàn nhã làm điểm xuất phát, vô sự nhàn nhã thảng nhiên, có thể ăn no mặt ấm (tiền bạc sớm biết dự phòng trước), không tham lam, không tranh chấp, không liều lĩnh, an phận tuỳ duyên, tâm trong sáng không lo nghĩ, cuộc sống vật chất và tinh thần không lo lắng thiếu thốn, đầy đủ ở mình, chẳng cầu ở người, người của trời chẳng qua cũng như đây thôi!

Nghĩ tưởng chín chắn, không tham - không tranh - không thẹn của bản tâm, mới là cơ sở của tất cả khoái lạc, vì chỉ có người bình thản phơi phới, thì đến chỗ ở cũng đều là đất vui. Mà người làm tăng thêm sự rì rầm, việc chạm đến đều là trường sầu, thuận ngịch sầu vui của cảnh gặp toàn là ở trong ta, sự vui, giận, sáng suốt và mờ ám của tâm người; vui vô sự, vui điềm tĩnh, là vui cõi trời, việc vui sở hữu đời người; người vừa tham vừa tranh chấp, vừa cầu, vừa thẹn thì tất nhiên hưởng thọ không được rồi.

Ðời người thoải mái thật chẳng khó, chẳng có ngã chấp đối với việc, chẳng so tính đối với người, phàm việc ngịch đến thì thuận thọ, vả lại chẳng để nơi ý, nhìn rõ buông rời, cố hết sức đơn giản hoá cách nhìn sự vật gặp được, giảm nhẹ sức ép tâm lý, lại cần hiểu rõ: “Cười là việc sống vui vẻ, là hình nghi dung mạo thẳng thắn và thật thà”.

MÔ PHẠM CỦA NGƯỜI NIỆM PHẬT

Ngài Quảng Khâm Hoà thượng năm chín mươi lăm tuổi, ngày mười ba tháng hai, năm Dân quốc thứ bảy mươi lăm, ở tại chùa Diệu Thông thuộc xã Lục Qui, huyện Cao Hùng, ngồi an lành hoá sanh về nước Phật; Ngài cũng là bậc đức cao vọng trọng của giới Phật giáo, trú trì “Thừa Thiên thiền tự” xã Phổ Thành, huyện Ðài Bắc. Ngài là một bậc cao tăng lúc bấy giờ được mọi người sùng ngưỡng, khắp nơi tôn kính, tự động thân cận cúng dường. Ngài lúc hai mươi tuổi xuất gia ở chùa “Thừa Thiên thiền tự” thuộc thành Tấn Giang, châu Phúc Kiến Tuyền, nhân vì không biết chữ, chẳng thể tụng kinh nói pháp, trước tiên ở chùa làm công việc tính cách lao động, nhiều năm sau được điều phái làm “Thầy hương đăng”, tức là quản lý việc đốt nhan, rót dầu của đại điện và các công tác dọn dẹp đại điện, từ đây ban ngày công tác, tối lại tu “Thiền tịnh độ” (ngồi yên tĩnh thầm niệm Phật) ở trước Phật, về sau vào trong núi sâu tiếp tục tu trì, lúc vào núi gạo và lương thực mang đi hết rồi, đành phải hái lấy rau quả gần đó để đỡ đói, khổ tu mười hai năm, được thấy tánh (khai ngộ) mới xuống núi. Tháng sáu, năm Dân quốc thứ ba mươi sáu, ngài đến Ðài Bắc để hoằng pháp, nhân vì chỉ ăn trái cây, được mọi người gọi là “Sư trái cây”. Ngài không giảng kinh lại không giải biện việc học, Ngài chuyên niệm Phật để nhiếp chúng, dùng đại ý Phật Pháp đơn giản để khai thị cho tín chúng, thường khuyên mọi người niệm Phật nhiều; được sự ái mộ, tôn kính, tự động gần gũi của tín chúng rộng lớn, ngay cả những người học đầy đủ kinh luận cao xa cũng khẩu phục tâm phục. Dòng người không dứt, cơ hồ hoạt động không ngày nghỉ, đến với chùa Thừa Thiên Thiền, thuộc xã Thổ thành, huyện Ðài Bắc, chính là mô phạm của người niệm Phật chúng ta! Ngài tu “thiền tịnh độ” được chứng ngộ, chúng ta chẳng thể sao? Có thể! có thể thực hành (chịu làm) thì có thể được, song xem thử mọi người có phát được tâm chăng? Chịu tinh tấn hay không mà thôi!

