4. Lời thuyết pháp của Phật, Bồ Tát hợp với kinh điển, thuận theo
chân lý. Lời của ma trái lẽ phải, không đúng với kinh Phật đã chỉ dạy.
5. Khi thắng tướng hiện ra, muốn khảo nghiệm, hành giả chỉ chánh ý
tụng Bát Nhã Tâm Kinh, hoặc nhiếp tâm trì chú, niệm Phật. Nếu là thánh cảnh,
càng niệm lại càng rõ ràng, vì vàng thật không sợ lửa. Nếu là ma cảnh, trì niệm
một hồi nó liền ẩn mất, bởi tà không thể lấn chánh.
* Phải lấy cả năm điều như trên để xét nghiệm, chớ không thể chỉ
một hai điều. Vì có những thiên ma hoặc thần tiên theo ngoại phái, muốn dắt dẫn
ta hướng về đường lối của họ, nên giả hiện tướng Phật, Bồ Tát để thuyết pháp.
Tuy môn tu của họ không phải là con đường cứu cánh giải thoát, song họ có
nghiệp lành, hoặc sức Thiền Ðịnh khá cao, nên hào quang phát ra cũng làm cho ta
được mát mẻ êm dịu. Lại lối thuyết pháp của họ đôi khi cũng khuyên làm lành giữ
giới, ăn chay niệm Phật, song có một vài điểm sai khác không hợp với kinh Phật,
phải nhận định kỹ và phải hiểu giáo lý mới biết được. Chẳng hạn như họ cũng
khuyên ăn chay niệm Phật, nhưng lại dạy phải vận hành câu niệm Phật khắp châu
thân gọi là "chuyển pháp luân" để khai thông mạch Nhâm, Đốc, và mở Nê
Hoàn Cung. Đây là lối thuyết pháp của hàng ma ngoại đạo. Hoặc có loài ma hiện
ra tướng cao tăng bảo: "Phật đồng, Phật xi măng không độ được nước, vì
xuống nước phải chìm; Phật tượng, Phật gỗ không độ được lửa, vì gặp lửa phải bị
cháy; chỉ có Phật tâm mới không bị vật chi làm hoại. Tu được Phật tâm thanh
tịnh thì không cần tu thân và khẩu; cho nên dù ăn thịt uống rượu, có vợ con
cũng vô hại. Lối tu thân và khẩu như giữ giới, ăn chay, tụng kinh, trì chú,
niệm Phật, là những cách khổ hạnh bó buộc vô ích." Đây là lời thuyết pháp
của hạng tinh mị lâu năm, hoặc loài ma ái dục. Có những hạng ma ngoại đạo công
năng tu khá cao, có thể dùng sức Thiền Ðịnh gia bị, khiến cho hành giả thân tâm
được an định trong vòng bảy ngày, hoặc hai mươi mốt ngày. Nhưng lối thuyết pháp
của họ không siêu thoát, kết cuộc chỉ trong vòng ngã chấp.
* Cổ đức đã bảo: "Thấy ma không ma, ma liền tự hoại; thấy
quái không quái, quái liền tự bại." Câu này có nghĩa: nếu thấy ma quái mà
lòng không xao động sợ hãi, giữ chánh niệm được vững vàng, hoặc chí tâm niệm
Phật, loài ma quái ấy không làm chi được, sẽ tự bỏ đi. Chẳng những khi thấy ma
quái phải như thế, mà dù cho lúc tu hành được một phần kết quả, hay thấy thắng
tướng, cũng đừng nên quá bi cảm, kinh ngạc hoặc vui mừng. Ví như ta có hạt châu
làm rớt dưới đáy hồ, vì nước đục nên dò kiếm mãi vẫn mất tích. Nay nước lắng
trong lại tìm thấy được, hạt châu ấy nguyên là của đã có, việc chi đến đỗi phải
kinh ngạc, vui mừng? Người tu nếu tâm không bình tĩnh, quá bi thương, tất bị
loài bi ma ám nhập làm cho thương khóc mãi chẳng thôi. Như quá vui mừng, cũng
bị loài ma hoan hỷ ám nhập, làm cho cười mãi như điên cuồng. Lại, hành giả niệm
Phật tuy cũng mong được thấy thánh cảnh, nhưng đừng quá mơ tưởng ước ao, bởi
niệm tức là đã cầu rồi. Nên giữ tâm trạng điềm tĩnh, "cầu mà không cầu,
không cầu mà cầu", mới không bị sự cầu mong làm xao động. Cứ chí tâm niệm
Phật, lâu ngày niệm lực thanh tịnh đạo cảm ứng giao thông, tất thấy được thánh
cảnh. Nếu mãi để lòng mong ước, đó tức là vọng tưởng, ma sẽ thừa cơ len lỏi vào
để phá hoại.
* Vào khoảng Thanh mạt bước sang thời Dân Quốc, ở Trung Hoa có ông
Ngụy Tịch Phủ vốn là thiền hữu của cư sĩ Dương Nhân Sơn, Ngụy Tịch Phủ tu tập
Thiền Ðịnh gần ba mươi năm, một hôm bỗng được Thiên Nhãn Thông. Ban sơ, ông
thấy những vật ngoài tường vách, kế lại thấy rõ những việc xung quanh vài ngoài
mươi dặm như ở trước mắt. Biết mình đã đắc Thiên Nhãn, ông rất kinh ngạc vui
mừng! Ban đầu chỉ thấy thôi, sau lại nghe rõ cả tiếng người và cầm thú ở ngoài
xa. Đó là Thiên Nhĩ Thông tùy theo phát hiện. Lần hồi những sự vật ngoài mấy
ngàn dặm, cũng đều thấy nghe được. Sau đó những việc chưa phát hiện, ông vẫn
thấy nghe và hiểu biết rõ ràng. Đây là cảnh chứng của Túc Mạng Thông. Bấy giờ
phe đảng của Hồng Tú Toàn thuộc nhóm Thái Bình Thiên Quốc chưa khởi sự đánh
Thanh triều, nhưng Ngụy Tịch Phủ đã thấy trước chiến cuộc xảy ra ở Quảng Tây
lần hồi đến Tô Châu, nhơn dân chết vô số. Bởi mục kích nhiều trạng thái chết
chóc rất thê thảm, ông quá xúc động, gặp ai cũng thương khóc bảo: "Đại
loạn sắp đến nơi rồi, dân chúng sẽ bị tàn lục khổ sở đáng thương xót, biết làm
sao?" Lúc đó mọi người nghe ông nói thế, ai cũng cho là điên. Cư sĩ Dương
Nhân Sơn bấy giờ ở kinh sư thường gần gũi ông, nên biết rõ việc ấy. Kế đó giặc
xảy ra thật. Đến khi loạn bình rồi, Dương Nhân Sơn cư sĩ gặp Ngụy Tịch Phủ ở
Dương Châu mấy lần, thấy ông vẫn còn khóc lóc. Sau Nhân Sơn gặp cư sĩ Đinh
Phước Bảo, trần thuật lại sự việc và nói: "Đó là cảnh bi ma ám nhập. Phàm
người tu đến lúc đắc lực, Thiên Nhãn Thông ngẫu nhiên phát hiện, nên soi về tự
tánh, đừng để cho sắc trần làm lay chuyển. Nên biết các thần thông ta vẫn sẵn
có, không nên quá mừng rỡ kinh ngạc cho là sự lạ kỳ."
* Trong Trúc Song Tùy Bút Lục, Liên Trì đại sư có thuật lại câu
chuyện:
- Một thiền sư cất am tu gần khe suối. Đêm nọ đang lúc tĩnh tọa,
sư nghe thấy hai con quỷ ngồi bên bờ suối nói với nhau rằng: "Ngày mai vào
lúc xế chiều, có người đội mão sắt đi qua cầu suối này, tôi sẽ dìm cho chết đắm
để thay thế." Con quỷ kia bảo: "Mừng giùm anh sẽ được thoát ly, tôi
còn phải chịu lạnh lẽo chờ đến hai năm sau mới có người thế mạng." Thiền
sư nghe xong lưu ý. Trưa hôm sau, một trận mưa to đổ xuống, nước dâng ngập cả
suối cầu. Xế lại mưa còn lâm râm, quả nhiên có người đầu đội cái chảo gang, lần
dò muốn vượt qua cầu suối về nhà. Sư liền đón lại thuật rõ sự việc nghe thấy.
Người này cả kinh quay trở lại. Tối hôm đó, thiền giả nghe con quỷ nói:
"Sắp được thoát ly mà bị ông thầy tu này phá hoại, đêm nay tôi phải báo
thù mới được!" Sư nghe xong, liền nhiếp tâm nhập chánh định, thấy quỷ ra
vào và đi xung quanh am mấy lượt như có ý tìm kiếm. Do sức chánh định, quỷ tìm
mãi không thấy được thiền sư, sau cùng chán nản bỏ đi.
Trên đây là hai câu chuyện "bi ma" và "khước
ma". Xin ghi lại cho chư liên hữu thêm phần ý thức trên đường tu niệm.
Tiết 52 Các Loại Ma
Ba tiết Nội Cảnh Giới, Ngoại Cảnh Giới, Biện Ma Cảnh vừa viết
xong, có một liên hữu đến thăm thấy bút giả đang duyệt xem lại, liền xin đọc
cho nghe. Sau khi nghe qua, vị này yêu cầu nói rõ thêm về các loại ma để những
bạn đồng tu biết mà phòng ngừa. Thật ra, trong ba tiết trên đã nói khái quát về
các cảnh giới, trong ấy có ma cảnh; nếu hành giả nắm được cương yếu, tự có thể
giữ vững tâm và đối trị với mọi cảnh duyên phá hoại. Nhưng thể theo lời yêu cầu
đó, nhân tiện cũng xin trình bày tổng quát về các loại ma như sau:
"Ma" tiếng Phạn gọi Ma La, Trung Hoa dịch là Sát, bởi nó
hay cướp của công đức, giết hại mạng sống trí huệ của người tu. "Ma"
cũng chỉ cho những duyên phá hoại làm hành giả thối đạo tâm, cuồng loạn mất
chánh niệm, hoặc sanh tà kiến làm điều ác rồi kết cuộc bị sa đọa. Những việc
phát sanh công đức trí huệ, đưa loài hữu tình đến Niết Bàn, gọi là Phật sự. Các
điều phá hoại căn lành, khiến cho chúng sanh chịu khổ đọa trong vòng sống chết
luân hồi, là Ma sự. Người tu càng lâu, đạo càng cao, mới thấy rõ việc ma càng
hung hiểm cường thạnh. Ma tuy nhiều, nhưng kết yếu chỉ có ba loại là: Phiền Não
Ma, Ngoại Ma và Thiên Ma.
* Phiền Não Ma chỉ cho các phiền não tham nhiễm, hờn giận, si, mê,
khinh mạn, nghi ngờ, ác kiến; cho đến các thứ ma: năm ấm, sáu nhập, mười hai
xứ, mười tám giới. Loại ma này cũng gọi là Nội ma, do lòng mê muội điên đảo sanh
ra, nên phải dùng tâm chân chánh sáng suốt giác ngộ mà giải trừ. Phàm phu tự
mình đã có những nghiệp riêng, lại do công nghiệp sống chung trong khung cảnh,
mà người xung quanh phần nhiều tánh tình hiểm ác, nghiệp chướng lẫy lừng, nên
dễ động sanh phiền não. Có kẻ không chịu đựng nổi sự lôi cuốn của ngũ trần, nên
bị sa ngã. Có người vì nghịch cảnh, khiến cho bi thương sầu não, chí tiến thủ
tiêu tan. Những sự việc này xui khiến người tu nhẹ thì ưu sầu, uất ức sanh đau
bịnh; nặng thì chán nản bỏ đạo, hoặc phẫn chí tự tận; nguy hại hơn nữa, tất đến
chỗ đối với hàng xuất gia, tại gia đều mất hết mỹ cảm, tránh xa chán ghét, sanh
việc khinh rẻ, chê bai, không tin nhân quả, làm điều ác rồi phải đọa tam đồ.
Muốn đối trị thứ ma này, hành giả phải quán xét phiền não là hư
huyễn, xao động, nóng bức, trói buộc, tối tăm, chỉ làm khổ cho người và mình.
Dứt phiền não, ta sẽ trở về chân tâm tự tại giải thoát, mát lặng sáng trong, an
vui mầu nhiệm. Đối với sự mê chấp từ năm ấm cho đến mười tám giới cũng nên quán
như thế. Trong Kinh Pháp Hoa, đức Phật bảo: "Các ngươi chớ nên tham đắm
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thô tệ. Nếu mê đắm tham trước, tất bị nó thiêu
đốt." Khi xưa đức Văn Thù hỏi một vị thiên nữ: "Ngươi xem mười tám
giới như thế nào?" Thiên nữ đáp: "Như thấy kiếp lửa đốt thế
gian!" Đây là những lời cảnh giác để phá trừ loại ma phiền não.
Phiền Não Ma hay Nội Ma, nếu không chế phục được, tất sẽ chiêu cảm
đến Ngoại Ma ở ngoài đến phá. Lời xưa nói: "Trong cửa có tiểu nhơn, ngoài
cửa tiểu nhơn đến. Trong cửa có quân tử, ngoài cửa quân tử đến." Lại như
khi ăn trộm đào ngách muốn vào nhà, gia chủ hay được tỏ ra bình tĩnh răn trách,
tất nó phải sợ hãi bỏ đi. Nếu chủ nhà kinh sợ, rối rít năn nỉ, đó chính là thái
độ khuyên rước trộm vào nhà vậy.
* Ngoại Ma là những loài quỷ thần, yêu mị bên ngoài. Người tu khi
có đôi chút công phu, liền bị nó đến thử thách phá khuấy. Loài này có thể chia
thành ba hạng là: Bố Ma, Ái Ma và Não Ma.
1. Bố Ma là loài ma ưa khủng bố làm cho người kinh sợ. Thứ ma này
thường hóa hình cọp, sói, rắn, rít, hoặc các loài thú hung dữ kỳ lạ, hay hình
ác quỷ ghê rợn để dọa nhát người tu. Những hình tướng này biến huyễn vô cùng,
hoặc không đầu, nhiều đầu, nhiều tay, nhiều mắt; hoặc mình người đầu thú, mình
thú đầu người, hoặc cầm khí giới, hoặc phun lửa đỏ. Nếu hành giả kinh hãi, liền
bị nó phá làm mất chánh niệm, lắm khi sanh điên cuồng. Gặp cảnh này, nên nghĩ
các tướng đều giả dối, ma chỉ có thể hủy diệt huyễn thân chớ không thể phá hoại
được chân tâm. Suy xét như thế rồi liền bình tĩnh không sợ chết, an nhiên
chuyên tâm niệm Phật hoặc trì chú, nó sẽ tự rút lui.
2. Ái Ma là loài ma khích động lòng ái dục cho đến tâm tham nhiễm
cảnh ngũ trần. Chúng hóa hình nam, nữ lõa lồ xinh đẹp; hoặc hình cha mẹ, anh
em, kẻ thân mến; cho đến thân Phật, Bồ Tát tướng tốt trang nghiêm để khuyến dụ.
Nếu người thích ăn ngon, chúng hóa sơn hào, hải vị hương thơm ngào ngạt đem
dâng; người ưa bảo vật, chúng hiện hình thú lạ ngậm châu ngọc đến hiến tặng.
Tùy tâm niệm hành giả ưa thích điều chi, nó liền hiện ra thứ ấy. Chúng có thể dùng
ma lực khiến cho người tu được tà định, tà trí, tài biện thuyết, phép thần
thông biết quá khứ, vị lai. Những kẻ không hiểu cho là đã chứng đạo quả, thảy
đều tin phục; song kỳ thật người kia trong tâm điên đảo, chuyên làm phép quỷ mê
hoặc thế gian.
Có một nhà sư Việt Nam tu tại chùa Bàng Long bên Lào, trong khi
Thiền Ðịnh thấy một nhóm mỹ nữ lõa lồ, nắm tay nhau nhảy múa. Sư trấn định tâm
không nổi, liền thành khẩn niệm Phật, tướng ấy mới tan.
Khi xưa, ở chùa núi Chung Nam tại Trung Hoa, có một vị sư đang
tham thiền, nhân khi trời lạnh bụng đói, động niệm tưởng ăn; bỗng thấy một
thiếu phụ bưng thức ăn đến cúng dường. Thiếu phụ quì sớt đồ ăn vào bát, thỉnh
sư nên dùng liền kẻo nguội lạnh, mất ngon. Sư vì đói muốn thọ dụng ngay, nhưng
nghĩ chưa đến giờ thọ trai, nên nhẫn nại bảo hãy tạm để một bên, chờ đúng giờ
rồi sẽ ăn. Thiếu phụ nghe nói, có vẻ hờn giận bỏ đi. Giây lâu sau đúng ngọ, sư
giở bát ra thấy trong ấy toàn là giòi bò lúc nhúc. Chừng ấy ông mới tỉnh ngộ,
biết vừa động sanh vọng niệm, liền rước lấy cảnh ma; may nhờ có chút định lực
mới khỏi ăn đồ dơ và phạm giới sát.
Lại một vị sư cũng tu Thiền trong non, thấy mình lẻ loi cô quạnh,
nên sanh vọng tưởng muốn được một ít người cùng ở cho vui. Vừa đâu có bà lão
dẫn hai cô gái trẻ đẹp, bảo nhà ở dưới làng chân núi, tìm đến am tranh cầu xin
dạy đạo. Vị tăng ban sơ không nghi ngờ, liền thuyết pháp khai thị. Tới lui như
thế lâu ngày, một hôm bà lão thưa bạch xin cho hai cô gái làm thị giả lo việc
giặt giũ, cơm nước để sư đỡ nhọc. Sư nghe nói thoáng sanh lòng ngờ lạ, liền
nghiêm trách từ chối. Ba người đó có vẻ hờn thẹn bỏ đi. Sư lén theo dõi, qua
một khúc quanh bỗng chợt mất bóng, đến xem thì đã cùng đường, lại không có nhà
cửa chi cả, chỉ thấy ba gốc cổ thụ, một to, hai nhỏ. Ông suy nghĩ biết đây là
yêu tinh cổ thụ làm quái; muốn đem búa chặt đốn hoặc nổi lửa thiêu đốt để dứt
trừ hậu hoạn. Vừa nghĩ đến đó bỗng thấy ba người hiện ra cầu sám hối và xin tha
mạng.
Thế nên biết, tâm yên cảnh lặng, vọng khởi ma sanh, người tu phải
ghi nhớ điều này.
3. Não Ma là loại ma chuyên phá rối, làm não loạn người tu. Có
giống tinh mị mỗi loài đến theo giờ của nó, đại khái mỗi giờ có ba loài, mười
hai giờ thành ba mươi sáu loại tinh thú. Như giờ Dần đến, tất là loài cọp, beo,
gấu; giờ Mẽo đến là loài mèo, thỏ, cáo; giờ Thìn đến là loài rồng, cá, thuồng
luồng... Theo trong Tọa Thiền Chỉ Quán có thứ quỷ Du Lạp Kiết Chi, Trung Hoa
gọi là Đôi Dịch, đầu mặt như cây đàn tỳ bà, bốn mắt, hai miệng, thường ưa khuấy
động phá rối người tu. Chúng chờ khi người đang tụng niệm, hóa ra loài sâu
trùng, hoặc bò lên khắp đầu mặt; hoặc chun vào miệng, lỗ mũi, mắt, lỗ tai; hoặc
chui vào nách, bụng của hành giả mà cắn, chích. Đôi khi chúng kêu vang vào lỗ
tai, làm thành tiếng ồn náo, nhức óc; hoặc chợt ôm giữ người, quơ tìm thì không
đụng thấy. Chúng còn hóa ra cảnh ngũ trần hoặc thuận, hoặc nghịch, hoặc không
thuận nghịch, biến huyễn khôn lường, làm cho hành giả loạn động chẳng biết đâu
mà nhận thức, dễ mất định tâm. Muốn đối trị với ba mươi sáu loài tinh thú, cứ
theo giờ kêu tên của nó mà quở trách; với ma Đôi Dịch, nên tụng Tam Quy, Ngũ
Giới hoặc giới bổn, bởi chúng là thứ quỷ phạm tội phá giới. Làm như thế chúng
liền ẩn mất. Hoặc cách đối trị tổng quát là nên nhiếp tâm vào chánh định, hay
chuyên chí trì chú, niệm Phật, chúng sẽ biến tan.
Gặp cảnh ma chướng quá nhiều, người xưa còn có phương pháp là sắm
hai mặt gương soi, rồi nhập thất bốn mươi chín ngày, chuyên tụng chú Đại Bi
hoặc chú Chuẩn Đề gia trì vào trong gương. Xong, treo hai tấm gương trên cao
chiếu nghiêng xuống nơi chỗ thường ngồi trì niệm, một để trước mặt, một ở sau
lưng. Nếu loài ma đến liền bị thâu bắt hiện hình vào gương, chừng ấy hành giả
muốn đuổi đi hay hành phạt gì tùy ý. Gương phép này lâu lâu phải dùng vải sạch
lau chùi và gia trì thần chú một lần. Làm như thế nó chẳng những nhắc nhở cho
sự trong sáng của tâm linh, mà còn tăng thêm phần ứng nghiệm. Đây là cách dùng
gương để đối trị nội ma và ngoại ma theo kinh nghiệm của tiền nhơn.
Để nói rộng thêm, Ngoại Ma còn là những ma về bàng môn ngoại đạo.
Theo chỗ nhận thấy của bút giả cùng nhiều đồng bạn, những vị kiếp trước hoặc
kiếp này đã tu theo ngoại đạo, sau trở lại quy đầu Phật pháp; hoặc những vị tuy
chỉ nương về Tam Bảo, nhưng xưa kia ông bà cha mẹ đều theo bàng môn, thường hay
bị ngoại ma phá rối. Bởi lối tu của ngoại đạo đều không rời phiền não hữu lậu,
còn trong vòng tự cao chấp ngã, tham đắm quyền danh, nên hàng ngoại đạo hay quy
tụ bè phái, không muốn cho người có ít nhiều liên hệ với phe mình tu theo đạo
khác. Bút giả có người bạn xuất gia, tánh nhu hòa hiền hậu, nhưng khi tu hành
bị ngoại ma theo phá mãi. Tiếc vì ông bạn này còn vương hạt giống ngoại đạo,
không chí tâm dùng Phật pháp đối trị với tà pháp. Trong lúc cùng quẫn vì ma
phá, thầy đi nhiều nơi tìm sự cứu độ với các người tu theo ngoại phái. Kết cuộc
thầy lạc hẳn về ngoại đạo, bề ngoài là hình thức tăng già, nhưng bên trong lại
chuyên tu về luyện điển, bác phá sự lễ Phật tụng kinh, cho là chấp tướng.
Lại có một nữ Phật tử, tánh tình rất tốt, song thường lâm cảnh
ngoại ma quấy nhiễu. Một độ nọ, trong lúc đang tu, cô bị ma ngoại đạo vây khổn,
và nghe tiếng nói: "Ông cha mi đều là người tu theo phái Ngũ Hành của
chúng ta, sao mi không trở về gốc cũ, lại đi theo đạo Phật?" Cô kinh hãi
chí tâm niệm Phật, mỗi câu niệm Phật thấy có một làn ánh sáng phát ra che phủ
thân mình, bọn ma không làm chi được. Chúng tức giận bảo: "Mi đừng cậy có
phép Phật mà tự đắc tự kiêu, sẽ có người trưởng thượng của chúng ta đến đây cho
mi biết thủ đoạn!" Nói xong, chúng liền rút lui. Khi ấy cô bỗng nghe tiếng
một vị thiện thần bảo: "Bọn chúng ganh hờn vì cô quy y Tam Bảo, không theo
đạo ông cha mà thờ cúng chúng nó. Ngay bây giờ cả hai tay cô nên kiết ấn Kim
Cang quyền, bấm ngón tay cái vào lóng gốc ngón áp út và nắm chặt lại. Cứ giữ y
như thế rồi thành tâm trì chú hoặc niệm Phật mãi, vì giây lát sẽ có người lớn
của bọn chúng đến đây, dùng phép ngũ lôi đánh và bắt hồn cô. Vây cánh chúng rất
đông, tôi chỉ giúp đỡ phần nào thôi, bởi cô thế không làm sao xua đuổi bọn nó
nổi. Sức của cô cũng chỉ có hạn, sợ e lâu ngày chẳng kham chống trả, tốt hơn nên
vào chùa tu mới tránh khỏi nạn." Cô liền y theo lời dặn, nắm tay lại kiết
ấn và trì chú Đại Bi. Giây lát bỗng nghe tiếng ồn ào đông đảo, rồi có một làn
chớp từ trên đánh xuống nặng nề như búa bổ, nóng rát, rêm nhức cả đầu. Cô liền
buông bỏ tất cả ý niệm, liều mạng chí tâm trì chú, không còn biết cảnh giới bên
ngoài ra sao, giây lâu nghe xung quanh lặng lẽ, thân tâm trở lại trong trạng
thái yên ổn bình thường.
Sau đó, cô nương vào chùa, nhưng vì còn bà thân già hay đau yếu
không ai săn sóc, nên bắt buộc phải về nhà lo phần sanh kế để phụng dưỡng. Một
khoảng thời gian cách xa không gặp lại, bút giả nghe tin cô hay nói chuyện hư
huyền, và xướng ra làm bịnh, biết cô chống không nổi nên đã bị ma ám nhập, chỉ
riêng thầm thương xót thở than! Cho nên những vị trước kia có liên hệ với ngoại
phái sau trở về tu Phật, nên nhìn gương trên mà lưu tâm cẩn thận.
