TẬP 3
(Tập
3 trọn bộ 3 tập) Tập "Tích Truyện
Pháp Cú" này được dịch theo bản Anh ngữ "Buddhist Legends" của
học giả Eugène Watson Burlingame. Nhà học giả này đã căn cứ trên nguyên tác
Pháp Cú Sớ Giải (Dhammapada Commentary) bằng tiếng Pàli. Tương truyền Pháp Cú
Sớ Giải là công trình của Ngài Buddhaghosa (Phật Âm), sống khoảng thế kỷ thứ V
Tây lịch.
Cả thế gian chìm
trong đêm tối dày đặc của vô minh phiền não. Ngài cũng ở thế gian mà quét sạch
được nó. Với năng lực siêu phàm chứng đạt được, Ngài đã thắp sáng ngọn đèn
Chánh pháp.
Ngài là bậc Toàn Trí,
phân biệt rành mạch chơn ngụy trong mọi vấn đề. Ðấng Ðạo sư đã thuyết nói chánh
pháp, vì lòng từ vô lượng đã giảng giải giáo pháp theo căn cứ, khiến trời người
đều được an vui, mãn nguyện.
TÍCH
TRUYỆN PHÁP CÚ
(TẬP
3)
NGUYÊN TÁC: "BUDDHIST
LEGENDS",
BY EUGÈNE WATSON BURLINGAME
THIỀN SINH THIỀN VIỆN VIÊN
CHIẾU
NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH. PL. 2544 – DL. 2000
MỤC LỤC TẬP 3
Phẩm XVII: Sân Hận
1. Sân Hận Tàn Phá Dung Nhan
2. Thọ Thần Và Thầy Tỳ Kheo
3. Người Nghèo Và Cô Con Gái
4. Việc Thiện Nhỏ Đưa Đến Thiên
Giới
5. Bà La Môn Đón Phật Như Con
6. Có Phải Người Tặng Quà Làm Nên
Quà Tặng
7. Không Có Gì Quá Nhiều, Quá Ít
8. Lục Quần Tỳ Kheo.
Phẩm XVIII: Cấu Uế
1. Người Đồ Tể Và Đứa Con Trai
2. Dần Dà Từng Chút
3. Con Rận Tiếc Của
4. Thầy Tỳ Kheo Kiêu Ngạo
5. Tà Hạnh Của Nữ Nhân
6. Lịch Sự Và Thô Lỗ
7. Tất Cả Giới Cấm Đều Khó Giữ
8. Kẻ Bới Lỗi Người Khác
9. Những Người Lơ Đễnh
10. Trưởng Giả Ram
11. Tỳ Kheo Bới Lỗi
12. Hư Không Có Dấu Chân?
Phẩm XIX: Công Bình Pháp Trụ
1. Quan Tòa Bất Công
2. Lục Quần Tỳ Kheo
3. Không Phải Vì Nói Nhiều Mà
Được Ca Tụng
4. Người Trẻ Có Thể Là Trưởng
Lão?