Hoà thượng Quảng Khâm dạy dẫn người học rằng:

“Lúc bình thường đối với bất kỳ việc gì, đều cần phải “tâm rộng rãi”. Chẳng sai, tâm đã được rộng rãi rồi, tâm sẽ tuỳ thuận, nhún nhường, điều phục, mềm mỏng hoà nhã, tĩnh lặng, chẳng động; tâm chẳng động thì ý có thể thông, chẳng cố chấp, chẳng phân biệt, chẳng so đo, chẳng cưỡng cầu, lượng như biển có thể dung chứa, thuận với duyên ngịch, qua đi như mây nước, chẳng lưu lại dấu vết, sáng như gương, yên lặng tâm. Vì “tâm rộng rãi” phàm việc gì cũng nhìn rõ, buông rời, chẳng bị phiền não trói buộc”.

Có một bài văn nói về Hòa thượng Quảng Khâm lúc chín mươi lăm tuổi, bắt đầu một tuần trước khi vãng sanh, sớm tối mỗi ngày đều tự mình phát ra niệm Phật to tiếng, khiến hết thảy mỗi lời niệm đều khẩn thiết hô to lên A DI ÐÀ PHẬT. Mọi người đều luân lưu niệm to tiếng với Ngài, niệm đến khi tiếng khàn, ngực đau, khí lực khó chống đỡ; có đệ tử sợ Ngài gần cả tháng không ăn thể lực khó để duy trì, nên mới thưa với Ngài rằng: “Sư phụ! Chúng con niệm thầy nghe thôi cũng được!”. Hòa thượng trừng to mắt, dứt khoát nói rằng: “Các người niệm là việc của các người, các người sinh tử các người lo!”. Nói rồi, lại to tiếng khẩn thiết tự mình niệm Phật. Từ lời tự thuật ở trên có thể biết, một câu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT thật có công đức bất khả tư nghì! Nếu chẳng vậy, thì một vị Hòa thượng là người đã chứng ngộ được đạo Thánh, trước lúc lâm chung còn to tiếng niệm Phật cả ngày đêm, nhờ vào sức tu trì tự thân của Ngài thì có thể ra khỏi ba cõi rồi, sao lại trước lúc lâm chung sớm tối lớn tiếng niệm Phật!

THAM KHẢO KINH ÐIỂN

Nói đến ba tạng kinh điển, là tôn chỉ mọi nơi đều hướng về, nhưng ai có thời gian để mà nghiên cứu, đành phải trước tiên kiểm tra xem chuyên môn.

Kinh có năm kinh về tịnh độ. Kinh “Vô Lượng Thọ” và “A Di Ðà”, hai bộ nầy mức độ (chữ nghĩa) rất ít nên cần tụng. Kinh “A Di Ðà”, mỗi ngày tụng mấy biến, giúp cho việc vãng sanh thế giới Cực Lạc chẳng phải ít; tiếp tụng “Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ Ðà La Ni” ba mươi biến hoặc một trăm biến, bạt trừ tất cả nghiệp chướng (vì nghiệp chướng sẽ làm cho anh biếng nhác tán loạn, hủy hoại pháp, phá giới, tạo ác), khỏi bị nghiệp chướng trói buộc, không thanh tịnh trong việc tu hành. Như tu hành mà lại còn muốn cuộc sống hiện tại tốt đẹp, sự hứng thú còn rất nồng nàn đối với thế gian, rất nghĩ tưởng về nó, chuyện không thể tưởng tượng thì thường nghĩ tưởng, chẳng thể làm lại đi làm, phiền não rất nhiều, tu hành chẳng được tự tại, tụng đến khi tu hành tự tại rồi, mới ít tụng một chút, mỗi lần tụng kinh “A Di Ðà” thì nên liên tiếp tụng ba biến.

- Ðà La Ni “Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ” - (Trong “Kinh Nhật Tụng” thường có, đây không dịch chép).

Nếu còn thời gian và khỏe cũng nên tụng một biến kinh “Vô lượng thọ”, tức có thể rõ hiểu được đại khái pháp môn tịnh độ.