* Thiên Ma là loại ma ở cõi Tha Hóa Tự Tại, thuộc tầng thứ sáu của
trời Lục Dục. Loại ma này có phước báo, hưởng sự vui mầu nhiệm cao tột của ngũ
trần, cho đó là cảnh khoái lạc tuyệt đối, nắm quyền hạn về dục nhiễm, không
muốn ai thoát khỏi phạm vi ấy. Khi hành giả đạt đến mức tu khá cao, tâm quang
phát lộ, ánh sáng chiếu thấu lên cõi trời Tha Hóa làm cho cung điện ma rung
động, chúng liền phát giác và vì sợ e cho có người giải thoát, quyến thuộc mình
sẽ bị giảm bớt đi, nên tìm cách phá hoại. Chúng hiện ra nhiều cảnh, hoặc hăm
dọa, hoặc khuyến dụ, hoặc giúp cho sức tà định, tà trí cùng thần thông cốt để
gạt gẫm; lại thay phiên nhau rình rập không giây phút nào xa rời để chờ cơ hội
thuận tiện. Nếu hành giả có một niệm sơ hở, liền bị chúng ám nhập, xúi giục làm
những điều trái đạo đức, đời tu kể như đã hư tàn. Trong Luận Khởi Tín, Mã Minh
Đại Sĩ từng khuyên dạy:
"Trong khi hành giả tịnh tu, thường bị các thiên ma, ngoại đạo,
hoặc quỷ thần làm não loạn. Chúng hiện các hình tướng ghê rợn để khủng bố, hoặc
tướng nam nữ xinh đẹp mong quyến rũ. Có khi chúng hiện thân Phật, Bồ Tát hay
chư Thiên đủ các tướng tốt trang nghiêm; hoặc nói các môn Đà Ra Ni; hoặc nói
pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ; hoặc nói các
pháp bình đẳng, không, vô tướng, vô nguyện, khen ngợi cảnh không oán không
thân, không nhân không quả, cứu cánh rỗng không vắng lặng, bảo đó là chân Niết
Bàn... Hoặc chúng làm cho hành giả biết đời trước của mình, suốt việc quá khứ
vị lai (túc mạng thông), thấu rõ tâm niệm mọi người (tha tâm thông), cho đến
được biện tài vô ngại. Chúng khiến người tu tham luyến danh lợi thế gian, tánh
tình thất thường, hay giận, hay cười, ưa ngủ, nhiều bịnh, dễ xót thương xúc
cảm, có khi rất tinh tấn, lắm lúc lại trễ nãi biếng lười. Hoặc chúng xui hành
giả sanh tâm nghi ngờ không tin, nhiều lo nghĩ, bỏ pháp tu căn bản trở lại tu
các tạp hạnh, đắm nhiễm những việc triền phược ở thế gian. Hoặc chúng làm cho
hành giả được một ít phần tương tợ như Tam Muội, có thể ở trong định từ một
ngày cho đến bảy ngày, thân tâm an vui không biết đói khát; song đó là do sức
tà chứng của ngoại đạo gia bị, không phải thật Tam Muội. Hoặc lại khiến cho
hành giả ăn uống không chừng độ, khi nhiều khi ít, sắc mặt biến đổi luôn. Khi
gặp những cảnh như trên, người tu phải dùng trí huệ quán sát, gắng giữ chánh
niệm, đừng sanh tâm chấp trước mà lạc vào lưới tà. Phải kiên trì như thế mới xa
lìa được ma chướng."
* Kết lại, nếu nói ước lược hơn, chỉ có Nội ma và Ngoại ma; Thiên
ma cũng nhiếp thuộc về loài Ngoại ma. Nhưng sở dĩ lập Thiên ma thành một loại
riêng, là vì muốn cho hành giả lưu ý đến sự phá hoại nguy hiểm tinh vi của nó.
Ngoài Phiền não ma, Ngoại ma, Thiên ma như trên, trong kinh còn có nói Bịnh ma
và Tử ma. Bởi cơn đau bịnh thường làm cho hành giả tiêu giảm công phu, lại tu
chưa đến đâu rồi chết có thể khiến người thối thất đạo quả, nên mới gọi là
"ma". Nhưng Bịnh ma và Tử ma, đại ý chỉ cho sự chướng ngại của bịnh
và chết thuộc thân tứ đại trên đường tu, không có tính cách phá hoại khuấy rối
để giết hại đạo tâm theo nghĩa "ma" chân thật. Vì thế nên đây lược
qua không đề cập đến.
Sức tu của người thời nay, phần nhiều bị Phiền Não ma hoặc Ngoại
ma phá hoại, chưa đủ để cho Thiên ma phải ra tay. Loại ma này chỉ đến với những
vị tu cao. Nếu Thiên ma quyết phá, những vị sức tu tầm thường khó có hy vọng
thoát khỏi. Trong Kinh Lăng Nghiêm, vì thương đường tu nhiều hiểm nạn, đức Phật
khuyên các hành giả tham thiền nên kiêm trì mật chú, để được nhờ thần lực gia
hộ, thoát khỏi nạn ma thành tựu chánh định. Ấn Quang đại sư đã bảo: "Mới
xem qua, dường như Kinh Lăng Nghiêm khác quan điểm với Tịnh Độ, nhưng xét nghĩ
sâu mới thấy kinh này trong vô hình đã khen ngợi tuyên dương Tịnh Độ. Tại sao
thế? Bởi bậc đã chứng đệ tam thánh quả A Na Hàm, còn có thể bị ma cảnh làm cho
thối đọa; thì sự niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ càng nổi bật thêm tánh cách trọng
yếu, trong ánh sáng nhiếp hộ của đức A Di Đà không còn nạn ma."
Cho nên xét luận trên đường hành đạo, khi chưa được sanh về Cực
Lạc, thì tu Tịnh Độ cũng có thể bị ma chướng. Song phần nhiều đó là do hành giả
không hiểu giáo lý, chẳng khéo trị tâm, để Nội ma phát khởi khiến chiêu cảm
Ngoại ma đến phá hoại. Nếu giữ được tâm bình tĩnh, thì với oai lực công đức của
câu hồng danh, ngoại ma không làm chi được, và phiền não cũng lần lần tiêu trừ.
Vì thế người tu Tịnh Độ, ma cảnh nếu có cũng là phần ít. Trái lại, người tu
thiền ma cảnh hiện nhiều, bởi chỉ nương vào tự lực. Bậc Thiền Sĩ phải đủ năm
điều kiện sau đây, mới mong đường tu được thành tựu: Một, là giới hạnh tinh
nghiêm; hai, căn tánh lẹ làng suốt sáng; thứ ba, phải hiểu rõ đạo lý, khéo phân
biệt tướng chánh, tà, chân, vọng; bốn, ý chí mạnh mẽ vững bền, và năm, là phải
nương bậc thiện tri thức thông kinh điển, đã có kinh nghiệm tu thiền nhiều năm,
để nhờ sự hướng dẫn. Nếu thiếu năm điều kiện đó tất dễ bị ma nạn. Tiên đức đã
bảo: "Khô mộc đường tiền thác lộ đa!" Câu này ý nói: trong cơ Thiền
có rất nhiều duyên lạc lối. Vì thế tu thiền muốn được thành tựu, phải là bậc
lợi trí thượng căn. Bậc tôn túc tông Thiền khi xưa, lúc truyền pháp cũng căn
dặn: "Phi bậc thượng thượng căn. Đừng dễ dàng hứa nhận" (Phi thượng
thượng căn. Thận vật khinh hứa). Lời nói này đủ chứng minh cho điều nhận xét
trên.
Trong Luận Khởi Tín, sau khi kết hợp tổng quát về tinh yếu của
pháp Đại Thừa, và trình bày xong đường lối tu tập, Mã Minh Bồ Tát lại bảo:
"Cõi Ta Bà phiền não cang cường, chánh tín khó vững, không thường được gặp
Phật nghe pháp, đường tu nhiều hiểm nạn chướng duyên. Nên biết Như Lai có
phương tiện thù thắng, dạy cầu sanh về cõi Tịnh Độ ở tha phương. Như trong Khế
kinh nói: Nếu chuyên tâm niệm Phật A Di Đà đem công đức tu hồi hướng cầu sanh
Tây Phương, thì sẽ được về thế giới Cực Lạc, thường thấy Phật nghe pháp, không
còn thối chuyển. Nếu hành giả y theo đường lối này tu tập, quyết định sẽ được
vào chánh định tụ."
Như trên, ta thấy chuyên tâm niệm Phật là phương tiện mầu nhiệm để
thoát khỏi nạn ma, mau thành tựu chánh định.
Chương
VIII: Đệ Bát Yếu
Niệm Phật Phải Bền Lâu Không Gián Đoạn
Niệm Phật Phải Bền Lâu Không Gián Đoạn
Khải Đề:
Nắng lại
mưa qua
Chìm nổi vui buồn
Phù thế thương lưu lạc!
Nhớ thuở còn thơ
Cổ thụ bên nhà
Cùng trẻ nô đùa hát.
Rồi hỏi Hoàng Mai
Tìm lối Liên Hoa
Tóc xanh vừa điểm bạc.
Một nén tâm hương
Một chí Tây Phương
Chờ lắng bên trời nghe tiếng nhạc!
Thân người dễ mất
Pháp Phật khó nghe
Tinh tấn khuyên lên đường giải thoát.
Niệm không phải khó
Khó tại bền lâu
Khẩn nguyện cùng sanh về Cực Lạc.
Bền lâu không khó
Khó ở nhứt tâm
Sẽ thấy hoa sen lầu các!
Chìm nổi vui buồn
Phù thế thương lưu lạc!
Nhớ thuở còn thơ
Cổ thụ bên nhà
Cùng trẻ nô đùa hát.
Rồi hỏi Hoàng Mai
Tìm lối Liên Hoa
Tóc xanh vừa điểm bạc.
Một nén tâm hương
Một chí Tây Phương
Chờ lắng bên trời nghe tiếng nhạc!
Thân người dễ mất
Pháp Phật khó nghe
Tinh tấn khuyên lên đường giải thoát.
Niệm không phải khó
Khó tại bền lâu
Khẩn nguyện cùng sanh về Cực Lạc.
Bền lâu không khó
Khó ở nhứt tâm
Sẽ thấy hoa sen lầu các!
Mục A. Yếu Điểm Của Môn Tịnh Độ
Tiết 53 Phải Nhớ Chí Nguyện Để Tinh Tấn
Niệm Phật muốn giữ cho được tinh tấn bền lâu, phải có lập trường
vững chắc. Lập trường đó là: nhớ đến mục đích tu hành của mình. Ví như hàng
nông phu, vì mục đích có được lúa hay hoa mầu nhiều để nuôi sống gia đình, nên
chịu cực nhọc dãi nắng dầm mưa, cày sâu cuốc bẩm. Hàng sĩ tử vì mục đích thi đỗ
cao, để mẹ cha đẹp mặt, vinh hiển với đời, phải thức khuya dậy sớm siêng năng
học hành, dù mỏi mệt cũng không nản chí. Người tu cũng thế, công hạnh ngày nay
là để đi đến mục đích giải thoát tự độ độ tha ngày sau. Triệt Ngộ đại sư, một
bậc thạc đức suốt thông cả Giáo lẫn Tông, đã đưa ra mười sáu chữ, có thể gọi là
cương yếu của môn Tịnh Độ. Mười sáu chữ ấy như sau: "Vì sự sanh tử, phát
lòng Bồ Ðề, lấy tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật." Chúng ta ở trong nẻo
luân hồi bị nhiều nỗi khổ, nên phải kíp cầu thoát vòng sanh tử. Vấn đề khẩn yếu
này, trước đã có nói lược qua. Nhưng giải thoát riêng cho mình cũng hãy còn
thấp hẹp; cần phải phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, để độ mình và chúng sanh
đến nơi giải thoát cứu cánh. Khi xưa đức Thích Ca nói pháp bốn mươi chín năm,
đàm kinh hơn ba trăm hội, cũng không ngoài tiêu điểm này. Đã vì sự sanh tử phát
lòng Bồ Đề rồi, đường lối dễ dàng không hiểm nạn để đưa chúng ta mau đến mục
tiêu ấy, không chi hơn "lấy tín nguyện sâu, trì danh hiệu Phật."
Kẻ chưa biết đạo lý cũng đành thôi. Người đã biết đạo lý này, mà
không cố gắng dụng công tu hành, há chẳng phụ ân lớn của Phật, và để uổng mai
một tánh linh của mình lắm ư! Cho nên chúng ta phải gia công tinh tấn niệm Phật
bền lâu, chớ dần dà gián đoạn. Cổ nhơn đã bảo:
Thân này
chẳng tính đời nay độ.
Còn đợi khi nào mới độ thân?
Còn đợi khi nào mới độ thân?
Nếu hẹn kiếp sau sẽ tu, có khác chi người mê nói chuyện mộng? Về
phương diện thế gian, như kẻ vì cầu sắc dục, phải chịu lội trong sương gió lạnh,
băng đồng lướt bụi không kể hiểm nguy, để tìm đến chỗ hẹn hò. Lại như kẻ đánh
cờ đánh bạc, vì say mê cầu thắng, mà bỏ cả ăn ngủ, quên cả nóng bức, rét lạnh,
có khi dám ngồi luôn đôi ba ngày đêm. Hạng tầm thường vì chút thị dục nhỏ mà
còn như thế; người tu vì mục đích cao cả, há lại không bằng những kẻ ấy hay
sao? Cho nên khi tu hành mà còn biếng trễ gián đoạn, còn ngại khó mỏi gian lao,
còn tham vui mê ngủ, là bởi chúng ta chưa giữ vững lập trường, tâm độ mình và
người chưa chí thiết.
Năm tháng qua mau, vô thường không hẹn, thân người dễ mất, pháp
Phật khó nghe; hành giả phải nhớ điểm này, đem hai chữ "khổ" và
"chết" dán ở đôi mày để thường tự sách tấn.
Tiết 54 Pháp Môn Thoát Sanh Tử Trong Một Đời
Khắp mười phương thế giới, đại khái chỉ có hai phân vức: Tịnh Độ
và Uế Độ. Tịnh Độ là các cõi trong sạch trang nghiêm của Phật, một khi sanh về
tất dứt hẳng phân đoạn sanh tử, sẽ lần chứng lên quả thánh. Uế Độ, là các cõi
từ cảnh giới đến thân tâm của chúng sanh đều ô trược, loài hữu tình ở đó còn
phải lên xuống trong sáu nẻo, chịu nỗi khổ luân hồi.
Loài người ở cảnh Ta Bà Uế Độ này, nếu chỉ tu ngũ giới thập thiện
và các điều lành khác mà không niệm Phật, thì cùng Phật vô duyên. Vì không
duyên với Phật, chủng tử vô lậu trong thức thứ tám thiếu cơ năng dẫn phát, nên
dù có tu các nghiệp lành, nhiều lắm cũng chỉ sanh lên cõi trời, không được về
Tịnh Độ. Thọ số ở các cõi trời tuy lâu, nhưng vẫn có hạn lượng, khi phước báo
hết là dứt một đoạn sống chết, rồi tùy nghiệp thọ sanh nơi khác. Nếu như vẫn còn
nghiệp lành thuộc thượng phẩm thập thiện, lại tùy sanh ở các cõi trời thấp hoặc
cao. Nghiệp trung phẩm thập thiện, sanh về cõi người. Nghiệp hạ phẩm thập
thiện, sanh ở cõi A Tu La. Nếu là nghiệp dữ thuộc hạ phẩm thập ác, thì sa xuống
loài bàng sanh. Nghiệp trung phẩm thập ác, sanh ở loài ngạ quỷ. Nghiệp thượng
phẩm thập ác, đọa vào địa ngục.
Chúng sanh do ngã chấp làm gốc, từ nơi đó khởi tạo các nghiệp lành
dữ thuộc sáu đường, nên tùy theo sự thành thục của mỗi loại chủng tử, phải chịu
lên xuống luân hồi. Trong kiếp luân hồi, nghiệp nhiễm dễ tạo, duyên lành khó
tu, nên thời gian đọa xuống ác đạo rất lâu dài, sanh lên thiên đạo rất ngắn ít.
Đức Phật đã than: "Chúng sanh thường lấy ba ác đạo làm quê nhà!" Vì
thế chúng ta có thể đoán định: "Tất cả loài hữu tình, nếu không về Tịnh Độ
của chư Phật, tất phải ở Uế Độ. Đã ở Uế Độ, với hoàn cảnh xấu ác nhiều chướng
duyên, với căn cơ người thời mạt tất sớm muộn cũng phải đọa ác đạo. Và, muốn
sanh về Tịnh Độ của Phật, tất phải niệm Phật."
* Có kẻ gạn hỏi: "Đường lối giải thoát có nhiều môn, hà tất
phải niệm Phật?" Điểm này nếu suy nghiệm sẽ tự hiểu, tuy nhiên cũng xin
phúc đáp cho rõ hơn:
- Khi xưa đức Như Lai tuy diệt độ, nhưng chánh pháp còn thạnh,
chúng sanh nghiệp nhẹ tâm thuần, nên dù tu pháp môn nào, cũng đều có thể thành
tựu. Giảm xuống đến thời Tượng Pháp thì cách Phật đã xa, hoàn cảnh và nhơn tâm
lần lần phức tạp, trăm ngàn người tu hành, hoặc may mới có một hai người đắc
đạo. Huống nay lại đi sâu vào thời mạt pháp, đạo đức suy vi, bậc tu hành chân
chánh còn có ít người, nói chi đến việc chứng quả? Bởi thời nay chúng sanh
chướng nặng tâm tạp, sự sống và lối tổ chức xã hội khó khăn phiền toái hơn xưa.
Lại thêm chiến tranh, đói rách, thiên tai nhơn họa thường thường tiếp diễn,
cảnh khiêu dâm bắn giết được cổ xúy, tôn giáo đạo đức bị xem là trò ma túy,
chuyện lỗi thời. Với nhiều chướng duyên trong và ngoài ảnh hưởng nhau như thế,
nếu tự lực tu hành theo các pháp môn khác, tất nhiên khó bề thành tựu. Vả lại
muốn thoát luân hồi, phải dứt trừ kiến hoặc và tư hoặc. Nhưng theo lời cổ đức:
"Ngăn được kiến hoặc khó như ngăn chận dòng nước mạnh từ bốn mươi dặm xa
chảy lại," huống chi là diệt trừ, và kế đến dứt cả tư hoặc ư? Cho nên
trong thời mạt pháp, muốn được giải thoát, chỉ duy có Niệm Phật pháp môn. Bởi
môn này đã dùng hết tự lực, còn nhờ thêm tha lực, dù nghiệp hoặc chưa dứt, cũng
nhờ sức Phật tiếp dẫn mà được đới nghiệp vãng sanh. Khi đã về Cực Lạc, tất
không còn thối chuyển vĩnh viễn thoát luân hồi.
Đức Thế Tôn là bậc bi trí sâu xa, về căn cơ thời mạt pháp và hiệu
lực của môn Tịnh Độ, Ngài có huyền ký trước nơi Kinh Đại Tập và Vô Lượng Thọ,
như chương thứ nhứt đã nói. Thế thì biết, trong thời mạt pháp, khi hiệu lực
hiện chứng của các tông đều yếu kém, để kéo dài pháp vận và cứu độ chúng sanh,
chỉ duy có môn Niệm Phật. Các tông khác như Thiền, Giáo, Luật, Mật tuy còn lưu
truyền và có nhiều người tu, cũng chỉ ở trong khả năng giáng xuống làm trợ
duyên, chớ không thể riêng rẽ sanh hiệu nghiệm trên đường giải thoát. Trong bức
thơ gởi cho một vị tăng, Ấn Quang đại sư đã nói: "Ở sâu vào thời mạt pháp
này, nếu tu theo các môn khác, nói đến sự gieo căn lành và làm nhân duyên đắc
độ về sau thì có, nói đến sự chứng quả giải thoát trong đời hiện tại thì
không."
Do những điều đã dẫn giải trên đây, ta có thể kết luận: "Ở
vào thời mạt pháp, duy Niệm Phật mới là môn thoát sanh tử trong một đời."
Tiết 55 Niệm Phật Chớ Sợ Cười, Đừng Chờ Hẹn
Có nhiều vị muốn tu học Phật pháp, nhưng lại sợ bị người chê cười
là tiêu cực, hủ bại, mê tín. Do đó khi xem kinh thì lén lút không dám công
nhiên cho người thấy; hoặc có ăn chay, niệm Phật cũng không dám cho ai hay. Nên
biết đạo Phật chẳng những là một tôn giáo, lại là một môn triết học rất cao
thâm, các học giả uyên bác Ðông Tây đã có nhiều vị nghiên cứu và thật hành.
Phật đạo là con đường sáng suốt đưa người từ hung ác đến thiện lương, từ hàng
phàm phu mê mờ đến địa vị thánh nhơn toàn giác. Cho nên người đã có duyên may
tu học Phật pháp, nên mừng cho mình được phước lành, và tùy nghi đem ra khuyên
nhắc kẻ khác làm theo, chớ không chi phải e ngại. Những kẻ chê tu Phật là tiêu
cực, hủ bại, mê tín, chỉ vì họ chưa hiểu biết mà thôi.
Lại trong giới tu học Phật pháp, có những người vừa mới xem qua
các kinh điển cao, đã vội tự phụ cho mình là bậc Đại Thừa hành giả, thấy ai ăn
chay, niệm Phật liền xem là hạng căn cơ thấp kém, chỉ bắt chước theo các ông
già bà cả ngu dốt tối tăm. Nên biết môn Tịnh Độ là pháp Đại Thừa viên đốn. Nói
"Đại Thừa", vì pháp này lấy niệm Phật làm nhân, lấy địa vị Toàn Giác
làm quả. Nói "viên" vì môn này nhiếp tròn cả năm tông tám giáo, như
các bậc cổ đức đã luận phê. Nói "đốn" vì phương tiện này đưa từ hàng
cụ phược phàm phu lên ngôi Bất Thối Chuyển, từ bậc sơ học lên quả Vô Thượng Bồ
Đề rất thẳng tắt mau lẹ. Cho nên pháp môn này sáu phương chư Phật đều khen
ngợi, các vị Bồ Tát như Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ đều phát nguyện
vãng sanh. Xem thường và khinh chê niệm Phật, chẳng những là không hiểu sâu về
Tịnh Độ, mà còn mang lỗi khinh chê chư Phật và các bậc Thánh giả đã nói trên.
Cho nên niệm Phật là chính mình đã thật hành theo pháp môn viên đốn Đại Thừa,
không nên ngại đến sự cười chê của người chưa hiểu biết.
* Muốn cầu giải thoát, đối với sự niệm Phật phải xem là điều rất
khẩn yếu, biết được lúc nào là phải thật hành ngay khi ấy, không nên chờ hẹn.
Phật đã từng dạy, mạng sống của con người chỉ ngắn ngủi trong hởi thở; vì hơi
thở có ra mà không vào, tức đã bước sang kiếp khác. Thế thì năm tháng ngày giờ,
cho đến mỗi giây phút, đều có cái chết không chờ hẹn ta ở trong đó; chẳng ai
dám quyết đoán mạng sống của mình dài được bao lâu. Cổ thi có câu:
Ngày
trước đầu đường còn ruổi ngựa.
Hôm nay trong quách đã nằm yên!
Hôm nay trong quách đã nằm yên!
Hoặc câu:
Chớ hẹn đến già rồi niệm Phật.
Đồng hoang mồ trẻ thấy đông người.
Chớ hẹn đến già rồi niệm Phật.
Đồng hoang mồ trẻ thấy đông người.
Đây là những điều xác thật. Cho nên muốn phòng ngừa cơn vô thường
chợt đến, mỗi thời khắc chúng ta phải gắng chăm niệm Phật. Như thế, gặp giây
phút cuối cùng mới không bị bối rối tay chân.
Trên đường tu, để ngăn trách về sự giải đãi, đức Phật đã răn dạy:
"Thầy Tỳ Khưu thường hay có tám cách biếng trễ. Chẳng hạn, bữa nào đi khất
thực đói, liền nghĩ rằng: "Hôm nay, khất thực đói, trong người tất thiếu
sức khỏe, để huỡn tu một đêm." Bữa nào khất thực no, liền nghĩ: "Hôm
nay ăn no, trong người nặng nề mệt nhọc, thôi tạm xả tu, mai sẽ tiếp tục."
Như thế cho đến những khi: sắp làm việc nhiều - lúc làm việc nặng vừa xong -
sắp muốn đau - khi đau bịnh vừa mạnh - sắp đi xa - lúc đi xa mới về; trong các
trường hợp ấy, lúc nào cũng nại cớ này, cớ khác, rồi bỏ tu để ngủ nghỉ. Trái
lại, những vị Tỳ Khưu tinh tấn, trong tám trường hợp đó, luôn luôn nghĩ đến sự
vô thường, hằng siêng năng tu tập."
Tâm niệm giải đãi của người xuất gia đã như thế, tất tâm lý biếng
trễ của hàng tại gia chắc có lẽ nhiều hơn. Hoằng Nhứt đại sư từng khuyên một
người thân hữu niệm Phật. Ông này viết thư gởi đến, than mình mắc bận nhiều
công việc, xin để tạm xếp đặt cho ổn thỏa rồi sẽ hay. Đại sư liền biên vào bức
thư đó hai câu thi, rồi gởi trả nguyên lại. Hai câu ấy như sau:
Ngay giờ
quyết dứt, liền thôi dứt.
Chờ hẹn cho xong, chẳng lúc xong!
Chờ hẹn cho xong, chẳng lúc xong!
Thật thế, chuyện đời đến khi nhắm mắt cũng không rồi công việc.
Khi xưa, có vị Tăng khuyên người bạn là Trương Tổ Lưu niệm Phật.
Ông bạn bảo: "Tôi có ba việc làm chưa xong: Một là quan tài ông thân còn
để ở nhà mồ chưa chôn, hai là đứa con trai chưa cưới vợ, ba là đứa con gái chưa
gả chồng. Chờ ba việc đã xong, tôi sẽ vâng lời." Mấy tháng sau, ông bạn bị
bạo bịnh chết. Vị tăng đến tụng kinh cầu siêu, và điếu một bài thi rằng:
Bạn tôi
tên là Trương Tổ Lưu
Khuyên ông niệm Phật, hẹn ba điều.