A DI ÐÀ PHẬT là thầy của chúng ta, kinh VÔ LƯỢNG THỌ là bài khóa căn bản của chúng ta. Ðọc kỹ một bộ kinh “Vô Lượng Thọ”, có thể hiểu thông suốt, rõ ràng, chiếu theo kinh “Vô Lượng Thọ” để tu học, học thành công tức là đạt rồi, trở lại học kinh luận. Ðây tức là một cửa thâm nhập, chỗ gọi là “một kinh thông, tất cả kinh đều thông”, từ trên một bộ kinh nầy mà được định, khai huệ, đây mới gọi là thông đạt, sau đó anh xem những kinh điển khác, khi xem sẽ thông đạt cả. Trước khi chưa thông đạt kinh Vô Lượng Thọ, xem những kinh điển khác chưa thể thông đạt, chỉ có thể nói là ta xem nhiều bao nhiêu quyển kinh điển mà thôi, chẳng được lợi ích nhiều.

Ðọc tụng kinh Vô Lượng Thọ, có thể hiểu được bao nhiêu thì hay bấy nhiêu, chỉ đọc tụng, chẳng nên nghiên cứu, vì khi nghiên cứu, tâm sẽ lộn xộn.

Nếu đọc tụng kinh điển, thì chẳng ngại thỉnh một bộ “Tịnh độ tam bảo”: “Tịnh độ bảo điển” – (tức Tịnh độ ngũ kinh), “Tịnh độ Thánh Hiền”, “Tịnh độ văn sao” để đọc tụng, làm tăng thêm tín tâm và sự thấy nghe

KẾT LUẬN

(Lời cung kính của TÁC GIẢ)

Mọi người! Có tiền cũng được, không tiền cũng được! Cần sống vui vui vẻ vẻ, tự tại thong dong, tâm cảnh vui vẻ, tiếp nhận tất cả, thì ở nơi địa ngục cũng như thiên đường!

Chư Phật là người tu thành, Chư Phật thành Phật đã rất là lâu, mà chúng ta còn trong luân hồi sinh tử ở thế giới khổ đau nầy, chẳng cảm thấy hổ thẹn sao? Ðó là chúng ta mê luyến thế giới khổ nầy, chẳng biết tu hành, hoặc phương pháp tu hành không đúng, hoặc tu hành bất lực, cho nên đến nay còn ở trong luân hồi sinh tử thế giới khổ nầy, nay có may mắn được nghe pháp Phật, nếu lại chẳng biết tu hành, thì đành phải ở trong luân hồi sinh tử thế giới khổ nầy. Nên biết rằng lần hồi “da già tóc hạt”, nhìn thấy bước chân lẩm cẩm, thì dẫu cho vàng bạc đầy nhà, lại còn phong quang hiển hách, cũng khó tránh khỏi suy già bệnh tật, dẫu anh có ngàn điều vui vẻ, vô thường rốt cuộc cũng tới, một khi mất thân người, khổ ơi là khổ!

Học Phật tu hành trước hết cần phải làm cho rõ ràng, tin Phật là tin Phật, học Phật tu hành là học Phật tu hành. Tin Phật, là hưởng “hồng phúc” (Trọng vọng nơi cuộc sống vật chất, cái vui năm dục), lúc mệnh chung sinh lên cõi Trời hoặc trở lại sinh vào nhà giàu có. Học Phật tu hành, là hưởng “thanh phúc” (quí trọng cuộc sống tinh thần), lúc mệnh chung ra khỏi ba cõi, vãng sanh về thế giới Cực Lạc - thành Phật, lìa khổ được vui - chơn lạc. Cầu sinh thế giới Cực Lạc mà muốn hưởng được hồng phúc, như thế! Vãng sanh thế giới Cực Lạc sẽ không có được chỗ chắc chắn! Vì sao? Vì “tâm” của anh, chỉ dừng lại ở nơi việc đời, trên dục lạc, mà chẳng phải là để nơi việc học Phật tu hành.

Nguyện vãng sanh về thế giới Cực Lạc, thì chẳng nên nói là quá bận rộn, không có thời gian để niệm Phật, chẳng niệm Phật nhiều, trong tâm không có Phật; lúc mệnh chung, bệnh khổ nung nấu, nghiệp trước chiêu cảm, thần chí hôn mê, tà niệm hiện tiền, điên điên đảo đảo, anh làm sao có thể khởi tưởng niệm Phật? Có thể tĩnh được tâm để niệm Phật? Có thể chí thành chuyên nhất niệm Phật? Có người trợ niệm cho anh cũng uổng vậy! Vì anh chẳng biết trước lúc mệnh chung đến, nên khi có người trợ niệm thì chẳng qua đời, mà lúc không người trợ niệm thì đã qua đời rồi! Vì sao? Vì anh chẳng được “chánh niệm” hiện tiền, mà là “tà niệm” hiện tiền vậy.