Ba điều chưa vẹn, vô thường bắt
Đáng trách Diêm Vương chẳng nể nhau!
Khuyên ông niệm Phật, hẹn ba điều.
Ba điều chưa vẹn, vô thường bắt
Đáng trách Diêm Vương chẳng nể nhau!
Trong bài thi, ý vị tăng nói: Ông hẹn khi xong ba việc sẽ niệm
Phật, nhưng ngặt nỗi vô thường bất ngờ đến, nó có chờ hẹn ông đâu? Xem đấy
chúng ta ai dám bảo đảm rằng mình chẳng là ông Trương Tổ Lưu thứ hai? Cho nên
người quyết chí tu hành, được hở giây phút nào liền niệm Phật ngay lúc ấy, đừng
nên đạp nhầm dấu xe đổ của người xưa mà để hận ngàn thu.
Mục B. Làm Thế Nào Niệm Được Bền Lâu?
Tiết 56 Phải Tuần Tự Tiến Tu
Người tu Tịnh Độ, muốn niệm Phật được bền lâu, phải tùy theo tinh
thần, sức khỏe, và hoàn cảnh của mình mà đặt thời hạn, rồi lần lần tăng tiến,
chớ nên bước đầu đã vội hành trì quá nhiều. Như người đi quá gấp, tất dễ bị vấp
ngã. Kẻ chưa lượng sức mình, mà vội hành trì quá mức, sau có thể vì mệt mỏi
chán nản rồi bỏ trôi luôn.
Đại để người tu môn Niệm Phật, nên phân làm định thời và không
định thời. Định thời là mỗi ngày đều phải có thời khóa nhứt định, lại nên ghi
số là bao nhiêu câu. Không định thời là ngoài các thời khóa, đi đứng nằm ngồi
đều niệm thầm, nhưng niệm thả không ghi số. Điểm cốt yếu của sự Niệm Phật là dù
niệm chậm hay mau, cũng phải rành rẽ rõ ràng, tâm bắt kịp tiếng niệm, tâm và
tiếng dung hòa nhau. Cứ như thế niệm lâu thành thuần thục, sức niệm mau dần, có
thể tăng từ một ngàn, hai ba ngàn, một muôn, bốn năm muôn, cho đến mười muôn
câu trong mỗi ngày đêm.
Có người bảo: "Tôi đã nhiều lần thí nghiệm qua, dù với cách
nào cũng không thể mỗi ngày đêm niệm đến mười muôn câu được. Cho nên lời xưa
nói: Mỗi ngày đêm lấy mười muôn câu làm định khóa, đại khái nên hiểu một ước số
để khuyến tấn mà thôi."
Lời nói trên, chỉ đề cập đến sự "thí nghiệm" nhưng chưa
bàn đến cách "tập luyện". Theo Đạo Nguyên pháp sư, nếu tập luyện cho
tinh thuần, mỗi ngày đêm hành giả có thể niệm đến mười muôn câu Phật hiệu,
nhưng phải y theo mấy điều kiện như sau:
1. Phải ngồi mà niệm. Tuy đi đứng nằm ngồi đều có thể niệm Phật,
nhưng muốn niệm cho mau mà vẫn nghe được rành rẽ rõ ràng, thì nên ngồi mới
thích hợp.
2. Nên dùng chuỗi nhẹ và lấy mười câu làm một đơn vị. Bởi nếu niệm
mau mà mỗi câu đều lần một hạt chuỗi, e tay lần không kịp, dù có kịp cũng dễ bị
chứng đau gân tay và mỏi nhức chả vai.
3. Chỉ niệm bốn chữ A Di Đà Phật, không niệm sáu chữ. Bởi niệm sáu
chữ một muôn câu, nếu rút ngắn niệm bốn chữ, có thể lên đến một muôn năm ngàn
câu.
4. Phải niệm theo lối Kim Cang trì, nghĩa là chỉ sẽ động môi mà
thôi. Nếu niệm thầm hoặc ra tiếng, sợ e niệm không được mau, và khi cổ động cho
tiếng phát ra khỏi miệng, phải mất một khoảng thời gian. Niệm ra tiếng một muôn
câu, đổi lại niệm theo lối Kim Cang trì, có thể lên đến hai ba muôn câu.
Nếu y theo bốn điều kiện trên đây tập luyện cho tinh thuần, lâu
ngày lâu tháng sức niệm càng mau chóng, nhưng vẫn không mất sự rành rẽ, rõ
ràng. Như thế luyện cho đến khi nào niệm một ngàn câu chỉ mất năm phút làm mục
đích. Thế thì trong một giờ niệm một muôn câu cộng lại tốn năm mươi phút, còn
mười phút để thay đổi oai nghi cho khỏi mỏi nhọc hoặc đứng lên lễ Phật, hoặc
buông chuỗi, chắp tay, vừa đi nhiễu Phật, vừa nhẹ hô hấp để lấy sức. Cách thức
vừa niệm vừa nghỉ ngơi như thế, niệm mười muôn câu duy phí có mười giờ. Trong
một ngày đêm hai mươi bốn giờ, trừ ngủ nghỉ sáu giờ, ăn uống, đại tiểu tiện ba
giờ, mười giờ để khóa niệm mười muôn câu, cộng lại hết mười chín giờ, hãy còn
dư ra năm giờ đồng hồ. Năm giờ ấy, hoặc để làm công chuyện vặt, hoặc tĩnh tọa
hay xem kinh vẫn còn thư thả.
Tiết 57 Nên Cầu Tinh Thuần, Đừng Tham Nhiều
Có người niệm Phật không thích lần chuỗi, chỉ ước định mỗi thời
khóa là bao nhiêu giờ. Niệm như thế được điểm lợi là dễ dưỡng tâm, mỗi câu Phật
hiệu đều rành rẽ thâm nhập. Nhưng nếu không phải là người có tâm lực mạnh, chí
kiên quyết, thì sẽ lạc vào khuyết điểm; niệm lực trì trệ khó thành tựu, mau
sanh chán mỏi, thường nhìn vào đồng hồ để xem coi gần mãn giờ hay chưa? Còn lần
chuỗi mà niệm theo định số, thì sức niệm tinh tấn mau thuần thục, ví như người
tuy yếu chân nhưng nhờ nương nơi cây gậy, nên dễ tiến lên núi cao. Song nếu
không khéo giữ đúng theo điểm căn bản của sự niệm Phật là: "Câu niệm rành
rẽ rõ ràng, tâm cùng tiếng dung hòa nhau," tất lại bị khuyết điểm bởi ham
mau, ham nhiều mà thành ra niệm dối! Nên biết lúc hành giả khởi niệm, thì mỗi
câu Phật hiệu đều đi sâu vào tạng thức. Khi sức dồn chứa huân tập đã nhiều, tức
câu niệm Phật từ nơi tạng thức tự phát hiện ra trong khi thức hoặc lúc ngủ. Đây
gọi là cảnh giới "không niệm tự niệm." Nếu bình thường niệm rành rẽ
thì nó phát hiện rành rẽ, niệm giả dối không rõ ràng, tức câu Phật hiệu hiện ra
không rõ ràng. Điểm thất bại của người niệm Phật là tại chỗ đó, nên phải dè dặt
ngay từ lúc đầu. Lời tục thường nói: "Đa hư bất như thiểu thật." Nếu
vì ham mau ham nhiều để cầu danh là mình niệm mỗi ngày được mấy muôn câu rồi
niệm hư dối không rõ ràng, tâm không bắt kịp tiếng, chẳng thà niệm ít mà chắc
còn hơn.
Bút giả có biết một bà Phật tử tu Tịnh Độ. Bà này có lòng tin Tam
Bảo, nhưng tánh còn thích rong chơi. Mỗi khi về tối, con cháu mời lại bàn cùng
ăn cơm, bà nói: "Thầy dạy tao phát nguyện mỗi ngày niệm Phật mười chuỗi,
nếu tao không giữ đúng lời hứa thì có tội với Tam Bảo. Bây hãy chờ một chút cho
tao 'làm đủ số', rồi sẽ dùng cơm." Nói đoạn, bà vội mặc áo tràng, niệm
Phật lia lịa gấp như chữa lửa, chỉ mười lăm phút là xong việc. Niệm Phật như
thế thì làm sao mà vãng sanh được? Chẳng những một bà này, mà còn nhiều Phật tử
khác cũng niệm Phật theo lối "làm cho đủ số" đó. Vậy nên biết niệm
Phật quý ở nơi phát tâm chân thật, câu niệm chắc chắn rõ ràng, gọi là "lão
thật niệm Phật" mới mong có kết quả.
Vào khoảng cuối đời nhà Thanh bên Trung Hoa, ở Hàng Châu có một bà
Phật tử đến am Hiếu Từ hỏi Đạo Nguyên hòa thượng: "Con niệm Phật đã lâu,
nhưng chưa thấy có chi tiến bộ, không biết tại sao?" Hòa thượng bảo:
"Niệm Phật không khó, mà khó ở giữ cho được bền lâu. Chắc có lẽ bà niệm
không được đều và bền nên mới như thế." Bà thưa: "Quả đúng như vậy.
Con vì mắc gia duyên bận buộc, nên niệm Phật thường hay gián đoạn không được
bền. Từ đây xin gát hết mọi duyên, nguyện giữ đúng như lời thầy dạy." Cách
ít lâu sau, bà lại đến hỏi: "Từ khi nghe lời chỉ giáo đến nay, con dẹp hết
mọi việc ngoài, mỗi ngày niệm Phật đều đều, sao vẫn chưa thấy có hiệu
lực?" Hòa thượng dạy tiếp: "Niệm Phật không khó, khó ở bền lâu. Niệm
bền lâu không khó, mà khó ở nơi nhứt tâm. Bên ngoài tuy bà gác hết mọi duyên,
nhưng trong tâm còn lo đến việc nhà cửa, ruộng vườn, luyến tưởng đến cháu con
quyến thuộc. Ý lo lắng chưa dứt, gốc tình ái vẫn còn, làm sao mà được nhứt tâm
thấy Phật?" Bà nghe nói liền than: "Thật quả có như vậy! Con duyên
ngoài tuy bỏ, nhưng tâm tưởng vẫn còn vấn vương. Từ đây xin trăm việc không
quản đến, để nhứt tâm niệm Phật." Sau khi lãnh giáo về nhà, con cháu hoặc
người ngoài có bày tỏ hỏi han điều chi, bà đều bảo: "Tôi muốn yên tâm,
trăm việc xin không quản đến." Do duyên cớ này, mọi người đều gọi là bà
lão Bá Bất Quản. Vài năm sau, bà đến am Hiếu Từ lạy ngài Đạo Nguyên thưa:
"Nhờ ơn chỉ dạy, nay con niệm được nhứt tâm và đã thấy Phật. Xin đến lễ tạ
giã từ hòa thượng, vì con sắp sẽ vãng sanh."
Bà Bá Bất Quản trên đây, do lãnh ngộ hai nguyên tắc: bền lâu và
nhứt tâm mà được kết quả giải thoát. Cho nên người niệm Phật muốn đi đến mức
tinh thuần, phải xem từ nhà cửa, ruộng vườn đến thân tình quyến thuộc như cảnh
duyên giả tạm, hợp rồi lại tan. Nếu có lòng thương quyến thuộc, trước tiên phải
làm sao cho mình được vãng sanh giải thoát, rồi sau sẽ độ người thân, mới là
tình thương chân thật. Cho nên muốn niệm Phật, suy ra chẳng những trăm việc
không quản, mà ngàn việc, muôn việc đều không quản đến mới được.
Tiết 58 Chớ Để Mất Phần Nhập Phẩm
Người tu khi niệm Phật phát nguyện cầu sanh về Tây Phương, nơi ao
thất bảo ở cõi Cực Lạc liền mọc lên một hoa sen. Nếu cứ tiếp tục niệm không
gián đoạn, thì hoa sen ấy lần lần to lớn mãi lên. Trái lại tự nhiên hoa cũng
héo tàn. Chừng nào phát tâm tinh tấn trở lại, sẽ có một hoa sen khác hóa hiện.
Hoa sen đó do sức tu niệm của hành giả hiện thành, tùy nơi công hạnh cao thấp
mà có hơn kém, chia thành chín phẩm, từ Hạ Phẩm Hạ Sanh lên đến Thượng Phẩm
Thượng Sanh. Tuy nói khái ước có chín phẩm, nhưng vì công hạnh của người tu rất
khác biệt, nên thật ra trong ấy bao hàm đến vô lượng phẩm. Chẳng hạn như trong
xã hội đại khái có ba giai cấp: quyền quý, trung lưu và bần khổ; nhưng thật ra
trong mỗi giai cấp đều có nhiều thứ bậc hơn kém khác nhau. Phẩm sen ở Cực Lạc
cũng như thế.
Tu Tịnh Độ tùy nơi căn cơ và hoàn cảnh nên công hạnh của mỗi người
thành ra sai biệt. Có những vị mỗi ngày niệm tới số trăm, số ngàn, lên đến số
nhiều muôn. Nhưng dù bận việc bao nhiêu, ít nhứt mỗi ngày hành giả phải có mười
niệm, bằng không sẽ mất phần "nhập phẩm", nghĩa là không được dự vào
chín phẩm sen ở cõi Tây Phương. "Nhập phẩm" là danh từ riêng của
người tu Tịnh Độ, nó gợi ý nhắc nhở hành giả đừng quên phần niệm Phật. Mười
niệm cũng gọi là Thập Niệm Pháp. Đấy là phương thức của ngài Từ Vân sám chủ,
căn cứ theo chương Hạ Phẩm Hạ Sanh của Kinh Quán Vô Lượng Thọ mà chế ra, để
dành riêng cho những người quá bận về công việc nước hay nhà có thể niệm Phật
và vãng sanh Cực Lạc. Phương pháp này gồm có mười niệm, mỗi niệm là một hơi
thở, mật ý đi về chỗ "mượn hơi nhiếp tâm." Người hơi dài có thể mỗi
hơi niệm mười mấy câu, kẻ hơi ngắn chỉ bảy, tám câu cũng được. Cứ mỗi hơi niệm
Phật gọi là một niệm, mười hơi là mười niệm. Sau khi niệm xong mười hơi, tiếp
tục đọc bài kệ hồi hướng:
Nguyện
sanh Tây Phương cõi Tịnh Độ.
Mẹ cha là chín phẩm sen lành.
Hoa nở thấy Phật ngộ vô sanh.
Độ khắp tất cả loài hàm thức.
Mẹ cha là chín phẩm sen lành.
Hoa nở thấy Phật ngộ vô sanh.
Độ khắp tất cả loài hàm thức.
Nguyện xong, lễ Phật ba lạy rồi lui ra. Phương pháp này phát xuất
bởi lòng từ bi vô lượng của Phật, Tổ, dù người đa đoan công việc thế mấy, cũng
có thể thật hành để bước lên đường giải thoát.
Về chỗ niệm Phật mười hơi, có điểm cần chú ý là cứ để tự nhiên
đừng kéo dài hoặc rút ngắn. Nếu chẳng thế tất sẽ mang chứng bịnh "thương
khí." Trung Luân pháp sư khi đến Bắc Bình giảng đạo, một hôm có ông lão
đến nói: "Tại tôi niệm Phật, nên bây giờ sanh chứng lãng tai và đôi khi
không nghe chi hết." Pháp sư hỏi duyên cớ, ông lão đáp: "Có vị đại
đức bí mật truyền cho tôi một phương pháp niệm Phật. Vị ấy bảo: "Phép niệm
mười hơi, hiện tại các hòa thượng, thượng tọa không ai biết cả, bởi trong ấy có
một khẩu quyết mà bây giờ đã thất truyền." Tôi thành khẩn cầu pháp, vị đó
dạy mỗi hơi phải niệm suốt một tràng chuỗi, gồm một trăm lẻ tám câu. Tôi y theo
lời, cố gắng thật hành, và lỗ tai sanh ra lùng bùng rồi lãng điếc từ khi ấy.
Vậy chẳng biết phương pháp niệm như thế có đúng lời Phật dạy chăng?" Ngài
Trung Luân nghe xong bác bỏ, trách vị đại đức kia đem pháp Phật biến thành pháp
ngoại đạo, diễn nên kết quả hại người. Rồi Ngài từ từ đem nguyên lý Thập Niệm
Pháp giảng cho ông lão nghe.
Đây là một câu chuyện mà người niệm Phật phải lưu tâm, để rút lấy
phần kinh nghiệm.
Mục C. Tịnh Độ, Môn Giải Thoát Đăc Biệt
Tiết 59 Niệm Phật, Phương Pháp Dễ Tu
Môn Tịnh Độ, đặc biệt với pháp Trì Danh, là đường lối dễ tu, điều
này ai cũng có thể biết. Nhưng "dễ tu" lại có nhiều nghĩa, việc này
vị tất mọi người đã am tường.
Bởi tu các pháp môn khác, nếu từ Giáo mà đi vào, thì kinh điển
mênh mang, nghĩa lý vô cùng sâu sắc. Trước tiên người học Phật phải lãnh hội
nghĩa căn bản, rồi từ đó lần lượt ngộ giải những nghĩa sai biệt. Sau đó lại phải
dung thông các đạo lý, rút lấy chỗ tinh hoa, và chọn lựa vạch mở đường lối tu
tập để trọn đời noi theo. Sự kiện này nếu chẳng phí vài mươi năm công phu khổ
nhọc, tất không thể hoàn thành. Nếu từ Luật mà đi vào, thì phải xuất gia, mà
giới tướng rộng nhiều, hành giả cần phải rành rẽ về danh, chủng, tánh, tướng
của các loại giới pháp. Lại phải có trí huệ để thông hiểu thế nào là nghĩa cùng
ngữ, để áp dụng các điểm khai giá, trì, phạm tùy theo xứ sở thời cơ. Cho nên
học kinh chưa phải là khó, học luật mà biết quyền biến khéo léo để không rời
luật cũng không bị luật buộc ràng mới là khó. Hiểu rành xong về luật, lại phải
có tinh thần nhẫn nại, có nghị lực chịu kham khổ, mới đi đến chỗ thành công.
Nếu từ Thiền mà đi vào, như túc huệ chưa gieo, căn khí chẳng hợp, muốn đem cơ
yếu kém để mong cầu pháp cao mầu, tất sự chia ánh sáng truyền đăng cũng tuyệt
phần hy vọng. Cho nên ông Tạ Linh Vận, một danh sĩ học Phật khi xưa đã bảo:
"Tu Thiền để thành Phật phải là hàng huệ nghiệp văn nhơn." Lời này
vẫn không phải sai lầm hoặc quá đáng.
Riêng về pháp Trì Danh của môn Tịnh Độ, khi đã phát lòng tín
nguyện, dù căn cơ nào cũng có thể niệm Phật tu hành. Lại các pháp môn khác duy
cậy nhờ tự lực, môn Tịnh Độ đã dùng hết tự lực, còn được thêm phần tha lực. Sức
tha lực tức nguyện lực tiếp dẫn của Phật A Di Đà vô cùng lớn mạnh, dù người
chưa sạch nghiệp hoặc, cho đến kẻ tạo nghiệp ác quá nặng biết hồi tâm niệm
Phật, cũng được đón rước về Tây Phương. Cổ nhơn đã từng so sánh: "Tu các
môn khác khó khăn vất vả như con kiến bò lên non cao. Niệm Phật vãng sanh mau
chóng dễ dàng như đi thuyền theo nước xuôi gió thuận." Lời này thật rất
xác đáng. Hơn nữa, khi sanh về Cực Lạc rồi, sống trong cảnh đẹp mầu an thuận,
thường gần gũi với Phật Bồ Tát, dù tu pháp môn nào cũng đều mau thành tựu, như
lăn khúc gỗ tròn từ trên non cao xuống, thế vẫn tiến mãi không tạm dừng.
Tóm lược qua các điều trên, sự dễ tu của môn Tịnh Độ gồm có ba
điểm: một là dễ thật hành, hai là dễ vãng sanh, ba là dễ thành Phật. Do sự dễ
dàng đó mà kết quả tu chứng xưa nay về môn Tịnh Độ như ngọc chạm, vàng khua
tiếng vang thảnh thót, sen cười cúc mỉm mấy phẩm tươi thơm. Trong ấy lịch trình
từ phàm phu cho đến khi thành Phật cũng có giai cấp mà cũng không giai cấp. Vì khi
được vãng sanh tức đã thoát khỏi sống chết luân hồi, và niệm Phật tức là thành
Phật. Như con tằm, nhộng, và bướm vẫn không thể chia phân, nói bướm nguyên là
tằm, hay tằm là bướm cũng chẳng xa chi mấy.
Tiết 60 Từ Tán Tâm Sẽ Đi Đến Định Tâm
Miệng niệm Phật, tâm tưởng Phật, hoặc trụ nơi câu niệm Phật, gọi
là Định Tâm Niệm Phật. Miệng niệm Phật, tâm không nhớ Phật mà suy nghĩ mông
lung việc khác, đó là Tán Tâm Niệm Phật. Tán tâm mà niệm, hiệu lực so với định
tâm yếu kém rất nhiều. Vì lẽ ấy, từ xưa đến nay các bậc thiện tri thức đều
khuyên người cố gắng định tâm trì niệm, đừng để tán tâm. Cho nên tán tâm niệm
Phật không đủ làm gương mẫu.
Tuy nhiên, mỗi tác động bên ngoài đều liên quan đến tiềm thức, tức
là thức thứ tám ở bên trong. Nếu tán tâm niệm Phật hoàn toàn không công hiệu,
thì sáu chữ hồng danh kia từ đâu phát hiện? Đã có sáu chữ hiện thành, tất phải
có hai chuyển lực: một là do chủng tử, từ tiềm thức phát hiện ra ngoài. Hai là
sức tác động từ ngoài lại huân tập trở vào bên trong. Cho nên chẳng thể nói tán
tâm niệm Phật hoàn toàn không công hiệu, bất quá so với định tâm nó yếu kém hơn
nhiều mà thôi. Lối niệm tán tâm từ xưa đến nay không được đề xướng, nhưng hàm ý
và công dụng của nó cũng không thể phủ nhận. Vì thế cổ nhơn có lưu một bài kệ
rằng:
Di Đà sáu
chữ pháp trung vương,
Tạo niệm phân vân chớ ngại màng!
Muôn dặm phù vân che ánh nhật.
Nhơn hoàn khắp xứ ửng dương quang.
Tạo niệm phân vân chớ ngại màng!
Muôn dặm phù vân che ánh nhật.
Nhơn hoàn khắp xứ ửng dương quang.
Bài kệ này suy ra có điều xác đáng. Bởi hạt giống niệm Phật nơi
thức thứ tám khi thành thục, tất dẫn phát thức thứ sáu khiến cho sanh khởi tịnh
niệm. Rồi từ thức thứ sáu lại cổ động ra năm thức trước để thành hiện hành.
Nhưng vì lúc chủng tử niệm Phật trải qua thức thứ sáu, bởi trần nhiễm của chúng
sanh sâu dày, nên bị các niệm khác lấn cướp, tuy có lọt khỏi vòng vây song ảnh
hưởng còn lại chẳng bao nhiêu. Ví như ánh mặt trời tuy rực rỡ, nhưng vì bị
nhiều lớp mây che, nên khi lọt xuống nhân gian, chỉ còn vẻ ửng sáng. Nhưng ánh
sáng thừa ấy sở dĩ có, cũng do công năng ảnh hưởng của mặt trời. Biết được lẽ
này, người tu Tịnh Độ đừng quá ngại màng đến tạp tưởng phân vân, chỉ liên tiếp
niệm hết câu này sang đến câu khác, chánh niệm còn được bao nhiêu hay bấy
nhiêu. Niệm như thế một lúc lâu, tự nhiên ngựa ý sẽ quay về tàu, vượn lòng lần
lần vào động. Niệm một lúc lâu nữa, thì chánh niệm hiển lộ rõ ràng, không cần
gạn bỏ điều nhiếp, mà tự nhiên thành tựu. Hiểu được lẽ này thì chỉ quý niệm
nhiều, đừng ngại tán tâm. Như nước tuy bợn đục, lóng mãi tất sẽ thành trong.
Người tuy tạp niệm nhiều, niệm Phật lâu tất sẽ thành chánh niệm. Nên biết cổ
đức khi đi đứng nằm ngồi và tất cả hành động đều niệm Phật. Nếu các vị ấy hoàn
toàn dùng định tâm mà niệm, thì lúc đi đường tất phải vấp chạm, hoặc khi tả
kinh hay làm việc cũng không thể thành công. Cho nên người xưa cũng có lúc phải
phân tâm mà niệm, nhưng vẫn không rời câu niệm Phật, bởi dù có tán tâm vẫn
không mất phần ảnh hưởng.
Đến đây, xin thuật một câu chuyện. Lúc nọ, có người đến hỏi một
thượng tọa: "Thưa thật với thầy, tôi niệm Phật đã hơn mười năm nay mà vọng
niệm vẫn còn nhiều, không biết cách chi trừ diệt. Tôi có đi nhiều nơi cầu hỏi
phương pháp với những bậc đã tu trước mình. Vị này đưa kinh nghiệm này, vị kia
dạy cách khác, có một đại đức lại khuyên tôi nên nín hơi niệm luôn hai mươi mốt
câu rồi nuốt một cái. Tôi đã áp dụng qua đủ mọi phương thức, nhưng chỉ định tâm
được lúc đầu, rồi sau có lẽ vì lờn quen nên vọng niệm trở lại như cũ. Không
biết thầy có phương pháp nào hữu hiệu để dạy tôi chăng?"