Học Phật tu hành - Trì danh niệm Phật - vãng sanh Cực Lạc, cần phải làm cho được việc nắm chắc, không nên làm mà không nắm chắc, nếu không nắm chắc thì chẳng bằng như việc tin Phật để được an tâm.

Học Phật tu hành, nếu dùng trạng thái của tâm tin Phật để tu, thì chỉ có thể trồng lấy cái chân thiện, được phước báo trời người; còn việc vãng sanh Cực Lạc thì nên xô dẹp những cái kia đi!

Học Phật tu hành, nương theo lời dạy của Phật như Pháp tin thọ phụng hành, có chánh tri kiến chánh xác, nhân sinh quan chánh hạnh, chẳng mất đi ý nghĩa của lời dạy, chẳng phạm đường cấm, thiểu dục tri túc, có chỗ gởi gắm trên tinh thần là TIN PHẬT! Có mục tiêu (hy vọng) là THÀNH PHẬT! Tự nhiên tâm tình thư thả thoải mái, hài hoà, vui vẻ, cuộc sống được tự tại hơn, sung sướng tinh thần hơn, lúc mệnh chung vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Ðã rõ ràng được là vì sao cần phải học Phật? Vì sao cần tu hành? Học Phật trì danh niệm Phật tu hành có chỗ tốt đẹp gì? Như vậy thì sẽ tu hành được và tu tốt.

Học Phật tu hành ban đầu cần phát tâm bồ đề, tin sâu (rõ ràng) lý nhân quả, hiểu rõ “thiện có báo thiện, ác có báo ác”, mới chẳng dám làm các việc ác, chỉ có làm thiện nhiều hơn. Biết rõ thế nào là ác? Vì sao không nên làm ác! Việc ác tâm không nên tưởng, thân không nên làm, miệng không nên nói, tức là “Chư ác mạc tác”. Biết rõ thế nào là thiện? Giữ tâm thiện, làm việc thiện, nói lời thiện, làm người thiện, tức là “Chúng thiện phụng hành”. Biết rõ thế nào là tự tâm thanh tịnh? Vì sao cần tâm thanh tịnh! Không vọng tưởng tạp niệm, không phiền não, chẳng chấp trước, việc quá khứ không truy tìm, việc hiện tại chẳng vịn duyên, việc tương lai chẳng nghĩ tính, tình đời thì nhìn được rõ, việc đời thì buông bỏ muôn duyên. Biết thế nào đáng làm, thế nào chẳng nên làm, rõ rõ ràng ràng tức là “tự tịnh kỳ ý”.

Một câu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, chắc thật chí thành khẩn thiết nhất tâm mà chuyên niệm, niệm nhiều, nuôi thành thói quen niệm Phật, niệm cho được thành thục (trong tâm có Phật), có thể được nhất tâm bất loạn càng tốt, chẳng hoài nghi, chẳng xen tạp, lúc mạng chung mới có thể biết trước giờ chết, thân không bệnh khổ, chánh niệm hiện tiền, tâm chẳng điên đảo, mà niệm Phật vãng sanh.

Trì danh niệm Phật chẳng phải là được hay không được “nhất tâm bất loạn” mới có thể vãng sanh thế giới Cực Lạc; mà chủ yếu là anh “trong tâm có Phật”, lúc mạng chung thần trí trong sáng, tưởng khởi được câu niệm Phật, biết niệm Phật, biết đến được nơi nào, chánh niệm hiện tiền, tâm chẳng điên đảo, tức có thể vãng sanh thế giới Cực Lạc; chỉ sợ anh trong tâm không có Phật! Lúc mệnh chung thần chí hôn mê, chẳng tưởng được câu niệm Phật, chẳng biết niệm Phật, tà niệm hiện tiền, điên điên đảo đảo, như thế mới không thể vãng sanh được thế giới Cực Lạc.

Trì niệm danh hiệu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT làm “chánh hạnh”, là tu huệ. Chẳng làm các việc ác, vưng làm các việc lành, tự tịnh ở nơi ý là “trợ hạnh”, là tu phước. Học Phật tu hành thì cần phải tu cả hai là Phước và Huệ; nếu chỉ tu huệ mà không tu phước, hoặc chỉ tu phước mà không tu huệ, là không vãng sanh được về thế giới Cực Lạc, nên cần phải tu cả hai là phước và huệ mới có thể vãng sanh về thế giới Cực Lạc. Phước và Huệ như hai chiếc cánh đều nhau của con chim, thiếu một thì không bay lên được. Chỉ có niềm tin, dù là tin Phật hoặc tin ngoại đạo đi nữa, cũng chỉ có thể sinh cõi trời hoặc thành tiên, thành thần, mà ra chẳng khỏi ba cõi, hưởng hết phước rồi, trở lại thọ khổ.

Trì danh niệm Phật cần đầy đủ TÍN-NGUYỆN-HÀNH, thiếu một chẳng được. Cần có lòng tin chân chánh. Nguyện chân chánh vãng sanh thế giới Cực Lạc, nếu còn tham luyến thế giới nầy, nói là cuộc sống hiện tại tốt, thì nguyện đó sẽ không thật thiết tha. Ra sức hành trì chí thành khẩn thiết, tinh tấn không lười mỏi, chỉ lo cày cấy, chẳng lo thu hoạch, không gấp gáp cầu lợi, chẳng vọng cầu cảm ứng hoặc quả báo, công phu đến lúc chín mùi cảm ứng tự nhiên hiện hữu; công phu chưa tới lúc, cầu cũng chẳng thể được, người lại nhiều thêm một việc chướng ở nơi tâm. Lúc mệnh chung biết trước giờ chết tức là cảm ứng.

Trì danh niệm Phật mà lúc lâm chung được nhất niệm là quan trọng nhất. Nhất niệm mà chánh niệm thì vãng sanh Cực Lạc, nhất niệm mà tà niệm, thì rơi vào luân hồi. Chúng ta chỉ một câu danh hiệu Phật, sớm niệm tối niệm, đi niệm ngồi niệm, cho đến trọn ngày trọn năm niệm niệm chẳng dứt, không lúc nào chẳng nung nấu nhất niệm đến tận cùng mà thôi. Do nhất niệm nầy, chỗ quan hệ rất là sâu nặng, nó dắt hồn dẫn phách, tạo mạng sinh thân, chẳng có việc gì chẳng là do đây, niệm thiện thì lên thiên đàng, niệm ác thì xuống địa ngục, niệm ma lại thành ma, niệm Phật bèn thành Phật. Nếu chẳng phải là lúc bình thường niệm chuyên niệm nhiều, huân tập nhuần nhuyễn, nuôi thành thói quen niệm Phật, trong tâm có Phật, thì đến lúc lâm chung sớm quên mất chánh niệm niệm Phật, bèn theo các niệm thiện ác thói quen chín mùi của nhiều đời mà đi, luân hồi trong sáu đường, đều là một niệm nầy làm chủ, chỉ một niệm nầy, lại không niệm nào khác, nếu một niệm chuyên chú ở Phật, thì thân tuy tử vong mà thần thức chẳng phân tán, tức theo một niệm vãng sanh Cực Lạc vậy.

Trì danh niệm Phật cần dùng tâm cảm ơn, cảm tạ, vui tươi, tâm cam tình nguyện để tu hành, càng tu càng mạnh mẽ, thì hành trì mới có thể tâm tình nhẹ nhàng thoải mái, tự tại, vui tươi; mới chẳng vì hoàn cảnh bất lợi gặp gỡ, hoặc ma oán nghiệp xưa, lúc ép ngặt, mà vừa nghĩ lại vừa oán giận, tâm chẳng cam, tình chẳng nguyện, lui mất tâm đạo. Nếu dùng tâm nôn nóng cầu lợi để tu thì giữa đường gãy gánh, dùng tâm nửa tin nửa nghi để tu thì không thể dùng được. Hoàn toàn nhìn vào trạng thái tâm tình của anh như thế nào để mà tu.

Một câu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT, chỉ một niệm cho thuần thục (trong tâm có Phật), thành Phật hãy còn dư sức! Chẳng học pháp khác, lại có gì tiếc.