Vị thượng tọa đáp: "Điểm thất bại đó do ông không bền lòng,
mà cứ thay đổi đường lối. Nên biết phàm phu chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay
gây tạo nghiệp nhiễm vọng quá nhiều đâu thể nhứt thời mà thanh tịnh được! Chỗ
cốt yếu là phải dụng tâm cho bền lâu. Tôi xin đưa ra đây hai thí dụ: Ví như một
bình nước hôi nhơ dẫy đầy, ông đem nước thơm sạch đổ vào. Vì nước dơ đã đầy,
nước sạch tất phải dội ra ngoài, song ít nhứt nó cũng lưu lại trong bình một
vài giọt. Nếu ông cứ bền tâm đổ vào mãi, ngày kia bình nước hôi sẽ hóa ra nước
sạch thơm. Lại ví như ông đau bịnh dạ dày, uống thuốc chi cũng đều ói mửa ra.
Ông cứ bền lòng dùng ngay thuốc trị bịnh dạ dày mà uống, đừng thay đổi thuốc
chi khác. Mỗi phen uống tuy có bị ói mửa, nhưng chất thuốc cũng lưu lại ít
nhiều, lần lần bệnh của ông sẽ dứt. Bệnh phiền não vọng tưởng của chúng sanh
cũng thế, dùng thuốc niệm Phật điều trị tự nhiên là thích đáng, nếu thay đổi
mãi làm sao thành công? Như có người dùng phèn lóng nước, nó chưa kịp trong,
lại nóng nảy vội quậy lên đổ muối vào, đổ muối chưa kịp trong, lại quậy lên đổ
vôi bột vào. Cứ thay đổi mãi như thế, làm sao nước trong cho được? Thế nên vấn
đề dứt vọng niệm, không phải do nơi thay đổi nhiều phương pháp, mà ở nơi lựa
một phương pháp thích hợp rồi thật hành cho bền lâu là thành tựu." Vị ấy
nghe xong gật đầu cho là hữu lý.
Như đã nói, muốn được định tâm, điểm căn bản là phải dụng công cho
bền lâu. Tuy nhiên nếu sợ niệm lực tán loạn, cần có phương tiện để tâm dễ yên
tịnh, thì nên áp dụng pháp Thập Niệm Ký Số đã trình bày ở trước. Phép này do
dùng hết tâm lực ghi nhớ từ một đến mười câu, nên dễ vào tịnh định. Nếu tâm còn
rối loạn và không thể dùng phép Thập Niệm Ký Số, thì trong mỗi câu niệm chỉ cần
chú tâm ghi giữ cho chắc một chữ "A". Khi chữ A còn thì mấy chữ khác
đều còn, nếu mê mờ để cho nó mất, tất năm chữ kia cũng mất. Lại chữ A cũng
chính là chữ căn bản, và là mẹ của tất cả chữ. Chú tâm vừa niệm vừa ghi chắc
chữ A, lâu lâu tự nhiên tâm và cảnh đều tiêu tan dung hợp thành một khối, lượng
rộng lớn dường hư không, Phật và mình cũng đều mất. Lúc bấy giờ đương nhiên chữ
A cũng không còn. Nhưng lúc trước nó mất là do bởi tâm xao động rối loạn, lúc
này nó không còn chính thuộc về trạng thái dung hóa của thường định. Đây là
hiện tượng tâm cảnh đều không, điểm sơ khởi để đi vào Niệm Phật Tam Muội.
Tiết 61 Mười Phương Tịnh Độ Và Đâu Suất Tịnh Độ
Trong mười phương quốc độ, có vô số cõi Phật mầu đẹp tinh sạch
trang nghiêm, chẳng hạn như thế giới Tịnh Lưu Ly trong Kinh Dược Sư, thế giới
Chúng Hương và Diệu Hỷ trong Kinh Duy Ma Cật. Nhưng tại sao ta không niệm danh
hiệu chư Phật để cầu sanh về các Tịnh Độ ở mười phương, lại chỉ phát nguyện
sanh về Cực Lạc? - Trong ấy có ba nguyên do:
1. Do sự giới thiệu khuyên dạy của đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, bảo
nên cầu sanh về cõi Cực Lạc. Theo lời cổ đức, thì ngoài sự kiện cõi Cực Lạc có
nhiều duyên nhiệm mầu thích hợp cho việc nhiếp hóa căn cơ ở các cõi Uế Độ, đức
Bổn Sư không muốn thuyết minh nhiều về những Tịnh Độ khác, sợ e chúng sanh khởi
niệm so sánh phân vân, tâm không qui nhứt. Do việc đủ duyên nhiệm mầu để nhiếp
hóa, mà không những riêng ở tại cõi Ta Bà, các chúng sanh ở vô số thế giới trong
mười phương đều cầu về Cực Lạc.
2. Do đức A Di Đà Thế Tôn có 48 lời thệ rộng lớn trang nghiêm cõi
Tịnh Độ, nguyện tiếp dẫn từ bậc Bồ Tát, cho đến hàng phàm phu nhiều tội ác.
3. Do vì chúng sanh ở cõi này có nhân duyên lớn với Phật A Di Đà
và Bồ Tát Quán Thế Âm ở cõi Cực Lạc. Điều minh chứng là khi các Phật tử gặp
nhau đều chào mừng bằng câu A Di Đà Phật và lúc bị tai nạn thường niệm danh
hiệu đức Quán Thế Âm.
Bởi những lẽ trên, mà cõi Cực Lạc có những điểm ưu thắng để cầu
sanh hơn các Tịnh Độ ở mười phương.
- Về Đâu Suất Tịnh Độ, Phương Luân cư sĩ, một vị uyên bác về Phật
học đã trình bày ý kiến của ông như sau:
Tại thế giới này, về phương trên có cung trời Đâu Suất nội viện,
do đức Di Lặc Bồ Tát làm chủ. Nơi ấy cũng tốt đẹp trang nghiêm, đức Di Lặc hằng
thuyết pháp, chư thượng thiện câu hội tu hành, nên gọi là Đâu Suất Tịnh Độ.
Trong Kinh Di Lặc Thượng Sanh và Hạ Sanh, đức Thích Tôn cũng giới thiệu quốc độ
ấy rất tinh tường và khuyên nên cầu sanh. Sở dĩ có sự giới thiệu đó, bởi bản ý
đức Thích Tôn muốn cho hành giả trước theo Di Lặc Bồ Tát học tập, tương lai lại
theo ngài hạ sanh mà được đắc quả trong ba hội Long Hoa. Điều này chính do đức
Bổn Sư khuyến tán, nhân đó người tu Phật cũng có nhiều vị cầu về Đâu Suất Tịnh
Độ. Hơn nữa, Di Lặc Bồ Tát từng nói luận Du Già Sư Địa, Ngài là thỉ tổ của tông
Duy Thức. Thế nên người tu về Duy Thức Tông phần nhiều đều có tâm nguyện cầu
sanh Đâu Suất, cho chỗ tu hành tiến đến mức cao thâm. Đối với việc này, người
cầu sanh Cực Lạc chỉ có tán thán đức Thích Tôn lòng từ bi vô lượng, khéo mở
nhiều phương tiện độ sanh. Lại cũng tán dương những vị cầu về Đâu Suất tâm háo
học không chán mỏi, ý nguyện trở xuống cõi trược để hóa độ rất tinh thành.
Nhưng Đâu Suất nội viện chưa là cảnh tối thắng, và chẳng phải chỗ thành đạt
chắc chắn cho những kẻ căn cơ trung, hạ. Bởi trong ấy có ba sự kiện:
1. Đâu Suất nội viện về y báo chẳng trang nghiêm rộng lớn nhiệm
mầu bằng Cực Lạc. Về chánh báo lại cũng kém hơn, vì ở Tây Phương hiện có đức
Phật A Di Đà đang thuyết pháp, vô lượng bậc Nhứt Sanh Bổ Xứ Bồ Tát giúp thêm
phần khuyến tấn dắt dìu. Vả lại ở Cực Lạc dân chúng thọ mạng vô biên, là chỗ
nương về tốt đẹp an ổn nhứt.
2. Đức Di Lặc không có bản nguyện tiếp dẫn như Phật A Di Đà sanh
về Đâu Suất hoàn toàn nhờ tự lực, sợ e khi lâm chung bịnh khổ hôn mê, không nắm
vững kết quả.
3. Đâu Suất nội viện rất khó vãng sanh. Như khi xưa Huyền Giác đại
sư giới hạnh trang nghiêm, tham thiền ngộ đạo, thông suốt tam tạng đến chỗ sâu
mầu. Khi lâm chung Ngài hội hàng đệ tử lại, làm kệ phó chúc xong, bỗng ngửa mặt
lên hư không nói: "Lạ này, ta đã phát nguyện sanh về Đâu Suất nội viện,
sao nay lại làm vị thiên chủ ở cung trời Dạ Ma?" Đệ tử thưa hỏi, Ngài bảo:
"Chẳng phải việc các ngươi hiểu được." Giây lát lại nói: "Trên
trời tân khách thật đông nhiều!" Nói xong liền tịch.
Lại sau khi Phật diệt độ chín trăm năm, ở xứ Thiên Trúc có ba vị
Bồ Tát huynh đệ với nhau là Vô Trước, Thế Thân và Sư Tử Giác, tu môn Nhật Quang
Định, đồng phát nguyện sanh Đâu Suất nội viện. Ba người cùng ước hẹn, ai sanh
lên trước phải xuống báo tin cho hay. Sau Sư Tử Giác mãn phần trước, trải qua
ba năm tuyệt vô âm tín. Kế đó ngài Thế Thân viên tịch rồi cũng bặt tin luôn.
Hai năm sau vào một buổi chiều tối, ngài Vô Trước đang ngồi giảng kinh, bỗng
thấy giữa hư không ánh sáng chói lòa, một vị thiên tử áo mão trang nghiêm hiện
xuống, tự xưng mình là Thế Thân, bảo đã được sanh lên Đâu Suất nội viện. Ngài
Vô Trước hỏi: "Tại sao đến bây giờ mới cho hay?" Thế Thân đáp:
"Em vừa sanh lên, được đức Di Lặc xoa đảnh thuyết pháp, nghe pháp xong đi
nhiễu ba vòng rồi xuống đây liền. Bởi thời gian tại Đâu Suất một ngày đêm, ở
dưới này đến bốn trăm năm, nên thành ra làm cho anh nhọc lòng chờ đợi." Vô
Trước lại hỏi: "Còn Sư Tử Giác ở đâu?" - Đáp: "Trong khi em đi
nhiễu, nhìn ra thấy Sư Tử Giác lạc vào ngoại viện, đang say mê theo thiên
nhạc."
Như ngài Huyền Giác là bậc cao tăng, ngài Sư Tử Giác là hàng Bồ
Tát, mà một vị chỉ lên đến cung trời thứ ba, một vị tuy lên được cung trời thứ
tư, nhưng lại lạc vào ngoại viện, bị cảnh ngũ dục thắng diệu làm mê. Những bậc
cao minh như thế mà còn không đạt được kết quả sanh về Đâu Suất Tịnh Độ, thì kẻ
căn cơ dung thường, tất chưa dễ chiếm phần hy vọng. Nhớ lại khi xưa Bạch Lạc
Thiên từng đề thi rằng:
Có người
đi biển lại thần châu
Nói thấy cung viên hải đảo mầu
Thật đẹp, tiên đồng tay trỏ bảo:
Sẽ chờ Bạch Lạc bước lên lầu.
Đã mến Không môn, chẳng học tiên
Chuyện ni e cũng việc hư truyền
Bồng Lai chẳng phải nơi ta ở
Về chỉ về cung Đâu Suất Thiên.
Nói thấy cung viên hải đảo mầu
Thật đẹp, tiên đồng tay trỏ bảo:
Sẽ chờ Bạch Lạc bước lên lầu.
Đã mến Không môn, chẳng học tiên
Chuyện ni e cũng việc hư truyền
Bồng Lai chẳng phải nơi ta ở
Về chỉ về cung Đâu Suất Thiên.
Bạch Lạc Thiên trước học tiên cầu về Bồng Lai, sau lại bỏ tiên học
Phật cầu về Đâu Suất. Đến lúc tuổi già, ông lại niệm Phật cầu sanh về Cực Lạc.
Đây có thể gọi là càng suy gẫm lựa chọn, càng đi đến chỗ tinh vi vậy.
Chương
IX: Đệ Cửu Yếu
Niệm Phật Phải An Nhẫn Các Chướng Duyên
Niệm Phật Phải An Nhẫn Các Chướng Duyên
Khải Đề:
Cửa
rồng tăm cá vượt
Đỉnh nhạn bóng chim qua
Khách đi nghìn dặm biệt sơn hà
Đường tu gian khổ
Chướng ngại trải hằng sa
Nghịch thuận duyên ma khảo
Thương ghét nợ oan gia
Khá thương kham nhẫn cõi Ta Bà
Khổ vui bao quản
Vinh nhục tợ sương hoa
Nhẫn nại bền lòng tinh tiến mãi
Ác vàng thỏ bạc
Năm tháng sẽ dần dà...
Đỉnh nhạn bóng chim qua
Khách đi nghìn dặm biệt sơn hà
Đường tu gian khổ
Chướng ngại trải hằng sa
Nghịch thuận duyên ma khảo
Thương ghét nợ oan gia
Khá thương kham nhẫn cõi Ta Bà
Khổ vui bao quản
Vinh nhục tợ sương hoa
Nhẫn nại bền lòng tinh tiến mãi
Ác vàng thỏ bạc
Năm tháng sẽ dần dà...
Mục A.
Nói Lược Về Các Duyên Khảo
Tiết 62 Vài Nguyên Nhân Của Các Chướng Duyên
Các bậc tiền bối trong làng tu thường bảo: "Khi phát nguyện
làm những công đức rộng lớn, hay tu hành, thường gặp nhiều chướng duyên khảo
đảo thử thách." Người xuất gia có bốn giai đoạn mà chướng duyên thường
phát hiện là: khi cạo tóc vào chùa, lúc thọ giới, khi học kinh điển nhứt là
kinh Đại Thừa, và lúc gác bỏ mọi việc để tịnh tu. Có nhiều vị đã gieo sẵn duyên
lành, hoặc do sức cố gắng tinh tấn nên dễ dàng vượt qua ba giai đoạn trước,
bước sang mức thứ tư. Nhưng đến khi tu hành tiến lên trình độ khá cao, tất khó
tránh khỏi chướng duyên phát hiện. Như Hư Vân thượng nhơn, một cao tăng cận
đại, trong khi tinh tấn dụng công tham thiền, nghiệp chướng bỗng phát hiện làm
cho ngài bị đui, điếc và câm trong ba tuần nhựt. Duyệt qua truyện cũ, bút giả
nhớ một vị họ Tô, cất am riêng ở chỗ thanh vắng tham thiền, đem một người theo
giúp việc. Ban sơ ông tập ngồi từ một, hai giờ rồi lần lần tăng tiến có thể ba
ngày đêm ở luôn trong định. Một độ nọ, Tô cư sĩ thiền định luôn hai mươi mốt
ngày không ăn uống. Người tùy cận thấy ông ngồi quá lâu, đến gần dò xem thì hơi
thở ra vào đã tuyệt, không còn thoi thóp như mấy lần trước. Y không biết đó là
trạng thái sâu mầu của thiền định, lầm tưởng cư sĩ đã chết, liền đem ông đi
chôn sống luôn.
Lại có một vị tăng tu Tịnh Độ, niệm Phật mỗi ngày đêm đến mười
muôn câu. Do công đức niệm Phật, chỗ đất của sư đi đều hóa ra sắc vàng ròng.
Một hôm có người nạn dân đến xin tá túc. Sư nhìn người ấy rồi nói riêng với thị
giả: "Gã này có tướng đạo tặc, ngươi nên cho y ăn no rồi hãy bảo ra khỏi
nơi đây." Ông đạo nhỏ vì lòng thương xót, thấy người kia nài nỉ mãi, lưu
luyến chưa nỡ đuổi. Quả nhiên ít hôm sau, người ấy nửa đêm lén vào phòng sư, bẻ
gãy chân tay giết ông chết, trộm một ít đồ trong am rồi bỏ đi luôn.
Hai trường hợp trên cổ đức bình luận cho là sức định nghiệp
không thể tránh khỏi. Người tu có ba chướng là: phiền não chướng, nghiệp chướng
và báo chướng, mà sức nghiệp chướng lại nặng nề nguy hiểm hơn hai thứ kia.
Nhưng tại sao khi chưa tu thì chẳng có chi, đến lúc tu hành càng cao lại thường
gặp nhiều chướng nạn? - Đó cũng bởi chúng ta là phàm phu thời mạt pháp, cố
nhiên phần đông chướng duyên đều nặng. Nếu chúng ta nghiệp nhẹ, tất đã sanh vào
thời tượng pháp hoặc chánh pháp rồi. Nhưng không phải do tu hành nên phát sanh
chướng nạn, mà đó là sức chuyển nghiệp, chuyển quả báo nặng thành quả báo nhẹ,
chuyển quả báo đời sau thành quả báo hiện tại. Giả sử ta có mười phần nghiệp
chướng, do công đức tu nên tiêu trừ được bảy phần, còn phát hiện ra ba phần. Và
đáng lẽ quả báo ấy đến sau mới trả, nhưng nhờ sức tu niệm, nên chỉ chịu quả nhẹ
trong kiếp này để mau được giải thoát.
Như Giới Hiền luận sư tiền kiếp là một vị quốc vương đem binh đi
đánh dẹp các nơi, tạo nghiệp sát quá nhiều, đáng lẽ đến đời này sau khi hưởng
phước thừa rồi chết, sẽ phải bị đọa vào địa ngục. Nhưng nhờ Luận Sư chí tâm tu
hành và hoằng dương Phật pháp, nên mỗi ngày ông bị một cơn bịnh trạng như có
nhiều lưỡi gươm vô hình đâm chém trong thân. Như thế trải qua hai năm bịnh mới
dứt. Do duyên đó mà luận sư tiêu được nghiệp địa ngục, sanh lên cõi Đâu Suất Đà
Thiên. Lại như ông Ngô Mao tiền nhân cũng tạo nghiệp sát, đáng lẽ phải đọa làm
heo bảy kiếp cho người giết. Nhưng nhờ ông trường trai niệm Phật, nên khi thọ
số mãn, bị giặc đâm bảy dao trả nghiệp xong một lần, rồi được vãng sanh về Cực
Lạc. Nói tóm lại, lời tục gọi đó là trạng thái “dồn nghiệp”.
Tuy nhiên, không phải mỗi người tu đều bị trả quả. Có người càng
tu càng có điểm tốt, càng được an thuận, không bị trở ngại chi. Đó là do vị ấy
những kiếp về trước không tạo nghiệp chi quá nặng, hoặc đã từng tu niệm và có
nhiều căn lành. Nhưng luận theo phần đông, đại khái nếu không gặp những chướng
ngại lớn, cũng vấp phải những chướng ngại nhỏ. Ngoài những trở ngại của ngoại
duyên, lại còn có ba nguyên nhân phát sanh chướng nghiệp:
1. Cứ theo tông Pháp Tướng, trong tạng thức của ta có chứa lẫn
lộn những nghiệp chủng lành dữ. Khi niệm Phật hay tham thiền, ta huân tập hạt
giống công đức vô lậu vào, tất các nghiệp chủng kia phải phát hiện. Ví như một
khu rừng rậm nhiều thú, nếu có dân cư đến khai hoang, tất cây cối bị đốn, các
loài thú đều chạy ra. Cảnh tướng và phiền não chướng duyên do nghiệp chủng phát
hiện cũng thế. Đây gọi là sức phản ứng của chủng tử nghiệp.
2. Có những vị tu hành chẳng am tường giáo lý, không hiểu những
tướng của nội tâm và ngoại cảnh đều như huyễn, chưa phát minh thế nào là chân
và vọng, nên nhận định sai lầm. Do đó đối với cảnh duyên trong ngoài sanh niệm
tham chấp, vui mừng, thương lo, sợ hãi, mà tự gây chướng nạn cho mình.
3. Lại ví như người theo họa đồ đi tìm mỏ vàng, đường sá phải
trải qua non cao, vực thẳm, đồng vắng, rừng sâu, bước hành trình tất phải nhiều
công phu và gian lao khổ nhọc. Nếu người ấy không vững lòng, không biết tùy sức
tùy hoàn cảnh mà nhẫn nại uyển chuyển, tất phải thối lui. Hoặc có khi bỏ cuộc
ghé vào một cảnh tạm nào đó, hay chết giữa đường. Lộ trình tu tập cũng thế,
hành giả tuy y theo kinh giáo mà thật hành, song nếu không biết tùy sức tùy
hoàn cảnh nhẫn nại uyển chuyển, sự lập chí không bền lâu, tất sẽ thất bại.
Chướng nạn đó cũng do chính mình gây ra.
Trên đây là đại lược một ít nguyên nhân của các điều chướng
ngại.
Tiết 63 Các Duyên Ma Khảo
Những duyên nghiệp khảo đảo gây chướng ngại cho người tu, có rất
nhiều chi tiết sai biệt. Nay chỉ xin tóm tắt đại cương qua sáu điểm:
1. Nội Khảo: - Có người trong lúc tu tập, bỗng khởi lên những
tâm niệm tham lam, giận hờn, dục nhiễm, ganh ghét, khinh mạn, nghi ngờ, hoặc si
mê dễ hôn trầm buồn ngủ. Những tâm niệm ấy đôi khi phát hiện rất mãnh liệt, gặp
duyên sự nhỏ cũng dễ sanh cau có bực mình. Nhiều lúc trong giấc mơ, lại thấy
các tướng thiện ác biến chuyển. Trong đây những tình tiết chi ly không thể tả
hết được. Gặp cảnh này, hành giả phải ý thức đó là do công năng tu hành nên
nghiệp tướng phát hiện. Ngay lúc ấy, nên giác ngộ các nghiệp tướng đều như
huyễn, nêu cao chánh niệm, tự nhiên những tướng ấy sẽ lần lượt tiêu tan. Nếu
không nhận thức rõ ràng, tất bị nó xoay chuyển làm cho thối đọa. Tiên đức bảo:
"Chẳng sợ nghiệp khởi sớm, chỉ e giác ngộ chậm," chính là điểm này.
Có người đang lúc dụng công, bỗng phát sanh tán loạn, mỏi nhọc khó cưỡng nỗi.
Ngay khi ấy, nên đứng lên lễ Phật đi kinh hành, hoặc tạm xả lui ra ngoài đọc
một vài trang sách, sửa năm ba cành hoa, chờ cho thanh tĩnh sẽ trở vào niệm
Phật lại. Nếu không ý thức, cứ cưỡng ép cầu cho mau nhứt tâm, thì càng cố gắng
lại càng loạn. Đây là sự uyển chuyển trong lúc dụng công, ví như thế giặc quá
mạnh tợ nước tràn, người chủ soái phải tùy cơ, nên cố thủ chớ không nên ra
đánh. Có vị tu hành, khi niệm Phật bỗng thấy cô tịch như bản đàn độc điệu dễ
sanh buồn chán, thì không ngại gì phụ thêm trì chú, quán tưởng, hoặc tụng kinh.
Nhân tiện, xin thuật ra đây một việc để cho các bạn đồng tu thêm
phần nhận thức. Có một nữ Phật tử đến chỗ bút giả buồn khóc, thưa thật rằng:
mỗi khi cô niệm Phật tụng kinh độ vài mươi phút là ngủ gục lúc nào không hay,
có khi tiểu tiện ngay trước bàn Phật. Do đó cô sợ tội bỏ luôn không dám tụng
niệm. Bút giả khuyên cô nên chuyên sám hối trong một thời gian. Quả nhiên ít
lâu sau cô dứt hẳn nghiệp tướng ấy, lại nằm mơ thấy nhiều vỏ ốc, đập mỗi vỏ ốc
ra thấy một hạt sen. Cô này nghiệp si nặng, vỏ ốc là hiện tướng của nghiệp si,
đập vỏ ốc thấy hạt sen là phá si mê mà thành tựu nhân lành giác ngộ vãng sanh
về cõi Phật.
Lại có một vị sa di trần thuật lại rằng: Cứ ít đêm chú nằm mơ,
thấy ba bốn mươi người cầm dao gậy đến đánh chém. Chú thay đổi trì Đại Bi rồi
Chuẩn Đề chân ngôn đều không thành tựu, vì mỗi lần tụng độ ít biến là nhức đầu
cả ngày, uống thuốc cũng không khỏi. Biết mình nghiệp nặng, chú phát nguyện lạy
Tam Thiên Phật để sám hối. Nhưng khi lên chùa lễ Phật thì thấy một người tướng
mạo cao lớn hung dữ đến xô té không cho lạy. Do đó chú đến buồn khóc bảo: Có
tội thì sám hối tu hành, nhưng sám hối tu hành không được, chẳng biết phải làm
sao? Bút giả nghe xong suy nghĩ, biết vị này nghiệp sát nặng, mà chú Đại Bi
cùng Chuẩn Đề có sức phá nghiệp khá mạnh, và tâm nguyện lạy Tam Thiên Phật là
điều nguyện rộng lớn. Đây là lỗi ở chỗ chỉ biết cầu riêng phần mình mà không
cầu cho các vong oan trái, và cách dụng công phá nghiệp không khéo uyển chuyển.
Ví như người yếu bị bịnh phong nặng, đáng lẽ phải dùng các vị thuốc nhẹ như
Phòng Phong, Kinh Giới lần lượt tiêu trừ, mà trái lại vì muốn cho mau lành,
dùng đến các vị thuốc mạnh như Mã Tiền, Bã Đậu để khu phong, tất con bịnh bị
hành hạ chịu không nổi. Do đó bút giả khuyên chú mỗi đêm nên thử lạy Tiểu Sám
Hối theo Kinh Pháp Hoa, rồi quì tụng Vãng Sanh hăm mốt biến, đoạn niệm Phật độ
năm trăm câu để cầu tiêu tội, và nguyện cho các mối tiền oan được mau siêu
thoát. Cứ hành trì như thế trong một thời gian, nếu thấy yên ổn, có thể lần
lượt tăng thêm. Chú sa di y theo lời, quả nhiên trạng thái ấy dứt tuyệt.
Trên đây là những nghiệp tướng khảo đảo bên trong, nếu không
biết giác ngộ uyển chuyển phá trừ, tất sẽ thành ra chướng nạn.
2. Ngoại Khảo: - Đây là những chướng cảnh bên ngoài làm duyên
khó khăn thối đọa cho hành giả. Chứng cảnh đó là sự nóng bức, ồn ào, uế tạp,
hoặc chỗ quá rét lạnh hay nhiều trùng, kiến, muỗi mòng. Gặp cảnh này cũng nên
uyển chuyển, đừng chấp theo hình thức, chỉ cầu được an tâm. Chẳng hạn như ở
cảnh quá nóng bức, chẳng ngại gì mặc áo tràng mỏng lễ Phật, rồi ra ngồi chỗ mát
mà trì niệm, đến khi xong lại trở vào bàn Phật phát nguyện hồi hướng. Hoặc gặp
chỗ nhiều muỗi, có thể ngồi trong màn thưa mà niệm Phật. Như ở miền Bắc Trung
Hoa vì thời tiết quá lạnh, các sư khi lên chánh điện tụng kinh, cũng phải mang
giày vớ và đội mũ cẩn thận. Có hàng Phật tử vì nhà nghèo, làm lụng vất vả, đi
sớm về khuya, hoặc nợ nần thiếu hụt, rách rưới đói lạnh, vợ yếu con đau, không
có chỗ thờ cúng trang nghiêm. Trong hoàn cảnh ấy sự tu tập thật ra rất khó,
phải có sự nhẫn nại cố gắng như bà lão ăn xin niệm Phật, mới có thể thành công.
Hoặc có người vì nhiều chướng nghiệp, lúc không tu thì thôi, khi sắp vào bàn
Phật lại nhức đầu, chóng mặt sanh đủ chứng bịnh, hay có khách viếng thăm và
nhiều việc bất thường xảy đến. Gặp những cảnh như thế, phải cố gắng và khéo
uyển chuyển tìm phương tu hành. Sự cố gắng uyển chuyển tùy trường hợp sai biệt
mà ứng dụng không thể nói ra hết được. Nên nhớ gặp hoàn cảnh bất đắc dĩ, phải
chú trọng phần tâm đừng câu nệ phần tướng mới có thể dung thông. Cõi Ta Bà ác
trược vẫn nhiều khổ lụy, nếu không có sức cố gắng kham nhẫn, tất sự tu hành khó
mong thành tựu.
3. Nghịch Khảo: - Trên đường đạo, nhiều khi hành giả bị nghịch
cảnh làm cho trở ngại. Có người bị cha mẹ anh em hay vợ chồng con cái ngăn trở
hoặc phá hoại không cho tu. Có vị thân mang cố tật đau yếu mãi không lành. Có
kẻ bị oan gia luôn theo đuổi tìm cách mưu hại. Có người bị vu oan giá họa,
khiến cho ngồi tù chịu tra khảo hoặc lưu đày. Có vị bị sự tranh đua ganh ghét,
hoặc bêu rao nhiều tiếng xấu xa, làm cho khó an, khó nhẫn. Điều sau này lại
thường xảy ra nhiều nhứt. Những cảnh ngộ như thế đều do sức nghiệp. Lời xưa
từng nói: "Hữu bất ngu chi dự, hữu cầu toàn chi hủy." Câu trên hàm ý
nghĩa: Có những tiếng khen, những vinh dự bất ngờ, không đáng khen mà được
khen; và có những sự kiện thật ra không đáng khinh chê, lại diễn thành cảnh
khinh hủy chê bai trọn vẹn. Để chứng minh điểm này, bút giả xin thuật một vài
việc nhỏ:
Trước đây vào thời Pháp thuộc, có một vị hòa thượng được triều
đình Huế ban cho bằng Tăng Cang, và phong tặng hiệu chùa là Sắc Tứ. Do đó đi
đâu hòa thượng đều có xe ngựa và bê son, tích trượng theo hầu, thậm chí lúc lên
xuống đò cũng có người võng. Một tên du đãng thấy thế bất mãn chưởi thề, rồi
tuyên ngôn để đến ngày Rằm tháng Bảy sẽ lên chùa xài mắng hòa thượng một trận
trước mặt các tín đồ. Đến ngày ấy, tên du đãng sau khi uống rượu xong, ở trần
vắt áo lên chùa, gặp dịp một người Phật tử đem con quy nhờ hòa thượng chú
nguyện thả nơi ao sen. Thấy quang cảnh ấy, y bỗng cảm động, trở về kêu đồng bọn
lên chùa quy y, rồi từ đó đi đâu cũng khen hòa thượng là bậc hiền lành đạo đức.
Cho đến việc hầu hạ võng giá, y cũng nói là do thầy mình có phước.
Lại câu chuyện xảy ra cách đây không lâu, có hai Phật tử ở xa
đến viếng thăm một vị thượng tọa đồng hương đã từng quen thân từ trước. Khi đến
chùa thì vị thượng tọa vừa đi khỏi cách đó độ mười lăm phút. Hai người gạn hỏi,
ông thị giả nói thầy vừa đi khỏi; hỏi mấy vị khác, họ không biết bảo là mới
thấy thầy ở đây. Chỉ một chút đó mà hai Phật tử ấy sanh lòng nghi ngờ vị thượng
tọa không muốn tiếp mình, từ biệt luôn không đến chùa, rồi đi đâu cũng chê bai
vị thượng tọa nọ gồm những điều không đức hạnh.
Thật ra, cung cách của vị hòa thượng trên không đáng khen mà
được khen. Và hành động vô tâm của vị thượng tọa kể sau không có gì đáng chê,
lại bị hiểu lầm khinh hủy. Thế gian cho đó là điều may rủi, thuyết nhân quả nhà
Phật nhận định là lúc nghiệp duyên tội phước hiện ra. Cổ thi có câu:
Vẻ chi
ăn uống sự thường.
Cũng là tiền định khá thương lọ là.
Cũng là tiền định khá thương lọ là.
Một việc nhỏ đã như thế, thì tất cả các nghịch cảnh khác đều do
túc nghiệp, hoặc hiện nghiệp xui khiến. Khi gặp những cảnh này hành giả chỉ nên
ẩn nhẫn sám hối, chớ buồn phiền oán trách mà thối thất đạo tâm.
4. Thuận Khảo: - Có người không gặp cảnh nghịch mà lại gặp cảnh
thuận, như cầu gì được nấy, nhưng sự thành công đều thuộc duyên ràng buộc chớ
không phải giải thoát. Có vị khi phát tâm muốn yên tu bỗng cảnh danh lợi sắc
thanh chợt đến, hoặc nhiều người thương mến muốn theo phụng sự gần bên. Thí dụ
như người xuất gia khi phát tâm tu, bỗng có kẻ đến thỉnh làm tọa chủ một ngôi
chùa lớn; hoặc như người tại gia thì có thơ mời làm tổng, bộ trưởng, hay một
cuộc làm ăn mau phát tài. Đây là những cảnh thuận theo duyên đời quyến rũ người
tu, rồi dẫn lần đến các sự phiền toái khác làm mất đạo niệm. Người ta chết vì
lửa thì ít, mà chết vì nước lại nhiều, nên trên đường tu cảnh thuận thật ra
đáng sợ hơn cảnh nghịch. Cảnh nghịch đôi khi làm cho hành giả tỉnh ngộ dễ thoát
ly niệm tham nhiễm, hoặc phẫn chí lo tu hành. Còn cảnh thuận làm cho người âm
thầm thối đạo lúc nào không hay, khi bừng tỉnh mới thấy mình đã lăn xa xuống
dốc. Người xưa nói: "Việc thuận tốt được ba. Mê lụy người đến già."
Lời này đáng gọi là một tiếng chuông cảnh tỉnh. Thế nên duyên thử thách của sự
thuận khảo rất vi tế, người tu cần phải lưu ý.
5. Minh Khảo: - Đây là sự thử thách rõ ràng trước mắt mà không
tự tỉnh ngộ. Chẳng hạn như một vị tài đức không bao nhiêu, nhưng được người
bưng bợ khen là nhiều đức hạnh, tài năng, có phước lớn, rồi sanh ra tự kiêu tự
đắc, khinh thường mọi người, làm những điều càn dở, kết cuộc bị thảm bại. Hoặc
một vị có đủ khả năng tiến cao trên đường đạo, nhưng bị kẻ khác gàn trở, như
bảo ăn chay sẽ bị bịnh, niệm Phật, trì chú nhiều sẽ bị đổ nghiệp, gặp nhiều
việc không lành, rồi sanh ra e dè lo sợ, thối thất đạo tâm. Hoặc có những cảnh
tự mình biết nếu tiến hành dễ rước lấy sự lỗi lầm thất bại, nhưng vì tham vọng
hay tự ái, vẫn đeo đuổi theo. Hoặc đối với các duyên bên ngoài, tuy biết đó là
giả huyễn nhưng không buông bỏ được, rồi tự chuốc lấy sự buồn khổ vào tâm.
Như có một vị sư đổ ra nhiều công của mướn thợ chẻ đá, thợ mộc,
thợ hồ, xây cất một cảnh chùa to trên núi. Khi ngôi tự viện vừa hoàn thành, thì
sư cũng vừa kiệt sức mang bịnh nặng. Lúc sắp chết, ông sai đệ tử võng đi quanh
chùa rờ từ viên đá buồn khóc tiếc than!
Lại trước đây có một tăng sĩ địa vị trong đạo khá cao, tánh tình
chân thật rộng rãi ưa bố thí, nhưng vấp phải một khuyết điểm là hay tự đắc, tự
kiêu. Vài chánh khách thấy được chỗ đó, đem một nhà tướng sĩ đến giả vờ thăm
chơi, rồi thuận tiện nhìn qua khen sư nhiều phước tướng, tất được vô số người
ủng hộ, danh vọng càng thành đạt tiến cao. Ông ấy lại nói thêm, nếu sư thích
hoạt động, sẽ thành một tay lãnh tụ, và như ở ngoài đời có thể làm đến tổng
thống. Sư nghe xong tuy khiêm nhường đôi tiếng, nhưng lộ vẻ cực kỳ hoan hỷ.
Nhân đó, các chánh khách than vãn thời thế, thương dân chúng khổ não, vận nước
suy đồi, rồi dần dà thuyết phục lôi cuốn sư vào một cuộc vận động chánh trị. Và
cũng bởi đó, sư bị tai nạn trong một thời gian khá lâu.
Thế nên kẻ dễ dãi nhẹ dạ thường hay bị phỉnh gạt. Khi chưa diệt
được tham vọng dễ bị người khác dùng tiền tài, sắc đẹp hoặc danh vị cuốn lôi.
Cho đến nếu còn tánh nóng nảy khí khái, tất dễ bị người khích động, gánh vác
lấy những việc phiền phức vào thân. Đây là những cạm bẫy của đời mà cũng là của
đạo, xin nêu ra để khuyên nhắc cùng nhau, nếu không dè dặt những điểm đó, sẽ
vương vào vòng chướng nghiệp. Đối với những duyên thử thách như thế, hành giả
phải nhận định cho sáng suốt, và sanh lòng quả quyết tiến theo đường lối hợp
đạo mới có thể thắng nó được.
6. Ám Khảo: - Điều này chỉ cho sự thử thách trong âm thầm không
lộ liễu, hành giả nếu chẳng khéo lưu tâm, tất khó hay biết. Có người ban sơ
tinh tấn niệm Phật, rồi bởi gia kế lần sa sút, làm điều chi thất bại việc ấy,
sanh lòng lo lắng chán nản, trễ bỏ sự tu. Có vị công việc lại âm thầm tiến
triển thuận tiện rồi ham mê đeo đuổi theo lợi lộc mà quên lãng đường lối tu
hành. Có kẻ trước tiên siêng năng tụng niệm, nhưng vì thiếu sự kiểm điểm, phiền
não ở nội tâm mỗi ngày tăng thêm một ít, lần lượt sanh ra biếng trễ, có khi đôi
ba tháng hay một vài năm không niệm Phật được một câu. Có người tuy sự sống vẫn
điều hòa đầy đủ, nhưng vì thời cuộc bên ngoài biến chuyển, thân thế nhà cửa nay
đổi mai dời, tâm mãi hoang mang hướng ngoại, bất giác quên bỏ sự trì niệm hồi
nào không hay.
Trên đây đều là ảnh hưởng diễn biến của nghiệp thiện ác, nhưng
nó có sức thầm lôi cuốn hành giả làm cho bê trễ sự tu trì, nên gọi là
"khảo". Khi mới tu, ai cũng có một điểm hảo tâm, nhưng lần lượt bị
những duyên nghiệp trong ngoài, một trăm người đã rớt hết chín mươi chín. Lời
xưa nói: "Tu hành nhứt niên Phật tại tiền, nhị niên Phật tại tây thiên,
tam niên vấn Phật yếu tiền." Câu này có ý nghĩa: sự tu hành năm đầu Phật
như ở trước mặt, năm thứ hai Phật đã về Tây, sang năm thứ ba ai muốn hỏi đến
Phật hay bảo niệm Phật, phải trả tiền mới chịu nói tới, hoặc niệm quá ít câu.
Lời ngụ ngôn này cũng chỉ vào những điểm ở trên, hành giả cần phải lưu tâm chú
ý.
Mục B. Phương Thức Hóa Giải Chướng Duyên
Tiết 64 Lời Khuyên Dạy Của Cổ Đức
Khi mới vào chùa, bút giả nghe được một truyền thuyết bao hàm ẩn
ý, mà không biết có đúng với nguyên ngữ chăng, và phát xuất từ đâu? Câu ấy là:
"Phật cao nhứt xích, ma cao nhứt trượng, Phật cao nhứt trượng, ma cao quá
trượng đầu, Phật cao siêu quá trượng đầu, ma quy hàng Phật." Ý nghĩa câu
này là: "Phật cao một thước, ma cao một trượng. Phật cao một trượng, ma
cao khỏi đầu trượng; nếu Phật cao vượt khỏi đầu trượng nữa, ma sẽ quy hàng
Phật." Suy gẫm theo câu trên, người tu phải làm sao cho ông Phật của mình
cao hơn con ma, nếu chẳng thế tất bị ma chướng đánh đổ. Cho nên trong làng tu,
những kẻ bị thối bại không nên đổ cho hoàn cảnh, hoặc phiền trách ai, chỉ trách
tại ông Phật của mình thua con ma mà thôi. Nếu cố gắng giữ vững chí nguyện, ma
chướng sẽ tiêu trừ. Vì biết trên đường tu có nhiều chướng ngại, khi xưa đức Đạt
Ma Tổ Sư đã nói bốn hạnh để làm phương châm tiến đạo cho hàng đệ tử. Bốn hạnh
ấy là: Báo Oan Hạnh, Tùy Duyên Hạnh, Xứng Pháp Hạnh và Vô Sở Cầu Hạnh.
1. Sao gọi là Báo Oan Hạnh? - Chúng ta từ trước đến nay luân hồi
trong sáu nẻo, mỗi đời đều gây nghiệp trái hoặc ân hoặc oán, từ việc nhỏ đến
việc lớn, có thể nói là vô lượng vô biên. Cho nên khi ta hành đạo, tuy nhờ công
đức tu tập tiêu trừ một phần nào, nhưng các nghiệp chưa tan, tất phải lần lượt
đền trả. Như người thường đau yếu hoặc tàn tật, do kiếp trước đã tạo nghiệp sát
sanh. Người bị nhiều tiếng thị phi khen chê, do kiếp trước ỷ thông minh quyền
thế xem rẻ người, hoặc đã tạo nghiệp hủy báng. Người bị nghèo khổ thiếu hụt, do
kiếp trước không có lòng xót thương tu hạnh bố thí. Người bị gông cùm tra khảo
tù đày, do kiếp trước hay trói buộc, đánh đập, giam nhốt chúng sanh. Kẻ bị cô
độc lẻ loi thiếu người phụ trợ, do kiếp trước không hoan hỷ kết duyên với mọi
người. Những nghiệp như thế vô lượng vô biên, ngày nay tu hành khi bị oan trái
đến, phải an lòng nhẫn nại chịu đền trả, không nên oán trách buồn phiền. Nơi
kiếp luân hồi, chúng sanh đều có ăn uống cùng gia đình đôi bạn, nên trong các
nghiệp duy có nghiệp sát và nghiệp ái là nặng nhứt. Cổ đức đã than: "Bể
nghiệp mênh mang, khó đoạn không chi hơn ái dục. Cõi trần man mác, dễ phạm duy
chỉ có sát sanh!"
- Bút giả từng nghe một Phật tử Bắc Việt thuật lại câu chuyện,
vì lâu quá chỉ nhớ phần đại khái, quên mất tên họ địa chỉ của người trong cuộc.
Phật tử ấy nói: "Có một vị sư nguyên là thầy giáo, vì tỉnh ngộ cảnh thế
phù du, nên lên tịnh tu trên núi. Trải một thời gian, vị sư được chư thần mách
bảo rằng: ‘Ông có duyên nợ mười chín năm với một cô tên họ là thế, nay tuy đã
tu hành không nên kết duyên chồng vợ, nhưng phải xuống núi dạy dỗ giác ngộ cô
kia, trả xong mối nợ tiền khiên đúng như thời hạn ấy, rồi trở lên núi tu hành
mới có thể thành công’. Vị sư y lời xuống núi, quả nhiên gặp một cô tên họ đúng
như chư thần đã bảo, cảm mến đeo đuổi. Sư khuyên nhủ dạy đạo cho cô, trả xong y
theo thời hạn rồi lên núi. Lúc lâm biệt cô ấy vẫn còn quyến luyến khóc
lóc." Đây là sự trả nợ nần về nghiệp ái.
Nơi truyện Quần Tiên, nhân tiết Trung Thu, chàng văn sĩ Vân Tiêu
lên núi chơi. Trong đêm Rằm, chàng mục kích chư tiên nương mây cỡi hạc giáng
xuống một tòa thạch bàn, bày tiệc trái ngon rượu quý, vừa đàn ngâm hát rằng:
Đêm Thu
một khắc một chầy
Vầng trăng khéo rọi cảnh này sơn âm!
Nghiêng bầu hỏi bạn đồng tâm
Hằng Nga khuất bóng biết tìm nơi đâu?
Vầng trăng khéo rọi cảnh này sơn âm!
Nghiêng bầu hỏi bạn đồng tâm
Hằng Nga khuất bóng biết tìm nơi đâu?
Bên tiên nữ có một nàng tên là Thái Loan, sắc đẹp dịu dàng, ca
ngâm hay nhất, làm cho Vân Tiêu tuy ẩn bóng rình nghe, cũng bàng hoàng xúc
động. Giây lát sau, một vị lão tiên uống rượu xong, ca rằng:
Hữu
duyên tương hội tại tiên đàn
Ưng đắc Vân Tiêu giá Thái Loan!
Ưng đắc Vân Tiêu giá Thái Loan!
Nghe hai câu ấy, Vân Tiêu phải chường mặt ra dự vào đàn tiên.
Chư tiên bảo Thái Loan tiên nữ còn trần duyên với Vân Tiêu mười ba năm, truyền
đồng tử đem sổ ra xóa bỏ tiên tịch. Và sau mười ba năm sống với Vân Tiêu, trần duyên
đã mãn, Thái Loan dùng phép ẩn thân bay về non tu lại. Cho nên chư tiên vẫn còn
ở trong vòng nhân duyên kiếp quả.
Về nghiệp sát, như Sư Tử tôn giả bên Ấn Độ và Thần Quang nhị tổ
ở Trung Hoa tuy đều đắc đạo, nhưng ngày kết liễu vẫn phải an nhiên chịu chém để
đền nợ mạng. Lại như ngài Mục Kiền Liên tuy đắc quả A La Hán, thần thông bậc
nhất trong hàng Thanh Văn, nhưng vì muốn trả túc nghiệp, nên để bọn hung đồ
dùng đá gậy liệng đánh cho đến chết, thi hài lại bị vùi trong hầm phẩn. Đức
Phật thấy thế thương xót, sai đệ tử đem thây Ngài lên tắm rửa sạch sẽ, xoa ướp
dầu thơm, rồi đem đi trà tỳ thâu lấy xá lợi. Và như thái tử nước An Tức xuất
gia tu hành đắc đạo, dùng Túc Mạng Trí thấy mình còn nghiệp trái sát sanh, nên
ba phen chuyển kiếp đến xứ Lạc Dương ở Trung Hoa trả nợ mạng ba lần. Kiếp sau
rốt, ngài là sa môn An Thế Cao.
Cho nên trên đường tu đâu biết ai là toàn vẹn, ta không nên tự
mãn mà khinh thường người. Bởi nghiệp trái của chúng sanh rất nhiều, có khi đền
trả hết lớp này lại đến lớp khác. Nhiều vị xem dường rảnh rang không oan trái,
nhưng chưa hẳn là không có, chỉ vì chưa đến thời tiết nhân duyên đền trả đó
thôi. Muốn dứt oan khiên ta phải an nhẫn sám hối và cố gắng tu hành để diệt
trừ. Thi sĩ Nguyễn Du có lẽ đã tin sâu về thuyết nghiệp báo và sự cải tạo nhân
quả của nhà Phật, nên mới có câu:
Đã mang
lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Có trời mà cũng có ta...
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa
Có trời mà cũng có ta...
Lời này đã được nhiều bậc thức giả công nhận.
2. Thế nào là Tùy Duyên Hạnh? - Đây là nói sự an phận tùy duyên
của người tu cảnh nào sống theo cảnh ấy. Như cảnh giàu sang tùy theo giàu sang,
cảnh nghèo hèn tùy theo nghèo hèn, cảnh man rợ tùy theo man rợ, cảnh hoạn nạn
tùy theo hoạn nạn, cho đến cảnh thạnh suy, họa phước, đắc thất, thị phi... cũng
đều như thế. An phận tùy duyên đây, là giàu sang mà không tự đắc kiêu căng,
nghèo hèn hoạn nạn mà không buồn rầu đổi chí. Tại sao thế? Vì tất cả cảnh thạnh
suy họa phước đều như huyễn, chỉ tùy nghiệp hiện lên một thời gian rồi diệt, có
chi đáng tham luyến nản buồn?
Khi xưa, đức Khổng Tử và đồ đệ bị giặc vây giữa nước Trần, nước
Thái, thầy trò tuyệt lương đã bảy ngày, song Ngài vẫn khảy đàn tươi cười. Tử
Cống hỏi: "Tại sao gặp hoàn cảnh sống chết không định ngày, mà phu tử hãy
còn vui cười được?" Ngài đáp: "Việc gì ta đã cố gắng làm hết sức ta
mà xảy ra như vậy, là mạng trời, buồn rầu thương khóc nào có ích chi?" Như
đức Khổng Tử có thể gọi là bậc thánh tri mạng, luôn luôn bình tĩnh sáng suốt,
không bị bối rối đổi thay trước mọi hoàn cảnh. Người tu nên như thế, phải xem
ruộng vườn, nhà cửa, quyến thuộc, tài sản đều là duyên giả tạm, không vì nó mà
quyến luyến bận tâm, mới có thể tiến lên đường giải thoát.
3. Sao gọi là Xứng Pháp Hạnh? - "Pháp" đây là Chân Như
pháp, đối với người tu Tịnh Độ là Niệm Phật Tam Muội. Người tu Thiền khi đi
đứng nằm ngồi, tâm phải xứng hợp với pháp Chân Như, như nước hòa nước, tợ hư
không hợp với hư không. Hành giả tu Tịnh Độ cũng thế, tâm lúc nào cũng trụ nơi
câu niệm Phật. Cổ đức bảo: "Nếu tạm thời không trụ nơi chánh định, tức
đồng như người đã chết." Bởi không trụ được nơi chánh định, tức là bị trần
cảnh đoạt. Bị trần cảnh cướp đoạt lôi cuốn, thì pháp thân huệ mạng không còn.
Cho nên người tu Tịnh Độ nếu thường trụ nơi câu niệm Phật, thì tâm địa lần lần
lặng yên sáng suốt, cảm thông với Phật, chắc chắn sẽ được vãng sanh.
4. Thế nào là Vô Sở Cầu Hạnh? - Đạo là chỉ cho tâm hạnh trong
sạch không mong cầu điều chi. Bởi tất cả pháp đều như huyễn, sanh rồi diệt,
diệt lại sanh, có chi chân thật để mong cầu? Vả lại pháp thế gian đều tương
đối, trong họa có phước, trong phước có họa, nên người trí vẫn bình thản, ở
cảnh thạnh suy họa phước đều không động tâm. Thí dụ: một tăng sĩ khi ẩn tu nơi
am tranh vắng vẻ, sự sống hẩm hiu, ít người thăm viếng, duyên đời tuy suy nhưng
đạo lại thạnh. Ít lâu sau, nếu có người đạo tâm hay biết tới cúng dường, lần
lần lập nên chùa lớn, tăng chúng tập trung về đông đảo, chừng ấy phước duyên
tuy thạnh nhưng phần giải thoát lại suy, bởi vị ấy mắc bận tâm lo ứng phó công
việc bên ngoài. Lẽ họa phước ẩn nương nhau cũng như thế. Cho nên tâm hạnh của
người tu là không cầu việc ác, hay cầu làm chúng sanh, cũng không cầu điều
thiện, hoặc cầu thành Phật. Có người hỏi: "Nếu niệm Phật không cầu vãng
sanh, không cầu phước huệ viên mãn để thành Phật, thì làm sao tu tiến?"
Đáp: "Bởi Phật là chơn không, càng cầu lại càng xa càng mất." Vì thế
Kinh Pháp Hoa nói: "Giả sử có vô số bậc Thanh Văn, Duyên Giác cho đến hàng
Bất Thối Bồ Tát, trong vô lượng kiếp suy nghĩ tìm cầu, cũng không thấy hiểu
được thật trí của Phật." Về sự vãng sanh, thì lối cầu của người tu là cầu
mà không cầu, không cầu mà cầu. Sự ứng dụng ấy như mặt gương sáng trong, khi
hình đến thì chiếu soi, hình đi, lại lặng yên rỗng suốt. Giữ sự thấy biết tìm
cầu thì lạc vào vọng tưởng, không thấy biết tìm cầu nào khác gì gỗ đá vô
tri!" Nói rộng ra, hạnh Vô Sở Cầu đây gồm cả ba môn: Không, Vô Tướng, Vô
Nguyện vậy.