Trì danh niệm Phật nếu tín tâm chẳng đủ, lại còn muốn học những pháp môn khác, hứng thú đối với việc đời còn rất nồng nàn, dẫu trải qua ngàn đời vạn kiếp cũng chỉ là sanh tử luân hồi thế nầy thôi.

Việc ác một chút xíu cũng đều chẳng nên làm, việc thiện thì nên làm nhiều hơn, tâm chẳng nghĩ tưởng lung tung, chỉ có niệm chánh, làm chánh, ý niệm và việc làm không tà vạy; như ăn cơm thì ăn cơm, ăn xong thì thôi, làm việc thì làm việc, làm xong thì thôi, không trở lại nghĩ tưởng nó, không đình trệ ở trên ý niệm, chẳng dừng ở trên quan niệm, như chim bay qua bầu trời không để lại dấu vết.

Có tiền cũng được, không tiền cũng được, nhìn, nghe, gặp được việc tốt cũng được, việc xấu cũng được, đều không quan tâm so tính, tức là nhìn rõ. Giàu có, sự nghiệp, vợ con... có chúng cũng bằng với không có chúng, chẳng mong nghĩ, không để trong tâm, tức là buông rời. Nhìn rõ, buông rời tức là tu hành rồi vậy.

Cuộc sống qua được thì tốt, nếu hằng ngày cứ mãi bận rộn vì việc đời: Công tác, kết hôn, sinh con, nuôi gia đình, mua xe, mua nhà, kiếm nhiều tiền, nhiều tiền rồi thì tiếp đến sinh ra nhiều việc đời bận rộn! Chỉ trọng nơi tiền bạc, vui năm dục hưởng thụ của cảm giác, gát câu niệm Phật sang bên một cách thoải mái, trong tâm không có Phật, lúc mạng chung ngay cả một cái chết nhẹ nhàng cũng chẳng được, trở lại oán giận rằng niệm Phật không linh nghiệm, trách ai vậy!? Cần phải bận rộn vì vấn đề học Phật tu hành, dùng ánh mắt đạm bạc mà xem tình đời, dùng tâm “tri túc” để lấy và bỏ muôn vật, chẳng bị trói buộc bởi vật bên ngoài, tâm địa tự mình bình ổn. Tốt, xấu, được, mất chẳng so tính; khổ, vui, vinh, nhục chẳng để tâm, chịu đựng sự cô độc vắng lặng, kiên nhẫn sự nóng lạnh gió mưa, thọ nhận cuộc sống bình thường lạc lẽo. Nếu học Phật tu hành mà quan niệm có chút ít còn hơn không, lề mề cẩu thả, là lầm đắm một đời, thế thì không biết đời nào kiếp nào mới lại có thể được nghe Phật Pháp!

Chư vị bạn lành! Nay có may mắn được nghe Phật Pháp, lại biết phương pháp trì danh niệm Phật vãng sanh thế giới Cực Lạc tu hành hữu hiệu (chắc chắn), nếu còn bận rộn vì vấn đề truy cầu phú quý vinh hoa! Tham lam mưu đồ vui năm dục, thì nên biết rằng lần hồi tóc trắng da nhăn, trông thấy bước đi lẩm cẩm, dẫu như vàng ngọc đầy nhà, lại còn gia thế hiển hách, cũng khó tránh khỏi già, bệnh tàn suy, mặc cho ngàn điều khoái lạc, vô thường cuối cùng cũng đến, một khi mất thân người, khổ ơi là khổ! Xem thử người xưa có mấy ai thể đến lúc chết an lành! Ðành phải luân hồi trong sáu đường đời đời kiếp kiếp, trọn không có thời kỳ ra khỏi.

Tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ - năm cái rễ của luân hồi, người đời tham yêu, người tu hành cần xả bỏ, nhìn nó càng lạc lẽo càng tốt, nếu buông không rời, còn dính mắc tham yêu, đành phải luân hồi trong sáu đường đời đời kiếp kiếp!.

Gìn giữ một câu danh hiệu NAM MÔ A DI ÐÀ PHẬT thì chẳng được xen lộn những cái khác (như các pháp môn: tham thiền, học mật...). Muốn học thêm nhiều một chút (các pháp khác) để vãng sanh Cực lạc mới có sự đảm bảo; thế là anh đã sai lầm lớn, đặc biệt sai lầm rồi, tức là anh không có niệm tin chắc chắn đối với Phật A Di Ðà, nên chẳng thể tín thọ.