Nếu người tu giữ theo bốn hạnh của đức Đạt Ma Tổ Sư đã dạy, thì
có thể bình thản trước mọi chướng duyên.
Tiết 65 Cách Giữ Vững Tâm Không Thối Chuyển
Trong luận Niệm Phật Bảo Vương Tam Muội có thuyết minh về Thập
Bất Cầu Hạnh, nghĩa là mười hạnh không cầu, để phá mười điều chướng ngại lớn.
Mười điều chướng ngại này gồm nhiếp tất cả chướng ngại. Cho nên nếu nắm vững
mười hạnh không cầu đây, thì tất cả chướng ngại đều phải tiêu tan. Mười hạnh ấy
là:
1. Thân không cầu không bịnh. Thân không đau bịnh thì tham dục
dễ sanh. Tham dục sanh thì phá giới thối đạo.
2. Cuộc đời không cầu không hoạn nạn. Đời không hoạn nạn, thì
kiêu xa dễ khởi. Khi lòng kiêu mạn xa hoa khởi lên, sẽ khinh dễ đè lấn tất cả mọi
người.
3. Tu tâm không cầu không chướng ngại, tâm không chướng ngại thì
sự học sẽ vượt bậc. Học vượt bậc tất có lỗi chưa được cho là mình đã được, đã
thông suốt.
4. Lập hạnh không cầu không bị ma chướng. Hạnh không ma chướng
thì sức thệ nguyện không bền chắc. Nguyện không bền chắc sẽ có lỗi chưa chứng
cho là mình đã chứng.
5. Mưu sự không cầu dễ thành tựu. Sự dễ thành tựu thì sanh niệm
khinh lờn. Niệm khinh lờn sanh, tất mang lỗi tự đắc cho rằng mình đủ đức hạnh
tài năng.
6. Giao hảo không cầu mình được lợi ích. Mình được ích lợi thì
hư mất đạo nghĩa. Đạo nghĩa hư mất, tất chỉ thấy lỗi của người.
7. Đối với người không cầu được sự thuận thảo. Người thuận thảo
thì mình dễ tự kiêu. Và lòng đã kiêu căn, tất chỉ thấy phần phải của mình.
8. Làm ơn không cầu báo đáp. Cầu báo đáp thì lòng có chỗ tính
toan. Đã có tính toan tất sẽ ham lợi khoe danh.
9. Thấy lợi không cầu mình được phần. Cầu được phần thì lòng si
nổi động. Khi lòng si nổi dậy, tất sẽ bị mối lợi nhơ làm tiêu hủy thanh danh.
10. Bị oan ức không cầu biện minh. Cầu biện minh thì lòng nhơn
ngã còn chưa dứt. Tâm nhơn ngã thị phi chưa dứt, tất mối oán hận sẽ từ đó nảy
sanh ra nhiều.
Suy qua các điểm trên, ta thấy cuộc đời đầy nỗi chướng ngại, mà
có thể khái quát lại trong 10 điều:
1. Thân
đau bịnh
2. Gặp hoạn nạn
3. Sự tu học bị ngăn trở
4. Khi lập hạnh ma chướng phá
5. Mưu sự thất bại
6. Bạn bè phản phúc lãnh đạm
7. Nhiều kẻ chống đối
8. Làm ơn mắc oán
9. Người mưu chiếm lợi danh
10. Chịu nỗi oan ức
2. Gặp hoạn nạn
3. Sự tu học bị ngăn trở
4. Khi lập hạnh ma chướng phá
5. Mưu sự thất bại
6. Bạn bè phản phúc lãnh đạm
7. Nhiều kẻ chống đối
8. Làm ơn mắc oán
9. Người mưu chiếm lợi danh
10. Chịu nỗi oan ức
Trong mười điều này, luận Bảo Vương Tam Muội đã dùng mười hạnh
không cầu để phá trừ. Thế thì trong phước có họa, trong họa có phước, trong
thông có ngại, trong ngại có thông. Vì hiểu lẽ này nên các bậc tu hành khi xưa
đã dùng "sự chướng ngại làm duyên tiến đạo." Tiên đức có bảo:
"Vô nhơn kiến xúc, đạo quả nan thành!" Câu này có nghĩa: "Nếu
không bị người làm xúc não, tất đạo quả của mình khó thành tựu." Bởi sự
khinh hủy chưởi mắng, giá họa vu oan, và mọi chướng ngại khác là "cái mức
để đo lường đạo lực của người tu." Nếu gặp những chướng duyên đó mà vẫn
nhẫn nại an nhiên được, tất chứng tỏ người ấy đã tu tiến đến mức khá cao. Bằng
chẳng thế, làm sao đo lường được mức tu tiến của mình? Thật ra không phải người
tu mong cầu sự chướng ngại, mà vì đường đạo đầy nỗi bất trắc khó khăn, nên cần
luôn luôn cảnh giác đặt mình trước mọi nỗi chướng duyên, để khi lâm cảnh vẫn an
nhiên không rối động. Diệu Hiệp đại sư bảo: "Mười hạnh trên, duy người trí
huệ hùng tâm mới áp dụng nổi. Nếu biết xét soi giác ngộ, giữ vững mười điều
này, thì tuy vào cảnh giới ma không bị ma làm thối chuyển. Dù cho ở trong cảnh
sắc thinh, danh lợi, thương ghét, thị phi, thạnh suy, đắc thất... vẫn được an
nhiên."
Cho nên nếu không biết, thì tất cả sự tốt đẹp thuận lợi có thể
thành duyên chướng đạo. Như xét thấu tất cả bịnh khổ cùng ma chướng đều giả dối
không căn, tất nó cũng không làm chi được. Đối với mười điều trên, lối xử dụng
của bậc trí lực là:
1. Lấy
bịnh khổ làm thuốc hay.
2. Lấy hoạn nạn làm giải thoát.
3. Lấy chướng ngại làm tiêu dao.
4. Lấy các ma làm bạn pháp.
5. Lấy việc khó làm an vui.
6. Lấy bạn xấu làm giúp đỡ.
7. Lấy kẻ nghịch làm vườn hoa.
8. Lấy sự quên việc thi ân như quên bỏ chiếc dép rách.
9. Lấy thanh đạm làm giàu sang.
10. Lấy sự oan ức làm duyên tiến đạo.
2. Lấy hoạn nạn làm giải thoát.
3. Lấy chướng ngại làm tiêu dao.
4. Lấy các ma làm bạn pháp.
5. Lấy việc khó làm an vui.
6. Lấy bạn xấu làm giúp đỡ.
7. Lấy kẻ nghịch làm vườn hoa.
8. Lấy sự quên việc thi ân như quên bỏ chiếc dép rách.
9. Lấy thanh đạm làm giàu sang.
10. Lấy sự oan ức làm duyên tiến đạo.
Xem đây suy rõ sự hay dở, đắc thất vẫn tùy tâm. Thế nên, người
mới tu rất sợ chướng duyên, bậc tu lâu có khi lại muốn thử đương đầu với chướng
cảnh. Xin thuật ra đây một đôi chuyện để làm tỷ lệ:
Thuở xưa, ngài Thần Quang sau khi đắc pháp với tổ Đạt Ma, liền
khuất thân đi làm mướn, như bửa củi, giã gạo hoặc gác cửa cho người. Có kẻ đến
hỏi: "Ngài là bậc kế truyền Tổ vị, sao lại thấp mình đi làm những việc tầm
thường như thế?" Ngài đáp: "Ta muốn hàng phục cái tâm của ta, chẳng
phải chỗ ông biết!"
Lại một vị tiên là Lưu Trường Sanh sau khi luyện đơn thành, xuất
thần bay lên chỗ bà Diêu Trì Kim Mẫu, thấy chư tiên nữ dung sắc cực kỳ xinh đẹp
khó tả, khó họa, ông liền động tâm. Kim Mẫu quở rằng: "Ngươi tuy thành
đạo, mà niệm sắc ái chưa tiêu, làm sao xứng đáng liệt vào hàng tiên phẩm?"
Trường Sanh hổ thẹn, trở xuống cõi nhân gian, dùng phép điểm đá hóa vàng, vào
chỗ lầu xanh mướn năm bảy cô dâm nữ đẹp nhất, cùng nhau chung sống. Trong hai
năm trời ông nằm gần các cô dâm nữ lõa thể để luyện trừ niệm sắc dục. Khi xét
thấy mình tâm đã bất động, ông bảo các cô ấy làm bánh, rồi để bánh trên bụng
vận lửa đơn điền nướng chín, đem đãi các cô, nói đạo khai ngộ cho, xong mới cỡi
mây bay đi.
Để so sánh về các hạnh tu, xin kể tiếp thêm vài chuyện:
- Một sư cô nọ muốn dứt trừ lỗi lầm, nguyện kiết thất và tịnh
khẩu trong ba tháng. Buổi chiều kia, cô đang ngồi bên cửa sổ, lần chuỗi niệm
Phật. Có ông đạo trông thấy liền nói chuyện với người bạn, bảo cô nhiều nghiệp,
nhiều tánh xấu. Cô nghe nóng giận đỏ mặt, nhưng vẫn làm thinh tiếp tục niệm
Phật. Giây lát ông đạo bảo: "Tôi rình thấy cô này lấy một ông ở bên hàng
xóm." Cô giận quá, nhịn không được nói lớn tiếng lên: "Huynh nói tôi
lấy ai phải xác nhận lại, chớ tôi không chịu bỏ qua vụ này đâu?" Ông đạo
cả cười đáp: "Đó là tôi cố ý thử cô mà thôi. Cô đã nguyện tịnh khẩu sao
lại còn nói chuyện? Vả lại tịnh khẩu là cốt để tịnh tâm, mà cô tịnh tâm không
được, thì tịnh khẩu có ích gì?" Sư cô ấy nghe xong chợt tỉnh ngộ, hổ thẹn
làm thinh.
- Một độ nọ bút giả về Phật Học Viện Huệ Nghiêm, gặp ngài tọa
chủ chùa Thuyền Lâm. Trong khi đàm đạo ngài thuật chuyện rằng: "Trước kia
ở ngoài Trung có một vị sư tu thiền khá công phu, mỗi lần có thể ngồi lâu đến
sáu bảy giờ. Có lẽ muốn dứt trừ nhiễm duyên, sư thường lẩn tránh người nữ, thậm
chí cô nào đến viếng chùa rồi về, ông cũng xách nước quét rửa chỗ ngồi của cô
ấy. Thời gian sau, sư đến ở trọ chùa Thập Tháp tại Bình Định. Một buổi sáng,
đang khi tọa thiền trong liêu, sư bỗng la lên rồi chạy ra ngoài. Hòa thượng
Thập Tháp hỏi lý do, sư đáp: "Tôi đang tham thiền bỗng thấy một người nữ
xinh đẹp đến ôm cổ." Nói xong, chiều lại sư mệt mỏi nằm bịnh, gọi hòa
thượng Thập Tháp vào bảo: "Ngài phải làm sao cưới gấp cho tôi một cô vợ,
bằng không bắt đầu từ chiều nay tôi sẽ tuyệt thực cho đến chết?" Cụ Thập
Tháp cho gọi một bà Phật tử tín cẩn đến bàn luận, bà ấy bảo: "Để con về
gọi đứa tớ gái của con, bảo nó giả vờ chịu đỡ để dẫn dụ sư ăn uống cho mạnh rồi
sẽ hay." Sáng hôm sau, hòa thượng đưa cô tớ gái vào và bảo: "Tôi đã
bàn định xong, có cô này ưng chịu làm vợ của Ngài đây." Sư nghe nói mở mắt
ra nhìn, nắm tay cô tớ gái vuốt ve một hồi rồi tắt hơi."
Trong hai đoạn trên, ta thấy sư cô nọ muốn phá phiền não, song
chỉ theo hình thức mà thôi. Còn ngài Thần Quang biết tất cả phiền não đều
không, và cội gốc do nơi tâm chấp ngã, nên mới giả làm kẻ thấp hèn chịu người
sai mắng, để xem tâm nhơn ngã thị phi còn động chăng đặng dứt trừ. Và Lưu
Trường Sanh muốn diệt niệm sắc ái, dám dõng mãnh đi ngay đến chỗ nữ sắc mà quán
phá. Vị sư kia bởi chưa hiểu sắc là không, quá kiêng sợ nữ sắc, trong tâm còn
chấp ngại hình thức, kết cuộc lại bị loại sắc ma làm hại. Nhớ lại hồi năm 1960
có các Phật tử đem tờ báo Tiếng Chuông đến, chỉ hình nhà sư Nhật Bản bắt tay
một kỷ nữ lõa thể, chỉ còn mặc chiếc quần nhỏ, và phê bình là lối tu tân thời
trái với đạo lý. Bút giả đã giải thích: "Chớ hiểu lầm, đó là lối nghiệm
tâm của các thiền sư Nhật Bản, để xem mình đối với nữ sắc còn động chăng? Nếu
chưa được như như bất động, họ sẽ trở về tu lại. Vị sư này cũng đã thiền định
đến mức khá cao rồi, mới dám làm như thế."
Để kết luận, bậc trí lực chẳng những không ngại chướng duyên, mà
còn mượn chướng duyên để tu tiến. Các vị ấy không còn chấp nê hình thức, vì
hình thức chỉ là phương tiện mà nội tâm mới là cứu cánh.
Mục C. Những Gương Về Sự An Nhẫn
Tiết 66 Sự An Nhẫn Của Cư Sĩ Tiền Vạn Dật
Tiền Vạn Dật, tự là Dực Sơn, quê ở Thường Thục, trấn Mai Lý,
người đời nhà Thanh bên Trung Hoa. Buổi thiếu thời, Vạn Dật theo gia nghiệp,
chuyên bán rượu. Sau ông đổi nghề, giới sát tu tịnh nghiệp, hết sức sửa đổi lỗi
lầm trước. Vạn Dật chỉ có một trai, chẳng may bị bịnh lao, niệm Phật mà qua
đời. Người láng giềng chê cười, bảo tại lo tu hành nên con chết. Ông nghe nói
mỉm cười, vẫn an nhiên thờ Phật như cũ.
Một đêm, lửa bén cháy nhà, Vạn Dật chắp tay ngửa mặt trên hư
không vái rằng: "Nghiệp con nặng, đáng chịu thiêu hủy gia sản, nguyện xin
đừng tổn thương đến những nhà gần bên." Sau khi lửa tắt, chỉ có nhà ông
tiêu ra tro, các gia cư gần đó đều không sao cả. Cố gắng lo chỗ ở tạm xong, Vạn
Dật lại khuyên mẹ là Ngô Thị trường trai niệm Phật, bà mẹ y theo lời. Tiếp theo
ông cũng tự ăn chay trường, nhưng vì tập quán cũ hãy còn, thường hay uống rượu.
Nhưng nhờ có người thân thích là cư sĩ Tạ Phụng Ngô khuyên can, ông cố gắng lần
dứt trừ được.
Mùa Xuân năm Đạo Quang thứ hai mươi hai, vợ đau chết, Vạn Dật
vẫn sống trong cảnh lẻ loi. Nhiều người khuyên nên tục huyền, ông cự tuyệt và
bảo: "Đã có con mà bị chết sớm, tái thú nữa để làm gì? Vả lại chí tôi ở
nơi xuất tục, có phải khăng khăng trong sự nối dõi đâu!" Mùa Hạ năm ấy,
ông đau bịnh lạc huyết, chí thoát trần càng thiết, vẫn cố gắng gia công niệm
Phật. Đến đầu tháng bảy, bịnh ông thêm nặng, ăn vào liền mửa ra. Phụng Ngô sang
viếng thăm, nhân an ủi bảo cho biết: “Cổ đức đã có một vị nhịn ăn để cầu thấy
Phật”. Vạn Dật nghe nói, mừng rỡ bảo: "Nếu có việc rất tiện lợi như thế,
tôi sẽ gắng sức làm theo." Liền hôm sau, ông tắm gội sạch sẽ, đến trước
bàn Phật niệm hương phát nguyện giữ thanh trai trong bảy ngày, xuất tiền mua
vật mạng phóng sanh, để cầu về Tịnh Độ. Kế đó, ngày đêm ông niệm Phật không
dứt, lúc khát chỉ ăn trái dưa mà thôi. Có người hỏi: "Suốt đêm không ngủ
như thế, có mệt mỏi chăng?" Vạn Dật đáp: "Nhờ không ngủ mới niệm Phật
được nhiều. Khi tôi không bịnh thì chẳng được an nhàn. Nay nhân lúc bịnh được
rảnh rang, phải gắng sức, có mệt nhọc gì đâu!"
Bảy ngày vừa mãn, bởi tuyệt cốc nên kiệt sức, thần thức ông hôn
loạn. Người nhà cho ăn chút cháo loãng, liền buồn dạ no hơi, hôn loạn càng
thêm. Vạn Dật cả sợ, chắp tay để trên gối, bảo đốt ngón tay cúng dường Phật.
Phụng Ngô nói: "Lúc này mà anh phát được tâm nguyện ấy, thì cũng đồng như
đã đốt ngón tay rồi. Thôi chi bằng rũ sạch muôn duyên, nhứt tâm cầu về Cực Lạc
là hơn!" Ông nghe nói liền nhắm mắt niệm Phật, ban sơ như còn gắng gượng,
kế đó nhờ dùng sức dõng mãnh, nên thần chí lần lần an định. Duyên may, lại nhờ
mười mấy người bạn đồng đạo hay tin đến trợ niệm, nên ngày đêm trong nhà ông
tiếng niệm Phật nối nhau không dứt.
Đến chiều bữa mùng mười, Vạn Dật tự nói thấy một vị đi lại trước
đầu giường, bảo cả dưa và trái cây đều chớ ăn, hỏi thì xưng là sứ giả ở thượng
giới. Qua ngày hôm sau, ông bỗng thấy Tây Phương Tam Thánh tướng tốt quang minh
hiện đứng giữa hư không trước mặt. Ông muốn vượt lên ngồi vào kim đài, chợt
nghe tiếng bảo: "Thân ngươi còn chưa sạch!" Kế đó các tướng đều ẩn
mất. Vạn Dật liền bảo nấu nước thơm để mình tắm gội. Tắm xong, Tam Thánh hiện
ra như trước. Ông gọi người nhà lại nói: "Tôi đã dạo chơi Tịnh Độ, thấy vô
số hoa sen, mình ngồi trên một đài hoa, vui không thể tả!" Lại tự chỉ thân
mình nói: "Đây không phải thân tôi."
Sáng sớm ngày mười hai, Vạn Dật từ biệt mẹ và thưa rằng:
"Phật cùng chư Thánh chúng đã đến đầy nhà." Nói xong, liền chắp tay
niệm Phật mà qua đời. Lúc bấy giờ, ông được ba mươi bảy tuổi.
- Như cư sĩ Tiền Vạn Dật: gặp cảnh nghịch mà sơ tâm không thối,
bị bịnh khổ nhưng chánh niệm vẫn bền. Kết cuộc duyên trần rũ sạch, cảnh tịnh
hiện bày, nhiệm mầu điểm ứng đài vàng, thanh thoát thân chơi cõi ngọc, phẩm vị
cao quyết chẳng còn nghi. Ôi! Nhẫn nại mạnh mẽ đến thế ư!
Sự An Nhẫn Của Cư Sĩ Phó Xuân Phố
Phó Xuyên, tự Xuân Phố, người thời Trung Hoa Dân Quốc, quê ở xã
Đông Quách, huyện Thanh Giang, tỉnh Giang Tây. Thuở bé ông mồ côi cha sớm, mẹ
là Nhiếp thái phu nhơn thủ tiết, chịu khổ nuôi dưỡng, khuyến khích học hành cho
đến lúc nên người.
Xuân Phố từng nhậm các chức sự như: huấn khoa viên tại huyện thự
Thanh Giang, cảnh sát trưởng nơi trấn Chu Đàm, và hiệu trưởng Nghĩa Vụ học hiệu
ở Chương Thọ. Ông là người thông minh mẫn tiệp, hằng tham dự các công vụ. Mỗi
khi có việc chi khó khăn, hàng quan thân thường mời đến nhờ giúp ý kiến giải
quyết.
Nhiếp thái phu nhơn từ lâu đã thờ kính Quán Thế Âm Bồ Tát, và
niệm Phật trường trai.
Năm Dân Quốc thứ mười bảy, thái phu nhơn nhiễm bịnh, ông phát
nguyện triều Phổ Đà lễ Đại Sĩ, nhờ đó không thuốc mà bịnh tự lành. Tháng Chín
năm Dân Quốc thứ hai mươi (1931), Xuân Phố mới đến Phổ Đà để hoàn nguyện. Khi
ông chí thành lễ động Phạm Âm, cảm đức Quán Thế Âm Bồ Tát hiện thân tướng mặc
áo trắng, tay cầm tịnh bình và cành dương liễu. Ông lại cầu Bồ Tát gia bị cho
biết đời trước, thấy tiền thân mình là một vị tăng tu hạnh đầu đà, y phục thô
sơ lam lũ.
Do duyên sự đó, Xuân Phố tỉnh ngộ, biết việc luân hồi không phải
hư huyễn, chí xuất trần càng tha thiết. Ông nhờ Nguyệt Tịnh pháp sư giới thiệu
cho tham yết ngài Ấn Quang và Đức Sum pháp sư nơi chùa Báo Quốc tại tỉnh Tô
Châu, mới nghe được pháp yếu của tông Tịnh Độ. Sau khi ấy, ở Hoằng Hóa Xã xuất
bản kinh sách chi cũng đều có tặng cho. Nhờ đó sự tin hiểu về Phật pháp của ông
càng thâm thúy. Lúc bấy giờ Xuân Phố mới quyết định tiến thẳng lên đường đạo,
quy y thọ giới Ưu Bà Tắc với Đức Sum pháp sư, được pháp hiệu là Thiền Xuyên, tự
Hàng Tây.
Sau khi vào đạo, cư sĩ tín nguyện sâu thiết, tinh tấn niệm Phật
không biếng trễ. Năm Dân Quốc thứ hai mươi hai, ông được mời làm chủ giảng ở
Niệm Phật Lâm tại Lộc Giang, dẫn dắt khuyến dụ người tu tiến rất nhiều. Cư sĩ
thể chất vốn yếu, thường hay đau bịnh, lại vì tánh tình liêm khiết nên gia đạo
vẫn nghèo, lắm lúc bị nợ nần thiếu hụt. Bởi hàn vi nên tình đời thường sơ bạc,
gia dĩ nghiệp chướng phát hiện, tiếng thị phi chịu cũng rất nhiều. Ông hằng muốn
xuất gia, nhưng vì số vận mãi long đong, nên cơ duyên chưa thuận tiện. Tuy
quanh mình gia lụy buộc ràng, nhưng bởi chí nguyện chán cõi trược cầu vãng sanh
tha thiết, sớm hôm cư sĩ vẫn tinh tấn lễ niệm, dù đau bịnh cũng gắng gượng,
không khi nào sơ sót.
Mùa Xuân năm Dân Quốc thứ hai mươi bảy (1938), cư sĩ mộng thấy
đức Quán Thế Âm hiện thân, bảo cho biết quy kỳ vào hạ tuần tháng Bảy. Đến rằm
Trung Nguơn, sau hội Vu Lan Bồn, cư sĩ ngã bịnh, song vẫn nhứt tâm niệm Phật,
hầu như quên bịnh khổ, uống ăn. Ngày hai mươi sáu bịnh trở nặng, người nhà
thương khóc, cư sĩ cười bảo: "Tôi sẽ vãng sanh vào ngày vía đức Địa Tạng,
hãy nên vui mừng, đừng bi lụy." Đến ngày ấy, cư sĩ lại ghế ngồi kiết dà,
kiết ấn Di Đà định, nhìn chăm chú tượng Phật, rồi an nhiên qua đời. Lúc đó,
gương mặt ông bỗng sáng rạng rỡ hơn lúc sanh bình, thân thể lần lần lạnh, chỉ
có đỉnh đầu còn nóng.
Sau khi cư sĩ vãng sanh, vị tọa chủ chùa Thông Tuệ và Đại Nhân
pháp sư đồng đến lo liệu cho việc nhập khám, nhục thân của cư sĩ vẫn ngồi thẳng
như lúc bình thời. Trước ngày ấy gió mưa rất lớn, nhưng vào nửa đêm đến khi đốt
lửa làm lễ trà tỳ, trời bỗng sáng tạnh, hương lạ bay ngào ngạt, không phải mùi
trầm đàn cũng không phải mùi hoa lan. Từ nóc khám, một đạo bạch quang phóng lên
hư không, rồi bay thẳng về Tây. Lúc ấy vào tiết sơ Thu, khí hậu viêm nhiệt, cư
sĩ chết đã ba ngày mà thây không hôi, lại phóng mùi thơm và ánh quang minh, nên
ai nấy đều khen lạ. Bấy giờ cư sĩ đã bốn mươi tám tuổi.
- Thời mạt pháp người niệm Phật nhiều, mà thành công ít, bởi vì
không nguyện thiết tin sâu. Luận về tư cách bậc trượng phu, thầy Mạnh Tử bảo:
"Giàu sang không làm cho kiêu dâm, nghèo hèn không làm cho đổi chí, uy vũ
không làm cho khuất phục." Pháp thế gian còn như thế, huống là người theo
Phật pháp tu Tịnh Độ cầu siêu phàm nhập thánh ư? Như cư sĩ Phó Xuân Phố: nhà
nghèo, thân bịnh, gia lụy, mà vẫn nhẫn nại lướt qua, chuyên tâm niệm Phật, ngàn
tiếng khen chê chẳng quản, trăm điều mài bẻ không sờn. Nhờ đó đến khi lâm chung
biết ngày giờ trước, điềm lạ hiện bày. Như thế đủ thấy môn Tịnh Độ là bi nguyện
triệt để của Như Lai, nếu chịu quyết tâm, không ai chẳng lên thuyền giải thoát.