Tu hành là công phu từng chút một, sửa soạn tốt cho tự mình trong cuộc sống bình thường, chẳng nhờ mượn ở bên ngoài, tất cả đều nương nơi sự tinh tấn của mình, nương lời dạy như pháp mà tin thọ phụng hành, thì vãng sanh thế giới Cực Lạc mới có được sự chắc chắn.

Tu hành, chẳng tu thì thôi, nếu tu thì cần phải tu cho tốt, cho chuyên nhất, chí thành, khẩn thiết, tu cho chắc thật. Nếu lơ là biếng nhác, phô bày, nôn nóng, tâm tùy tiện ở việc mà tu, như thế không phải là phô bày Phật, mà là phô bày chính anh, chẳng thể vãng sanh thế giới Cực Lạc, không thể không biết.

Vãng sanh thế giới Cực Lạc không có bí quyết sao? Xin thưa là: Có. Tức là hai chữ: THÀNH KÍNH. Thành là chân thành, không có một mảy may hư giả. Kính là cung kính, cung kính là tác dụng khởi lên của sự chân thành, nội tâm chân thành biểu hiện ra bên ngoài tức là cung kính.

Phép tu hành không ra ngoài bốn chữ: CHUYÊN, CẦN, NĂNG, HÀNH. Chuyên là tinh nhất chẳng hai, ngoài ra không có một việc nào. Cần, là tinh tấn không lười biếng, không luống bỏ một thời gian nào. Năng, là phát tâm, chịu làm, làm một cách cam tâm tình nguyện, chỉ lo ra sức, không nghĩ thu hoạch, không gấp gáp cầu lợi. Hành, là chí thành khẩn thiết, ra sức mà làm.

Học Phật tu hành có khó chăng? Hãy xem cách nghĩ, cách nhìn của anh như thế nào? Anh chân tâm tu hành thì không khó; anh dùng tâm tin Phật để tu, như thế là khó đấy.

Cổ đức nói rằng: “Học Phật không khó, mà khó ở sự phát tâm; phát tâm chẳng khó, mà khó ở sự dõng mãnh; dõng mãnh không khó, mà khó ở sự duy trì lâu”. Lại nói rằng: “Không luận làm bất cứ công việc gì, lúc ban đầu chưa có gì thì chẳng chịu ra sức siêng năng, cho đến lâu ngày, tình thế dời đổi, sinh tâm mệt mỏi, hoặc được chút ít lấy làm đủ, hoặc sợ khó mà dính nơi yên ổn, việc đời như thế, học Phật cũng vậy”.

Niệm Phật tu hành, nó liên hệ với cuộc sống ngày thường, tu huệ tu phước, anh đã dụng công được bao nhiêu, Ðức Phật A Di Ðà đều thấy biết hết, Ngài có thể quyết định đến hay không để tiếp dẫn anh! Anh chẳng cần ôm giữ tâm gặp may.

Vì cầu kế sống, trong cuộc sống không cách nào buông rời muôn duyên, đây là hiện tượng chẳng chơn của tâm niệm Phật. Công việc đầu tiên của tôn giáo còn phải hiểu biết tỉnh táo ở nơi tự ngã, cần phải khiến cho tâm linh của mình từ sự thị phi, so đo, được mất và trong tham - sân - si phải được tỉnh giác, dùng một câu hiệu Phật thường buộc ở tâm đầu, tâm linh sẽ dễ dàng tỉnh giác; đạo lý nầy rất là đơn giản, vì tâm linh của con người lý do là mê hoặc chẳng hiểu biết, tức là vì vọng niệm đã quá nhiều, ngày ngày nghĩ tưởng lung tung, tâm chẳng tịnh được, hiện tại chúng ta niệm Phật bằng tâm vọng niệm, không thể lý giải được những ân oán kia; nên bên ngoài giữ giới Phật, trong thì trì hiệu Phật, lấy “nhiếp hết sáu căn, tịnh niệm kế tục”, trước tịnh (hay yên tĩnh) cái tâm lại, thì có thể tìm được tự ngã chân chánh (chân tâm niệm Phật).