Xem gương cư sĩ xong, bỗng cảm khái tự hỏi: tánh linh nguyên cũng vẫn đồng,
siêu đọa bởi sao sai khác, khúc điệu Cao Sơn vang lại đó, lắng nghe Lưu Thủy
mấy ai đây? Nên viết ra khuyên người mà cũng để nhắc mình vậy.
Chương
X: Đệ Thập Yếu
Niệm Phật Phải Dự Bị Lúc Lâm Chung
Niệm Phật Phải Dự Bị Lúc Lâm Chung
Khải Đề:
Bên đường
xe tang buồn đi qua
Chiều hôm mồ hoang sương trăng tà
Vô thường đời trần thương ôi mau!
Người đi rồi lần sang phiên ta.
Nghìn xưa xa vời trong mông lung
Tài hoa tan về nơi vô cùng!
Luân hồi không cầu đường siêu thăng
Dù cho hiền minh sao anh hùng?
Hoàng hôn mây hồng in non xa
Dung hoa thầm khô theo suy già
Di Đà chuyên tu phòng lâm chung
Tương tư mơ về trời Liên Hoa.
Chiều hôm mồ hoang sương trăng tà
Vô thường đời trần thương ôi mau!
Người đi rồi lần sang phiên ta.
Nghìn xưa xa vời trong mông lung
Tài hoa tan về nơi vô cùng!
Luân hồi không cầu đường siêu thăng
Dù cho hiền minh sao anh hùng?
Hoàng hôn mây hồng in non xa
Dung hoa thầm khô theo suy già
Di Đà chuyên tu phòng lâm chung
Tương tư mơ về trời Liên Hoa.
Mục A. Những Dự Bị Cần Thiết Cho Lúc Lâm Chung
Tiết 67 Dự Bị Về Ngoại Duyên
Cổ thi nói: "Ta thấy người khác chết. Trong lòng nóng xót xa!
Chẳng phải xót kẻ mất. Vì sẽ đến phiên ta!" Giữa đời, việc buồn thảm lớn
lao không chi hơn tử biệt. Nhưng sự chết, người đời lại chẳng ai tránh khỏi.
Cho nên những kẻ có lòng muốn lợi mình lợi người, không thể không sớm dự bị lo
toan. Thật ra, chữ chết nguyên là giả danh, vì đó chẳng qua là sự kết liễu của
một thời quả báo, do nghiệp cảm liên chuyền giữa mỗi đời, khi xả thân này, lại
thọ thân khác mà thôi. Kẻ không biết Phật pháp vẫn đành để cho tùy nghiệp xoay
vần. Người đã nghe pháp môn Tịnh Độ của Như Lai, phải tín nguyện niệm Phật dự
bị tư lương, để khi lâm chung được vãng sanh an thuận. Như thế mới mong sớm
thoát nỗi huyễn khổ của sống chết luân hồi, chứng vào cảnh chân lạc của Niết
Bàn thường trú. Lại người đã tu Tịnh Độ, chẳng những chỉ lo riêng vì mình, mà
đối với cha mẹ quyến thuộc cùng những thân bằng quen biết, nên phát lòng hiếu
thuận từ bi, khuyên cho đồng niệm Phật, và trợ niệm cho khi bịnh nặng, lúc lâm
chung. Đó là công hạnh lợi tha, cũng là việc gây phước báo duyên lành cho mình
đời sau vậy.
* Nhưng dự bị cho lúc lâm chung có nhiều chi tiết, nay trước tiên
xin nói về ngoại duyên. Người tu Tịnh Độ khi còn khoẻ mạnh, phải dự trước tìm
kết những đồng bạn, nhứt là kẻ ở gần mình, để trợ niệm cho nhau khi bịnh nặng
và lúc lâm chung. Bởi chúng ta phần nhiều nghiệp nặng, tuy đã gắng hết sức
mình, song những lúc ấy e khi túc chướng phát hiện, thân lực yếu kém, tâm thức
hôn mê, khó giữ vững được chánh niệm. Nếu không nhờ người hộ trợ, tất dễ bị tùy
nghiệp lưu chuyển, công tu một đời chẳng cũng uổng lắm ư? Đây là điểm cần yếu
thứ nhứt.
* Điểm thứ hai là người niệm Phật khi thấy mình suy yếu, nên đem
hậu sự sắp đặt dặn dò trước, để khi lâm chung khỏi bận tâm. Nếu là người xuất
gia thì phải đem việc chùa chiền phó chúc đệ tử, chỉ định kẻ thay thế mình điều
hành Phật sự. Như người tại gia thì đem tài sản ruộng vườn tương phân cho con
cháu, sắp đặt trước mọi duyên. Lại phải dặn trước người quyến thuộc, khi mình
đau nặng hoặc lâm chung, không được khóc lóc hoặc lộ nét bi sầu. Nếu có thương
thì nên bình tĩnh, vì mình niệm Phật cầu nguyện, hoặc hộ trợ cho sự vãng sanh,
đó mới là tình thương chân thật.
Tiết 68 Dự Bị Về Tinh Thần
Về ngoại duyên như trên đã nói, người niệm Phật lại còn phải dự bị
về tinh thần cho chính mình. Cách dự bị ấy như thế nào? - Trên đường tu, hành
giả phải có tinh thần giải thoát, xem từ tiền của ruộng vườn cho đến thân tình
quyến thuộc đều là duyên giả tạm, sống tùy cảnh huyễn, chết rũ sạch không. Nếu
chẳng hiểu lẽ này, tất nó sẽ ngăn trở sự giải thoát, có khi phải đọa làm loài
bàng sanh như chó hoặc rắn để giữ nhà giữ cửa. Đã có nhiều người vì nắm níu
tiền của hoặc thân nhơn, mà khi sắp chết phải khó khăn, không yên tâm nhắm mắt
được.
Hồi bút giả còn làm đạo hầu, trong lúc dâng trà khuya, có nghe một
vị Giáo thọ thuật lại câu chuyện, bao hàm ý nghĩa giác tỉnh. Cốt truyện đại
khái như sau:
Khi xưa có hai bạn đồng tu, một ông thích ở cảnh non cao, một vị
cất am dựa khu rừng bên bờ suối. Thời gian sau, tăng sĩ ở cạnh suối tịch trước,
vị sư trên núi hay được xuống viếng thăm. Sau khi tụng kinh cầu nguyện, sư liền
ngồi yên nhập định coi bạn mình sanh về cõi nào? Nhưng tìm kiếm quan sát khắp
các nơi, từ cõi trời đến địa ngục, ông không thấy người bạn ở đâu cả. Xuất định
ra, sư hỏi thị giả của ông bạn: "Hằng ngày thầy mi làm những việc
chi?" Đạo đồng đáp: "Bạch, mấy lúc sau này vì thấy bụi mía trước am
mập tốt, thầy con thường ra vun phân, tỉa lá, săm soi mãi, ra chiều thích thú
lắm!" Vị sư nghe nói nhập định lại, quán thấy ông bạn hóa ra làm con sâu
trong thân cây mía. Sư liền đốn cây mía ấy, chẻ bắt lấy con sâu ra, thuyết pháp
chú nguyện cho nó siêu thoát.
Câu chuyện trên chỉ là truyền khẩu, bút giả chưa tìm thấy trong
kinh sách. Nhưng cứ theo lý mà đoán, thì sự kiện ấy vẫn chẳng phải hư huyền.
Nơi điển tích nhà Phật cũng có mấy việc tương tợ. Chẳng hạn như: - Chuyện ông
sa di vì tham ăn sữa tô lạc, nên khi chết đọa làm con giòi trong bình sữa. - Chuyện
vị ưu bà tắc tuy có công giữ giới tu hành, nhưng bởi quá quyến luyến vợ, nên
khi chết thần thức hóa sanh làm con giòi trong mũi vợ. Lúc cô vợ thương khóc,
sì mũi, con giòi văng ra, cô cả thẹn, đưa chân muốn chà đạp, may nhờ một vị A
La Hán can ngăn, nói rõ nguyên do, thuyết pháp siêu độ cho con giòi ấy. -
Chuyện vợ một khách thương đường biển, bởi luyến tiếc nhan sắc xinh đẹp của
mình, nên lúc chết liền hóa thành con giòi từ trong mũi bò ra đi quanh trên
mặt, như Kinh Hiền Ngu đã nói. Cho nên người tu Tịnh Độ hằng ngày phải tỉnh tâm
quán xét, dứt trừ lòng tham gốc ái, quyết chí hướng về cõi Phật, để khi lâm
chung không bị sức nghiệp ngăn trở cuốn lôi.
* Từ Chiếu đại sư nói: "Người tu Tịnh Độ khi lâm chung thường
có ba điều nghi, bốn cửa ải, hay làm chướng ngại cho sự vãng sanh, phải dự bị
suy nghĩ trước để phá trừ ba điều nghi là:
1- Nghi mình túc nghiệp sâu nặng, thời gian công phu tu hành ít, e
không được vãng sanh.
2- Nghi mình bản nguyện chưa trả xong, tham sân si chưa dứt, e
không được vãng sanh.
3- Nghi mình niệm Phật, Phật không đến rước, e không được vãng
sanh.
Bốn cửa ải là:
1- Hoặc nhân bị bịnh khổ mà trở lại hủy báng Phật không linh.
2- Hoặc nhân tham sống mà giết vật mạng cúng tế.
3- Hoặc nhân uống thuốc mà dùng rượu cùng chất máu tanh hôi.
4- Hoặc nhân ái luyến mà tự ràng buộc với gia đình."
Đại sư nêu ra thuyết Tam Nghi Tứ Quan ở trên, bậc trí huệ có thể
suy nghĩ tìm phương pháp giải quyết. Nay bút giả xin mạn phép nói lược qua cách
phá trừ để góp ý, và các bạn đồng tu với sự hiểu biết của mình, có thể suy diễn
hiểu rộng thêm ra.
1. Phá mối nghi túc nghiệp nặng, công tu ít: - Phật A Di Đà từng
có lời thệ nguyện: "Chúng sanh nào chí tâm muốn về Cực Lạc, niệm danh hiệu
Ngài cho đến mười niệm, nếu không được vãng sanh, Ngài thề không thành
Phật." Phật không khi nào nói dối, vậy hành giả phải tin nơi đức Từ Tôn.
Mười niệm là thời gian công phu tu hành rất ít mà còn được vãng sanh, huống chi
ta niệm nhiều hơn số đó. Lại dù kẻ nghiệp nặng đến đâu, như phạm trai phá giới,
tạo đủ nghiệp ác, nếu chí tâm sám hối nương về Phật A Di Đà, Ngài đều tiếp dẫn.
Kinh Quán Vô Lượng Thọ đã chẳng nói kẻ tạo tội nặng ngũ nghịch thập ác, khi lâm
chung chí tâm niệm mười niệm đều được vãng sanh đó ư? Trong truyện Vãng Sanh,
như Trương Thiện Hòa, Hùng Tuấn, Duy Cung, trọn đời giết trâu bò, phá giới, làm
ác, khi lâm chung tướng địa ngục hiện, sợ hãi niệm Phật, liền thấy Phật đến
rước. Cho đến loài chim sáo, két niệm Phật , còn được vãng sanh, huống chi ta
chưa phải là tệ đến mức đó?
2. Phá mối nghi bản nguyện chưa trả, tham sân si chưa dứt: - Bản
nguyện của hành giả đại khái có hai: đạo và đời. Về đạo, có người nguyện cất
chùa bố thí hay nguyện tụng số kinh chú bao nhiêu, làm chưa tròn đã đến giờ
chết. Phải nghĩ rằng: chỉ tín tâm niệm Phật, khi được vãng sanh sẽ làm vô lượng
vô biên công đức, còn bản nguyện chỉ là việc nhỏ, làm xong hay chưa không mấy
quan hệ, và chẳng có hại chi cả. Về đời, hoặc có người vì nhiệm vụ gia đình
chưa tròn, như cha mẹ suy già không ai săn sóc, vợ con thơ dại thiếu chỗ tựa
nương, hoặc có kẻ thiếu nợ người chưa kịp trả, tâm nguyện chưa vẹn nên lòng
chẳng yên. Phải nghĩ rằng: lúc ta sắp chết, dù có lo hay không cũng chẳng làm
sao được. Chi bằng chuyên tâm niệm Phật, khi đã được vãng sanh Tây Phương chứng
đạo quả, thì tất cả bản nguyện trái duyên đều có thể trả xong, tất cả kẻ oán
người thân đều có thể cứu độ.
Lại Kinh Na Tiên nói: "Ví như hột cát nhẹ, bỏ xuống nước liền
chìm. Trái lại tảng đá dù nặng to, nếu được thuyền chở, có thể đem từ chỗ này
sang chỗ khác. Người niệm Phật cũng thế, nghiệp tuy nhẹ nếu không được Phật cứu
độ, tất bị luân hồi, tội chướng dù nặng bao nhiêu, được Phật tiếp dẫn sẽ sanh
về Cực Lạc." Theo đoạn kinh đây, ta thấy môn Niệm Phật là pháp có thể đới
nghiệp vãng sanh, vì nhờ tha lực. Tảng đá lớn ví cho sức nghiệp nặng to, thuyền
chở ví cho nguyện lực của Phật. Vậy người tu đừng nghĩ rằng mình còn tham, sân,
si, e không được vãng sanh. Thí dụ trên có thể phá luôn điểm nghi về nghiệp
nặng ở điều thứ nhứt.
3. Phá mối nghi niệm Phật, e Phật không đến rước: - Người niệm
Phật tùy theo công đức mình, khi lâm chung thấy Phật, hoặc Bồ Tát, hay Thánh
chúng đến rước. Có khi không thấy chi, mà nhờ sức nguyện của mình và Phật lực
thầm nhiếp thọ, thần thức tự bay về Tây Phương. Đây là bởi công hạnh của mình
có cao thấp, sâu cạn. Chỉ cần yếu lúc ấy ta phải chí tâm niệm Phật, đừng nghĩ
chi sai khác. Nếu nghi ngờ sẽ tự sanh ra chướng ngại. Tóm lại, khi lâm chung dù
thấy tướng tốt hay không cũng đừng quản đến, chỉ hết lòng niệm Phật cho đến
giây phút cuối cùng mà thôi.
* Phá chung bốn cửa ải: - nhân bịnh khổ hủy báng Phật - tham sống
sát sanh cúng tế - cầu lành bịnh uống ruợu, hoặc dùng thuốc có chất huyết tanh
- vì ái luyến nên tâm niệm ràng buộc với gia đình.
Người niệm Phật mà bị tai nạn bịnh khổ, đó là do nhờ công đức tu
hành, nên chuyển quả nặng thành quả nhẹ, chuyển hậu báo thành hiện báo, trả cho
hết để được sanh về Tây Phương. Nếu trở lại nghi ngờ hủy báng, là người kém tin
hiểu, phụ ơn Phật, tự gây tội chướng cho mình. Trong sự tích Tịnh Độ có thuật
chuyện ông Ngô Mao cùng rất nhiều Phật tử khác, nhờ dồn nghiệp mà sớm được vãng
sanh. Vậy khi gặp cảnh này, người niệm Phật nên ý thức để hiểu rõ.
Lại thân này giả tạm, tùy theo tội nghiệp mà kiếp sống có vui khổ
lâu mau. Nếu giết sanh mạng để nuôi dưỡng sanh mạng, hoặc cúng tế, thì tội khổ
càng thêm nặng, phải triệt để nương theo Phật và tin chắc lý nhân quả.
Khi đau yếu chỉ cầu Phật, không nên cầu phù phép tà sư, hoặc nghe
lời kẻ chưa hiểu đạo, trở lại ăn mặn, uống rượu, hay dùng thuốc bằng chất máu
huyết tanh hôi. Thân này nhơ nhớp, được về cõi Phật sớm chừng nào hay chừng ấy,
như bỏ chiếc áo hôi rách mặc sắc phục đẹp thơm, đáng chi phải bận lòng?
Đến như mối hại về ái luyến khi lâm chung, thì như đoạn trên đã
nói. Phải nghĩ: trong gia đình từ cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, đều do đời
trước có nợ nần ân oán, nên mới tạm hội ngộ nhau. Khi nhân duyên đã hết thì mỗi
người đi mỗi ngả. Nếu có lòng thương, tốt hơn ta nên gát bỏ tình trần cầu sanh
Tây Phương, để độ tất cả kẻ oan thân. Khi cái chết sắp đến, dù có quyến luyến
cũng không thể đem theo, không làm chi được, bởi chính sắc thân của ta còn phải
tan về cát bụi. Nếu ái luyến thì đã không được vãng sanh, lại bị khổ luân hồi
vô cùng vô tận.
Những điểm về Tam Nghi Tứ Quan trên đây, hành giả phải suy nghiệm
ghi nhớ kỹ, để dự bị trước cho tinh thần được yên ổn trong lúc lâm chung.
Mục B. Sự Khẩn Yếu Lúc Lâm Chung
Tiết 69 Thỉnh Bậc Tri Thức Khai Thị
Người tu Tịnh Độ, khi bịnh chưa nặng cũng nên uống thuốc, nhưng
vẫn tinh tấn niệm Phật, chớ tưởng nghĩ rằng: uống thuốc rồi sẽ lành bịnh. Lúc
bịnh đã nặng, có thể không cần dùng thuốc. Hoằng Nhứt đại sư khi đau nặng, có
kẻ thưa để xin rước thầy hốt thuốc. Ngài liền từ tạ và nói kệ rằng:
Đức Phật
A Di Đà.
Là vô thượng y vương.
Nếu bỏ đây không cầu
Ấy là kẻ si cuồng!
Một câu hồng danh Phật.
Là thuốc diệu Dà Đà.
Nếu bỏ đây không uống.
Thật lầm to lắm mà!
Là vô thượng y vương.
Nếu bỏ đây không cầu
Ấy là kẻ si cuồng!
Một câu hồng danh Phật.
Là thuốc diệu Dà Đà.
Nếu bỏ đây không uống.
Thật lầm to lắm mà!
Rồi Ngài chỉ chuyên tâm niệm Phật. Quả nhiên bịnh cũng lần lần
thuyên giảm.
Nên nhớ khi bịnh đã nặng, hành giả phải buông bỏ tất cả mọi việc
xung quanh, cho đến chính thân tâm của mình, chỉ chuyên nhứt niệm Phật, một
lòng mong cầu vãng sanh Tây Phương. Làm như thế, nếu thọ mạng đã hết, quyết
được vãng sanh. Như thọ mạng chưa dứt, tuy cầu vãng sanh mà trở lại mau lành
bịnh, do vì lòng mình chuyên thành, nên có thể diệt trừ nghiệp ác đời trước.
Trái lại, nếu chẳng buông bỏ mọi duyên nhứt tâm niệm Phật, như thọ mạng đã hết
quyết không được vãng sanh, vì mình chỉ chuyên cầu lành bịnh chớ không cầu vãng
sanh, nên không do đâu được về Cực Lạc. Nếu thọ mạng chưa dứt, chẳng những
không được mau thuyên giảm, mà bịnh lại tăng thêm, vì mình nhân cầu lành bịnh,
vọng sanh lòng buồn lo sợ hãi.
Có nhiều người tu Tịnh Độ, trong lúc đau nặng, thân nhơn vì kém
hiểu đạo, chẳng lo khuyến tấn sự niệm Phật, trở lại không tiếc tiền rước nhiều
đông, tây y hoặc thầy phù thủy, đến cầu điều trị hoặc cúng tế cho mau lành
bịnh. Làm như thế, khiến cho người bịnh đã không được sự trợ niệm, lại bị rộn
ràng phân tâm, nên không được vãng sanh. Đó là lấy tiền mua hiếu hoặc mua danh,
để cho người ngoài thấy mình là kẻ ân hậu, tận tâm lo lắng. Họ đâu hiểu rằng,
có lòng hay không Phật Thánh đều chứng biết, chớ nào phải hình thức bên ngoài!
Hành động ấy khiến cho người sáng suốt chỉ mỉm cười thương xót!
Lúc bịnh nhơn đau nhiều, như thần thức còn thanh tỉnh, người nhà
nên thỉnh bậc tri thức đến thuyết pháp khai ngộ cho. Nếu không có bậc tri thức,
nên mời một vị đồng tu đến an ủi khai thị. Vị này nên khuyên nhắc thân nhơn kẻ
bịnh, dùng lòng từ bi cố chủ trương điều hành cho mọi việc hợp với đạo, để cho
người sắp mãn phần được sự lợi ích vãng sanh. Đại khái vị khai thị nên y theo
mấy chi tiết sau đây:
1. Nói cảnh khổ Ta Bà, cảnh vui Cực Lạc, nhắc cho bịnh nhơn phát
lòng hâm mộ. Lại nên đem việc lành, công tu của bịnh nhơn kể rõ ra và khen
ngợi, khiến cho người bịnh sanh lòng vui mừng không còn nghi ngại, tự biết khi
mình chết sẽ nương nơi nghiệp lành ấy sanh về Tây Phương.
2. Nếu bịnh nhơn có điều nghi ngờ gì, nên tùy cơ giải thích như
thuyết Tam Nghi Tứ Quan ở đoạn trên đã nói. Trong đây điểm cần yếu là khuyên
phải dứt trừ tâm tham tiếc tài sản và niệm ái luyến gia đình.
3. Nếu người sắp chết có di chúc trước thì thôi, bằng không, vị
khai đạo phải can ngăn, khuyên thân nhơn không nên hỏi han về di chúc. Lại cũng
khuyên đừng nói chuyện tạp vô ích khiến cho bịnh nhơn động tâm niệm tình ái,
quyến luyến thế gian, có ngại cho sự vãng sanh.
4. Khi có bà con hay thân hữu của kẻ bịnh đến thăm nên ngăn không
cho đến trước bịnh nhơn tỏ vẻ buồn thảm hỏi han. Nếu đã vì cảm tình đến viếng
thăm, chỉ nên đứng gần bên chắp tay niệm Phật ra tiếng một hồi, đó mới thật là
có lòng thương mến. Như kém hiểu biết chỉ dùng theo tục tình, đó chính là xô
người xuống biển khổ, tình tuy đáng cảm, mà sự lại di hại đáng thương.
5. Nên khuyên bịnh nhơn đem những y phục vật dụng của mình thí cho
kẻ khác. Hoặc y theo phẩm Như Lai Tán Thán trong Kinh Địa Tạng, đem vật liệu ấy
cúng dường kinh tượng lại càng hay. Điều này cũng giúp cho người bịnh thêm
phước tiêu tội, được dễ dàng trong sự vãng sanh.
Những điều đại khái như trên, vị khai thị phải lưu ý. Ngoài ra có
thể tùy cơ ứng biến, ở đây không thể nói hết được.
Tiết 70 Cách Thức Trợ Niệm
Người bịnh từ khi đau nặng cho đến lúc sắp tắt hơi, thân nhơn
quyến thuộc phải bình tĩnh đừng khóc lóc. Có kẻ tuy không khóc nhưng lại lộ nét
bi thương sầu thảm, đó cũng là điều không nên. Bởi lúc bấy giờ, bịnh nhơn đã đi
đến ngã rẽ phân chia giữa quỷ, người, phàm, Thánh, sự khẩn yếu nguy hiểu khác
thường, như ngàn cân treo dưới sợi tóc. Khi ấy duy nhứt tâm trợ niệm Phật hiệu
là điều thiết yếu. Người dù có chí nguyện vãng sanh, mà bị quyến thuộc thương
khóc làm cho khơi động niệm tình ái, tất phải bị đọa lạc luân hồi, công tu cũng
đành luống uổng!
Lại khi bịnh nhơn gần qua đời, tự họ muốn tắm gội, thay y phục hay
đổi chỗ nằm, thì có thể thuận theo, song phải nhẹ nhàng cẩn thận mà làm. Như họ
không chịu, hoặc á khẩu không nói được, rất không nên miễn cưỡng mà làm. Bởi
người sắp chết thân thể thường đau nhức, nếu ép di động, đổi chỗ nằm hoặc tắm
rửa, thay y phục, thì bịnh nhơn càng đau đớn thêm. Nhiều người tu hành phát
nguyện cầu về Cực Lạc, nhưng khi lâm chung vì bị quyến thuộc di động nhiễu
loạn, phá hoại chánh niệm, nên không được vãng sanh, việc này xảy ra rất
thường. Hoặc kẻ mạng chung có thể sanh về cõi lành, nhưng bị người khác không
biết, xúc chạm thân thể, sửa đổi tay chân làm cho đau đớn, nên sanh lòng giận
tức. Do một niệm đó, liền đọa vào đường ác, làm rồng, rắn, cọp, beo, hoặc các
loài độc khác. Như vua A Xà Thế tu nhiều phước lành, khi lâm chung bị người hầu
cận ngủ gục làm rớt cây quạt trên mặt, nên giận chết đọa làm rắn mãng xà. Gương
này không nên răn sợ ư!
Người bịnh khi lâm chung hoặc ngồi, hoặc nằm, đều tùy tiện, chớ
nên gắng gượng. Nếu cảm thấy suy nhược chỉ có thể nằm, mà muốn xem cho ra vẻ,
gắng gượng ngồi dậy, là điều nguy hại không nên. Hoặc theo lẽ, phải nằm nghiêng
bên mặt hướng về Tây, nhưng vì thân thể đau nhức phải nằm ngửa, hay nằm nghiêng
bên trái hướng về Ðông, cũng cứ để tự nhiên chớ nên gắng gượng. Đây là chính
bịnh nhơn phải hiểu như thế mà tự xử sự. Còn người thân thuộc cũng phải hiểu lẽ
này, chẳng nên cầu danh, bắt người bịnh nằm nghiêng bên mặt hướng về Tây, hay
đỡ dậy, mặc áo tràng, sửa ngồi kiết dà. Đâu biết rằng chỉ vì cầu chút hư danh,
mà khiến cho người chết phải đọa tam đồ, chịu vô lượng sự khổ!
* Lúc bịnh nhơn sắp mãn phần, sự trợ niệm là điều rất cần thiết.
Bởi khi ấy, người bịnh từ tinh thần đến thể chất đều yếu kém mê mờ, khó bề tự
chủ. Đừng nói kẻ bình nhựt chưa tu không giữ nổi câu niệm Phật được lâu bền; mà
người bình nhựt lấy câu niệm Phật làm thường khóa, nếu không nhờ sức trợ niệm
cũng khó mong đắc lực. Cách thức trợ niệm phải y theo những điều kiện như ở
dưới đây:
1. Thỉnh tượng Phật Di Đà tiếp dẫn để trước bịnh nhơn khiến cho họ
trông thấy. Cắm một bình hoa tươi và đốt lò hương nhẹ, khói thơm vừa thoảng để
dẫn khởi chánh niệm cho bịnh nhơn. Nên nhớ khói chỉ nhẹ thôi, đừng để nhiều vì
e ngột ngạt khó thở.
2. Người trợ niệm tùy theo nhiều ít nên luân phiên mà niệm. Ít thì
mỗi lần một hoặc hai người, chia thành ba phiên. Nhiều thì mỗi phiên có thể độ
sáu hay tám người. Nên nhớ lúc ấy bịnh nhơn sức yếu rất cần thanh khí, nếu để
cho người ta vào đông, hoặc kẻ trợ niệm quá nhiều, tất làm cho người bịnh ngột
ngạt xao động, có hại hơn là có lợi. Lại, các phiên phải canh theo đồng hồ mà
im lặng luân chuyển nhau, để cho câu niệm Phật tiếp tục không gián đoạn, đừng
kêu gọi. Mỗi phiên niệm lâu ước độ một giờ.
3. Theo ngài Ấn Quang, nên niệm bốn chữ để cho bịnh nhơn dễ thâu
nhận trong khi tinh thần thể chất quá suy yếu. Nhưng ý kiến của Hoằng Nhứt đại
sư, thì muốn niệm bốn chữ hay sáu chữ, tốt hơn nên hỏi bịnh nhơn, để thuận với
tập quán ưa thích thuở bình nhựt của người bịnh, khiến cho họ có thể niệm thầm
theo. Nếu trái với tập quán ưa thích, tức là phá hoại chánh niệm của người
bịnh, tất mình cũng có tội. Lại cách trợ niệm, không nên niệm to tiếng quá, vì
mình sẽ tổn hơi khó bền; không nên niệm nhỏ quá, vì e người bịnh tinh thần lờ
lạc, khó thâu nhận. Cũng chẳng nên niệm quá mau, bởi làm cho bịnh nhơn đã không
nghe nhận được rõ ràng, lại không thể theo kịp; chẳng nên niệm quá chậm, bởi có
lỗi tiếng niệm rời rạc khiến người bịnh khó liên tục nhiếp tâm. Đại khái tiếng
niệm phải không cao không thấp, chẳng chậm chẳng mau, mỗi chữ mỗi câu đều rành
rẽ rõ ràng, khiến cho câu niệm trải qua tai đi sâu vào tâm thức của người bịnh,
như thế mới đắc lực. Lại có điều nên chú ý, khi bịnh nhơn tâm thức quá hôn
trầm, niệm ở ngoài tất họ nghe không rõ. Trong trường hợp ấy, phải kê miệng sát
vào tai họ mà niệm, mới có thể khiến cho người bịnh được minh tâm.
4. Về pháp khí để dùng trong khi trợ niệm, thông thường nên đánh
khánh. Bởi tiếng mõ âm thanh đục, không bằng tiếng khánh trong trẻo, dễ khiến
cho bịnh nhơn tâm thần thanh tỉnh. Nhưng vấn đề đó cũng tùy, vì theo kinh
nghiệm riêng, Hoằng Nhứt đại sư đã dạy: "Những kẻ suy yếu thần kinh, rất
sợ nghe tiếng khánh và mõ nhỏ. Bởi âm thanh của mấy thứ này chát chúa đinh tai,
kích thích thần kinh khiến cho người bịnh tâm thần không an. Theo thiển ý, chỉ
nên niệm suông là thỏa đáng hơn hết. Hoặc nếu có, thì chỉ nên đánh thứ chuông
mõ lớn. Những món này âm thanh hùng tráng, khiến cho người bịnh sanh niệm
nghiêm kính, thật hơn đánh khánh và mõ nhỏ nhiều. Thứ mõ âm thanh đục cũng
không nên đánh, vì làm cho bịnh nhơn tâm thần hôn trược. Tuy nhiên, sở thích
của mỗi người không đồng, tốt hơn là nên hỏi trước bịnh nhơn. Nếu có chỗ nào
không hợp, phải tùy cơ cải biến, chớ nên cố chấp."
Trên đây là mấy điểm nên lưu ý về cách thức trợ niệm.
Mục C. Điều Khẩn Yếu Sau Khi Mãn Phần
Tiết 71 Khi Tắt Hơi Cho Đến Lúc Truy Tiến
Người mới tắt hơi, điều thiết yếu là không nên vội di động. Hoặc
kẻ chết thân mình dính chất dơ cũng không nên gấp lau rửa, phải đợi qua tám
tiếng đồng hồ, hay ít nhứt cũng ba giờ, mới được tắm rửa thay đổi y phục. Trước
và sau khi chết, người thân không được khóc lóc. Bởi khóc là vô ích mà lại có hại,
vì làm cho kẻ mạng chung sanh niệm quyến luyến, không được giải thoát. Chỉ nên
gắng sức niệm Phật mới thật có ích cho vong nhơn. Nếu muốn khóc lóc, phải đợi
tám giờ sau. Tại sao thế? Vì bịnh nhơn tuy tắt hơi nhưng thức A Lại Da còn chưa
đi. Nếu khi ấy lay động, tắm rửa thay y phục, hoặc kêu khóc, họ vẫn còn cảm
giác đau đớn hoặc sanh buồn giận bi thương mà phải sa đọa. Điều này rất quan
hệ, rất cần yếu, nên để ý ghi nhớ kỹ.
Thuyết thăm dò hơi nóng để nghiệm xem sanh về đâu, tuy có chứng
cớ, song cũng không nên câu chấp. Nếu bịnh nhơn bình thời tín nguyện chân
thiết, khi lâm chung chánh niệm rõ ràng, có thể chứng nghiệm là vãng sanh.
Nhiều người không kỹ, cứ mãi thăm dò, rờ chỗ này chỗ kia, làm động niệm kẻ mạng
chung, cũng có hại rất lớn.
Sau khi bịnh nhơn tắt hơi, người trợ niệm vẫn phải tiếp tục niệm
Phật cho đến ba giờ đồng hồ sau, để cho sự vãng sanh được bảo đảm. Trợ niệm
xong, liền đóng cửa phòng lại canh chừng cho kỹ, kẻo loài mèo chó hoặc kẻ không
am hiểu đổ xô vào xúc chạm, đợi mãn tám giờ sẽ tắm rửa thay đổi y phục. Nếu
luôn trong tám giờ, có người ở gần bên niệm Phật, là điều rất tốt. Ngoài ra cấm
tuyệt không nên làm điều chi khác. Xin nhắc lại trong khoảng thời gian này,
người chết vẫn còn cảm giác.
Sau tám giờ nếu tay chân người chết đã cứng không thể chuyển động,
nên dùng vải thấm nước nóng đắp bao quanh khớp xương. Làm như thế giây lâu, có
thể sửa tay chân co duỗi như thường.
Trong đám tang của người quá cố, thân nhơn nên làm đơn giản, đừng
quá rườm rà mà tốn vô ích. Điều cần thiết là phải nên dùng đồ chay, chớ có sát
sanh để đãi đằng cúng tế. Bất đắc dĩ cần có chút ít đồ mặn, thì nên mua thịt cá
chết, hoặc người ta đã làm sẵn bán ngoài chợ. Nếu sát sanh để cúng tế đãi đằng,
tất người mãn phần bị oan đối không được giải thoát. Dù kẻ mạng chung đã được
vãng sanh, phẩm sen cũng vì đó mà bị giảm thấp.
Trong thời gian trước, bút giả cùng chư tăng có đi tụng kinh siêu
độ cho bà kế mẫu người bạn là thượng tọa Bảo Huệ ở xã Tân Hội tỉnh Long An. Nơi
đám tang, bút giả thấy dùng toàn đồ chay, có khen ngợi và hỏi thăm, thì thượng
tọa đáp: "Sự cúng đãi đồ chay thật ra có do tôi khuyến hóa, nhưng phần lớn
cũng nhờ động lực bởi một chuyện đã xảy ra ở xóm trên. Nguyên trên ấy có một
nhà khá giàu, gia chủ mãn phần, người con cho giết nhiều bò heo gà vịt để tiếp
đãi họ hàng thân thuộc và kẻ quen biết gần xa, suốt cả mấy ngày. Lúc sanh tiền
gia chủ là người hiền lành phúc hậu thường ăn chay tụng niệm, lại có giao du
rộng. Sau đám tang ấy, vào buổi chiều hồn ông nhập vào đứa cháu nội, mặt đỏ
rần, nhảy lên ván ngồi, vỗ bàn, kêu gọi ngay tên đứa con lại, và quát bảo:
"Một đời tao tu hành làm phước, không tội lỗi chi nặng, đáng lẽ được sanh
đến chỗ giàu sang. Nay bị mày sát sanh quá nhiều để cúng đãi, nên tao bị oan
đối không được giải thoát. Hiện thời tao bị quản thúc phạt vạ, phải chăn giữ
một bầy bò heo gà vịt, chạy trong bùn lầy gai góc, thật khổ sở vô cùng!"
Thuật xong câu chuyện, Thượng Tọa cười bảo: "Chính nhờ việc đó đồn vang ai
cũng đều biết, lại mới xảy ra cách đây ít tháng, người nhà đã tin tưởng kinh
sợ, nên tôi mới vừa đề nghị là được chấp thuận liền." Việc sát sanh đãi
đằng cúng tế trong đám tang, Kinh Địa Tạng cũng đã có nói rõ sự nguy hại, vậy
hàng Phật tử nên để tâm ghi nhớ.
Khi làm Phật sự truy tiễn cho người quá vãng, thân nhơn nên đem
công đức ấy hồi hướng khắp chúng sanh trong pháp giới. Như thế, công đức sẽ
càng thêm lớn, mà sự phước lợi của vong nhơn cũng nhân đó được tăng thêm nhiều.
Những điểm dự bị về lúc lâm chung trên đây, phần lớn bút giả rút
lấy ý kiến của các bậc danh đức như ngài Ấn Quang và Hoằng Nhứt đại sư mà dung
hội lại. Bởi buổi lâm chung chính là lúc quan yếu nhứt trong cuộc đời người.
Nếu trước chưa dự bị tư lương vãng sanh cho đầy đủ, đến chừng ấy khó khỏi kinh
hoàng bối rối, kêu cầu không kịp, nghiệp ác trong nhiều kiếp đồng thời hiện ra,
làm sao giải thoát?
Cho nên khi lâm chung tuy nhờ người y theo phương pháp mà trợ
niệm, nhưng chính mình lúc bình nhựt phải cố gắng tu trì chừng ấy mới được tự
tại.
Xin các bạn tu tịnh nghiệp sớm lưu tâm dự bị, để đồng được dự phẩm
sen nơi hải hội Liên Trì.
Tiết 72 Những Gương Đắc Thất Về Sự Trợ Niệm
1. Sự tích cư sĩ Lưu Cảnh Liệt
Cư sĩ Lưu Cảnh Liệt, người tỉnh Giang Tây ở Trung Hoa, buổi thiếu
thời có sang lưu học Nhựt Bản. Sau khi quang phục, ông từng làm nghị viên ở
quốc hội và ty trưởng nhiệm chức phương ty. Anh của cư sĩ là Cảnh Hy, vốn hàng
quan thân, từ lâu đã mến chuộng Phật học, nên đối với cửa đạo, cư sĩ cũng khẳng
khái hộ trì. Ông đã làm nhiều điều công đức, như việc trùng tu ngôi Thọ Lượng
cổ sát, xuất tư sản mua chuộc ruộng hương hỏa cho chùa, lại thỉnh Đại Xuân hòa
thượng về trụ trì. Khi Đức Sum pháp sư đề xướng việc đúc pho tượng Quán Âm Đại
Sĩ bằng đồng, cao hai mươi tám thước, cư sĩ cũng bôn tẩu góp quyên cho đến khi
hoàn thành Phật sự.
Năm Dân Quốc 22, Cảnh Liệt nhân tỵ nạn chiến tranh đến Tô Châu,
quy y với Ấn Quang đại sư, được pháp danh là Đức Thành. Từ đó ông giữ lục trai
và chuyên tu tịnh nghiệp. Khi chưa vào đạo, Cảnh Liệt thích đánh cá, lưới chim,
tạo nghiệp sát cũng nhiều. Do nhân ác đó về sau cư sĩ mang chứng ghẻ Đối Khẩu
Sang rất nguy kịch, ngày đêm đau nhức rên la. Trong cảnh khổ, ông phát nguyện
dứt trừ nghiệp ác, chuyên niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm bỗng nghe mùi hương lạ
bay ngào ngạt, bịnh lần lần thuyên giảm.
Đến năm Dân Quốc 25, cư sĩ mới trở lại quê hương. Tuy lòng tin đã
phát, nhưng vì việc đời việc đạo bận rộn quá nhiều, nên về phần thật hành, ông
chưa được chuyên thuần, mỗi ngày chỉ tùy duyên niệm Phật chút ít mà thôi. Sang
năm Dân Quốc 27, do nghiệp sát đời này và đời trước, cư sĩ lại phát sanh bịnh
nặng. Lâu ngày triền miên trong cơn bịnh khổ, ông khó kham nhẫn, liền bảo con
là Lưu Phát Trang xuất tiền gởi Đức Sum pháp sư nhờ cúng dường ngài Ấn Quang và
làm các việc công đức để cầu mau tiêu tội. Pháp sư viết thơ trả lời khuyên cư
sĩ nên trường trai, nhưng dây dưa mãi đến cuối năm ông mới thật hành được.
Qua năm Dân Quốc 28 bịnh thế của cư sĩ càng thêm nặng. Vợ con ông
đều là đệ tử quy y của ngài Ấn Quang, đã biết sự khẩn yếu lúc lâm chung, vội
thỉnh chư tăng ở chùa Thọ Lượng đến trợ niệm. Ngày mười chín tháng Giêng năm
ấy, cư sĩ biết mình sẽ từ trần, bảo người nhà đem ghế đỡ ra trước sân ngồi để
thay đổi thanh khí. Sau khi gọi anh em dặn dò hậu sự và bảo con là Phát Trang
quì nghe di chúc xong, thần sắc ông bỗng đổi khác. Vợ con thấy thế liền đỡ vào
nhà, đem tượng Di Đà tiếp dẫn đến để trước mặt cư sĩ, rồi cùng chư tăng lớn
tiếng trợ niệm danh hiệu Phật. Đã vài tháng cư sĩ bị bịnh xuội hết một cánh tay
trái, nhưng khi thấy tượng Phật, ông bỗng hoạt động được như thường, hai tay
chắp lại, miệng niệm Phật, mặt lộ vẻ hớn hở vui mừng. Lúc đó, dường như ông
không còn cảm thấy thống khổ, tùy theo mọi người niệm Phật giây lâu, rồi an
lành thoát hóa.
Cư sĩ vãng sanh vào lúc được sáu mươi mốt tuổi. Mấy tháng ông bị
bịnh khổ là do nghiệp sát sanh chuyển thành khinh báo trong hiện tại. Đến khi
lâm chung nhờ sức trợ niệm nên hiện ra điềm tốt, có thể gọi là: các căn vui
đẹp, chánh niệm phân minh, xả báo an lành, như vào thiền định. Như thế sự vãng sanh
Tây Phương đã chắc không còn nghi ngờ nữa. Lúc tang tế đãi khách, cả nhà tuân
theo lời ngài Ấn Quang, dùng toàn đồ chay, ai nấy đều khen ngợi.
Sự việc cư sĩ được vãng sanh, tuy do căn lành đã thành thục, mà
cũng nhờ sức trợ niệm lúc lâm chung. Vậy đối với điểm khẩn yếu rốt sau, chư
liên hữu cần để tâm chú ý.
2. Sự tích nữ cư sĩ Đức Hoằng
Nữ cư sĩ Đức Hoằng, là vợ của một người họ Lý ở Dương Châu. Nhân
vì chồng có vợ bé mà mình lại không sanh dục, cô khó nỗi yên thân nơi nhà, nên
đến nương ngụ với kế mẫu là nữ cư sĩ Đinh Đức Nguyên. Bà Đức Nguyên cũng thương
cô như con đẻ, đôi bên nương nhau tình thân thiết hai mươi năm như một ngày.
Đức Hoằng cư sĩ trường trai tu tịnh nghiệp, hôm sớm rất chuyên
cần. Cô và kế mẫu vì nghĩ duyên đời phước bạc, quyến thuộc điêu linh, nên nương
tựa nhau cùng làm bạn pháp trên đường đạo. Luận về sự tín hướng và công hạnh tu
trì lúc bình nhựt, thì mỗi mỗi cô đều vượt xa hơn Lưu Cảnh Liệt cư sĩ. Chỉ tiếc
vì túc nghiệp cuốn lôi, nhân duyên khiếm khuyết, nên cô hằng gặp cảnh chướng
nạn không mấy lúc được yên thân.
Năm Dân Quốc 27, nhân thấy miền Vũ Hán sắp chìm trong cuộc chiến,
hai mẹ con liền từ Hương Cảng đến thị xã Hộ tạm lánh nạn. Bấy giờ vì vật giá
lên cao, mướn nhà rất khó, mà ở lâu nơi khách sạn tổn phí nhiều lại càng bất tiện.
Duyên may nhờ Diệu Chân hòa thượng xót thương, mở một gian tịnh thất nơi chùa
Thái Bình để cho mẹ con cô và ba người Phật tử tản cư nữa cùng ở.
Năm Dân Quốc 28, vào khoảng tháng ba, Đức Hoằng cư sĩ bỗng cảm
chứng thương hàn. Dây dưa qua đến tháng Tư, thuốc thang đều vô hiệu. Bịnh thế
mỗi ngày càng thêm nặng. Lúc ấy trong chùa Phật sự nhiều, phòng xá lại ít, nếu
để chết tại đó thấy có điều bất tiện, nên bất đắc dĩ bà kế mẫu phải đưa cô vào
y viện. Chương trình nơi đây đều theo cách thức Tây Phương, muốn được tự do trợ
niệm trong lúc lâm chung, thật khó toàn vẹn. Đức Hoằng cư sĩ vào y viện được
hai ba ngày, người biết Phật pháp không thể tới lui hộ trợ, nên buổi sáng ngày
mười tám tháng Tư, cô mãn phần một cách hồ đồ trong y viện. Lúc ấy nữ cư sĩ
được năm mươi mốt tuổi.
Như Đức Hoằng cư sĩ xác thực là người có tín tâm tu trì. Nếu khi
lâm chung được sự trợ niệm đúng pháp, tất điềm lành tướng tốt vãng sanh không ở
sau Lưu cư sĩ. Cũng bởi cơ duyên trở ngại, nên đời này cô không thọ dụng được
công hạnh tu niệm lúc bình thời, chỉ gây nhân đắc độ về sau mà thôi. Việc xảy
ra thật đáng tiếc cho cô, song cũng cho ta thấy sự trợ niệm lúc lâm chung quả
là trọng yếu.
3. Sự tích cư sĩ Dương Liên Hàng
Cư sĩ Dương Liên Hàng, người thời Trung Hoa Dân Quốc, quê ở huyện
Dư Diêu tỉnh Triết Giang. Ông nhà nghèo từ nhỏ theo nghề buôn bán, tánh lịch
thiệp quán xuyến hơn người.
Năm Dân Quốc thứ mười một, Liên Hàng được biết người bạn cùng xóm
là Đồng Giác Hàng tu tịnh nghiệp, trong lòng ưa thích hằng qua lại để nghe lời
chỉ giáo. Sau đó, ông thọ quy giới làm hàng Phật tử tu tại gia. Phần văn học
tuy cư sĩ còn yếu kém, song về nghĩa lý kinh Phật, sự giải ngộ lại hơn người.
Tháng chín năm Quý Hợi, các bạn ở Liên Xã ước hẹn cùng nhau thệ nguyện phát
lòng Bồ Đề, Liên Hàng cũng có dự trong cuộc lễ ấy.
Cuối mùa Xuân năm Giáp Tý, vì đau bịnh, cư sĩ lén phá giới sát
sanh, nhân đó lần lần xa cách với các liên hữu. Đến tháng bảy, bịnh ông càng
thêm nặng, bạn đồng tu đến thăm, ai cũng bảo rằng tất sẽ chết. Liên Hàng cũng
xét biết mình khó sống, tự cảnh giác ăn năn việc đã làm. Đầu tháng tám, ông
gượng đau đến trước bàn Phật, hết lòng phát lộ chí thành sám hối, nguyện giữ
lại năm giới, thề không tái phạm. Từ đó cư sĩ buông bỏ muôn duyên, dứt trừ ái
dục, một lòng thầm niệm hồng danh Phật, chờ đến lúc mạng chung. Các liên hữu
biết công phu trì niệm của cư sĩ còn cạn, nên trước khi ông lâm chung sáu ngày,
thỉnh người đến trợ niệm. Mấy hôm rốt sau, những bạn đồng tu cũng tự mình đến
niệm Phật giúp duyên.
Cuộc trợ niệm khởi đầu từ ngày mười hai tháng tám. Qua ngày rằm,
Liên Hàng bỗng tự cảm thấy thần khí thanh nhẹ tươi tỉnh. Đến ngày mười bảy, cư
sĩ bảo trong giấc mơ thấy một vầng ánh sáng như năm sáu ngọn đèn điện chói lòa.
Vào chiều tối, xem thần sắc ông cũng như thường, các liên hữu cho là chưa đến
giờ, tiếp tục niệm Phật tới sang canh hai, rồi sắp sửa muốn ra về. Các vị ấy
không ngờ rằng, lúc đó sự trợ niệm đã đến hồi tinh thuần đắc lực.
Liên Hàng nghe tiếng niệm Phật bỗng ngưng bặt, liền nói: "Tôi
hãy còn chưa đến Tây Phương, mong nhờ chư liên hữu trợ niệm cho suốt đêm
nay." Chúng nghe lời nói có vẻ khác lạ, lại cao tiếng niệm Phật. Không đầy
nửa giờ sau, cư sĩ bỗng cười bảo: "Tôi đã đến Tây Phương. Ôi! Ao thất bảo
to rộng quá! Kìa! Hoa sen thật là đẹp! Ánh quang minh cũng sáng đẹp vô cùng!"
Rồi ông lại dặn đại chúng cao tiếng trợ niệm đừng nghỉ. Từ trước Liên Hàng vẫn
lặng lẽ nằm yên. Đến lúc bây giờ tay và đầu ông đều hoạt động, miệng liên tiếp
nói to: "Ôi! Hoa sen thật tươi xinh! Ao báu thật sáng đẹp!" Lúc ấy
mặt của cư sĩ tươi cười hớn hở, trông như người bất chợt có việc vui mừng vượt
quá hy vọng. Như thế qua một giờ sau, ông trở lại lặng yên không nói, tay chân
cũng không động, chỉ nằm ngửa mắt chăm chú nhìn tượng Phật trước giường. Kế
tiếp đôi tròng lần lần lờ lạc, hơi thở cũng lần yếu mòn. Đến năm giờ sáng ngày
mười tám, cư sĩ mới tắt hơi.
Đêm ấy liên hữu chỉ có bốn người, mà vừa thay phiên nhau lớn tiếng
trợ niệm suốt đêm, vừa thỉnh thoảng lại xen đôi lời sách tấn. Như thế cứ tiếp
tục niệm cho đến sau khi cư sĩ tắt hơi một giờ rưỡi, mới đổi phiên cho những vị
khác vừa đến. Sự trợ niệm vẫn tiếp tục cho tới lúc thân thể kẻ mãn phần lạnh
hẳn, người nhà đều bị ngăn không được khóc thương. Đến mười giờ trưa, một liên
hữu thăm dò thử, thì các nơi khác đều lạnh, duy đảnh đầu còn nóng như nước sôi.
Trong kinh, có bài kệ nói:
Đảnh
Thánh, mắt sanh trời.
Người tim, ngạ quỷ bụng.
Bàng sanh ra đầu gối.
Địa ngục lòng bàn chân.
Người tim, ngạ quỷ bụng.
Bàng sanh ra đầu gối.
Địa ngục lòng bàn chân.
Khi người chết các nơi khác đều lạnh, duy đảnh đầu nóng sau rốt,
là kẻ ấy đã sanh về cõi Thánh, cõi Phật; mắt nóng sau rốt là sanh lên cõi trời;
chỗ tim ngực nóng sau rốt là sanh lại cõi người. Còn nếu ở bụng thì kẻ đó sanh
về cõi ngạ quỷ, ở đầu gối đầu thai vào loài bàng sanh; ở lòng bàn chân, tất đọa
xuống địa ngục. Thần thức thoát ly từ nơi nào, thì chỗ đó nóng sau cùng. Cư sĩ
đảnh đầu nóng sau rốt, chứng tỏ ông đã vãng sanh về Cực Lạc vậy.
Như Liên Hàng cư sĩ, giới phẩm không tròn, công hạnh tu trì lại
còn non kém. Nhưng không được vãng sanh, xét ra toàn nhờ sức trợ niệm của các
bạn đồng tu. Xem đây, ta thấy sự trợ niệm rất thiết yếu cho hành giả lúc lâm
chung. Bấy giờ nhằm ngày 18 tháng bảy, năm Dân Quốc thứ 13 (1924), cư sĩ được
ba mươi tuổi.
Sách
Niệm Phật Thập Yếu. Tác giả HT Thích Thiền Tâm.