Niệm Phật tu hành mà chân tâm thành ý, thì dẫu có cảm ứng cũng được, không cảm ứng cũng được, chỉ cần đầy đủ: Tín, nguyện, hành; tuỳ duyên qua ngày, chỉ lo ra sức không nghĩ thu hoạch, sống được yên ổn tốt đẹp, tự tại, vui vẻ, lúc mệnh chung dự biết được giờ chết, thần chí trong sáng, chánh niệm hiện tiền, tâm chẳng điên đảo, đang ngồi hoặc đang đứng mà vãng sanh, tức là có cảm ứng rồi. Chỉ e rằng tín - nguyện - hành của anh không đầy đủ, ôm lấy duyên qua ngày tháng, lúc mệnh chung chẳng biết thời gian đến lúc nào, đau khổ vô cùng, thần chí hôn mê, tà niệm hiện tiền, tâm sinh điên đảo, Ðức Phật A Di Ðà thì không thể đến tiếp dẫn anh được.

Trì danh niệm Phật thì chẳng phân nam nữ già trẻ, giàu có hay nghèo khó, kẻ trí người ngu, mọi người đều có thể tu, nhà nông hay buôn bán, từ người dạy học cho đến công nhân, viên chức, mỗi việc làm mỗi nghề nghiệp, đều chẳng làm cho lỡ đi công việc tu trì.

Niệm Phật tu hành, càng ngày nhẹ nhàng càng tốt, thói quen tâm bệnh dễ sửa đổi, công phu niệm Phật càng sâu, đơn thân hoặc không tính toán việc nhà, ngân hàng thì có chút đỉnh tồn khoảng, ăn mặc chẳng rầu lo, tốt nhất là chuyên tu cho được niệm Phật tam muội (chánh định), trở lại độ chúng sinh, có được trí tuệ thì mới có thể nói động được người đời tâm phục khẩu phục, học Phật tu hành phải khởi tu ra sức hành trì.

Trước lúc chưa được trí tuệ(khai ngộ) chẳng cần biểu hiện thành thạo quá, “đại trí như ngu”, giảm được rất nhiều phiền não.

Việc tu hành thì người người đều có thể tu, việc niệm Phật thì người người đều có thể niệm, vãng sanh thế giới Cực Lạc, phẩm vị cao thấp chẳng đồng, tư chất thiên phú, sự sâu cạn của thiện căn, cố nhiên là có sự liên quan, chỉ cần mỗi người dụng tâm thể hội và chỗ cạn sâu của công phu bỏ ra, bèn quyết định sự cao thấp của phẩm vị; cũng vậy người niệm Phật tu hành vãng sanh thế giới Cực Lạc, chín phẩm hoa sen, vì sao chẳng muốn thượng phẩm ư? Người thượng phẩm thượng sanh, đến thế giới Cực Lạc, thấy Phật nghe Pháp; người trung phẩm trung sanh, trải qua nửa tiểu kiếp mới được quả vị A La Hán; người hạ phẩm hạ sanh, ở trong hoa sen mãn mười hai kiếp, hoa sen mới nở.

Nếu chơn tâm niệm Phật tu hành, thì nên đọc kỹ sách này; nếu đọc qua rồi mà không đọc lại, thời gian bao nhiêu thì quên mất, thói quen tâm bệnh lại hiện ra, Phật - cũng chẳng niệm nhiều, như thế việc vãng sanh thế giới Cực Lạc sẽ dẹp bỏ thôi.

- Chỗ nói trong sách này không phải là lý luận Phật học, mà là học Phật tu hành, phương pháp pháp môn trì danh niệm Phật. Anh nếu ở trên vấn đề niệm Phật tu hành, tìm lấy một thiện tri thức lớn, thì chẳng thấy đâu có được lợi ích nhiều bằng quyển sách này, lại cũng khó tìm cho được một quyển sách đơn giản dễ dàng như quyển này. Sách đã được nhiều ích lợi, nguyện hành giả có thể đọc kỹ quyển này, chí thành cung kính, nổ lực tu hành chắc thật, tinh tấn không lười mỏi, việc vãng sanh thế giới Cực Lạc tức có cơ sở chắc chắn rồi!

- Phật tử là chúng tại gia hạ căn, Phật Pháp là từ kinh sách Phật xoay chuyển tập trung chép ra, chỗ sai lầm không đúng sẽ khó mà tránh khỏi, xin thỉnh chư Phật, Bồ Tát, cao tăng, đại đức thấy và lượng thứ cho!

- Xưng niệm NAM MÔ DA DI ÐÀ PHẬT vãng sanh thế giới Cực Lạc.

- Xưng niệm NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT tiêu tai nạn, được phước báo.

HẾT