5. Thế Nào Là Người Hoàn Toàn?
6. Ðầu Trọc Không Làm Nên Tỳ Kheo
7. Ðiều Gì Làm Nên Sa Môn
8. Không Phải Im Lặng Làm Nên Bậc
Thánh
9. Cao Quí Là Hành Động Cao Quí
10. Ðừng Tự Mãn
Phẩm XX: Ðạo
1. Bát Chánh Đạo Là Đường Tối
Thượng
2. Vô Thường
3. Khổ
4. Vô Ngã
5. Chớ Hẹn Ngày Mai
6. Con Quỉ Đầu Heo
7. Pothila, Ông Sư Rỗng
8. Các Lão Tỳ Kheo Và Lão Bà
9. Cỏ Úa, Hoa Phai
10. Chắc Chắn Sẽ Chết
11. Người Mẹ Mất Con Và Những Hạt
Cải
12. Người Đàn Bà Mất Hết Thân
Quyến
Phẩm XXI: Tạp Lục
1. Sông Hằng Dâng Nước
2. Không Lấy Oán Báo Oán
3. Các Tỳ Kheo Phù Hoa
4. Sa Môn Giết Cha Mẹ
5. Cậu Bé Và Quỉ Dữ
6. Hoàng Tử Bạt Kỳ Làm Sa Môn
7. Cư Sĩ Tâm Người Thành Tín
8. Cô Gái Đức Hạnh
9. Vị Sa Môn Độc Cư
Phẩm XXII: Ðịa Ngục
1. Cái Chết Của Tôn Đà Ly
2. Con Quỷ Xương Khô
3. Xảo Thuật Tìm Thức Ăn
4. Kẻ Đào Hoa
5. Thầy Sa Môn Tự Phụ
6. Người Vợ Ghen Tuông
7. Tự Canh Phòng Như Giữ Thành
8. Các Đạo Sĩ Lõa Thể
9. Trẻ Con Quy Y Phật
Phẩm XXIII: Voi
1. Phật Bị Lăng Nhục
2. Thầy Sa Môn Luyện Voi
3. Lão Bà La Môn Và Các Con
4. Ăn Uống Điều Độ
5. Chú Tiểu Và Dạ Xoa
6. Con Voi Sa Lầy
7. Voi Làm Thị Giả Phật
8. Ma Vương Cám Dỗ Phật.
Phẩm XXIV: Tham Ái
1. Con Cá Vàng
2. Con Heo Nái Tơ
3. Thầy Tỳ Kheo Bỏ Đạo
4. Ngôi Nhà Tù
5. Sắc Đẹp Phù Du
6. Chàng Trai Có Cô Vợ Diễn Viên
Nhào Lộn
7. Xạ Thủ Trẻ Tài Ba
8. Ma Vương Chẳng Nhát Được La
Hầu La
9. Nhà Tu Khổ Hạnh Hoài Nghi
10. Pháp Thí Thắng Mọi Thí
11. Quan Chưởng Khố Không Con
12. Bố Thí Nhiều Và Bố Thí Ít
Phẩm XXV: Tỳ Kheo
1. Giữ Gìn Ngũ Căn
2. Thầy Tỳ Kheo Giết Ngỗng
3. Thầy Tỳ Kheo Không Giữ Gìn Mồm
Miệng
4. Bằng Sự Tinh Tấn Làm Vinh Dự
Cho Phật
5. Thầy Tỳ Kheo Lạc Bầy
6. Người Bà La Môn Cúng Dường Năm
Lần Thành Quả Đầu Tiên
7. Ðảng Cướp Đi Tu
8. Cỏ Úa, Hoa Phai
9. Vị Sa Môn Nhàn Tịnh
10. Vị Sa Môn Và Chiếc Khố Rách
11. Người Thầy Chánh Pháp Là Thầy
Ta
12. Vị Sa Môn Và Long Vương
Phẩm XXVI: Bà La Môn
1. Bà La Môn Đại Hỉ
2. Thế Nào Là "Hai Trạng
Thái"?
3. Thế Nào Là Bờ Kia?
4. Thế Nào Là Bà La Môn?
5. Ðức Phật Sáng Ngời
6. Thế Nào Là Tỳ Kheo?
7. Ðức Nhẫn Nại Chinh Phục Sự Tàn
Ác
8. Ngài Di Mẫu Thọ Giới
9. Tôn Kính Người Đáng Tôn Kính
10. Thế Nào Là Bà La Môn?
11. Người Bà La Môn Gian Xảo
12. Bà Kisa Gotami, Vị Tỳ Kheo Ni
Tu Hạnh Đầu Đà
13. Thế Nào Là Bà La Môn?
14. Diễn Viên Xiếc Uggasena
15. Tranh Cãi Về Sức Kéo
16. Ðức Thế Tôn Chế Ngự Kẻ Sân
Giận
17. Tôn Giả Xá Lợi Phất Bị Mẹ
Mắng
18. A La Hán Có Phàm Thân Hay
Không?
19. Người Nô Lệ Trút Gánh Nặng
20. Khemà Trí Tuệ
21. Vị Sa Môn Và Thiên Thần
22. Vị Sa Môn Và Người Đàn Bà
23. Bốn Vị Sa Di
24. Tôn Giả Ðại Bàn Đặc Có Còn
Sân Giận Không?
25. Sức Mạnh Tập Khí
26. Thầy Tỳ Kheo Bị Kết Tội Trộm
Cắp
27. Tôn Giả Xá Lợi Phất Bị Hiểu
Lầm
28. Tôn Giả Mục Kiền Liên Bị Hiểu
Lầm
29. Bỏ Cả Tốt Lẫn Xấu
30. Tôn Giả Nguyệt Quang
31. Bảy Năm Trong Bụng Mẹ
32. Cô Gái Giang Hồ Quyến Rũ Thầy
Tỳ Kheo Sundarasamudda
33. Jotika Và Jatila
34. Vua A Xà Thế Đánh Chiếm Lâu
Đài Jotika
35. Người Diễn Kịch Câm Xuất Gia
Làm Sa Môn
36. Người Diễn Kịch Câm Xuất Gia
Làm Sa Môn
37. Người Gõ Đầu Lâu
38. Ông Bà Visàkha
39. Angulimàla, Vô Não
40. Phạm Hạnh Của Thí Chủ Quyết
Định Phước Báo Của Cúng Dường
Phần Kết
PHẨM XVII: SÂN HẬN
1. Sân Hận Tàn Phá Dung Nhan
Bỏ phẫn nộ, ly mạn...
Câu chuyện này được
kể lại khi đức Phật ở tại rừng Banyan, liên quan đến Rohinì, thiếu nữ Sát lợi.
A. Cô Gái Bị Mụn Ðỏ
Trên Mặt
Một thuở nọ, Tôn giả
A Nậu Lâu Đà trở về thành Ca Tỳ La Vệ với năm trăm Tỳ kheo tùy tùng. Hoàng tộc
họ Thích nghe tin đều đến Tinh xá đón chào, trừ cô em Rohinì. Tôn giả hỏi:
- Rohinì đâu?
- Thưa Tôn giả, còn ở
nhà.
- Sao không đến?
- Thưa Tôn giả, công
nương bị nổi mụn nhọt đầy người, nên xấu hổ khi đi ra ngoài.
- Hãy gọi Rohinì đến
ngay.
Rohinì được gọi, che
mặt dưới một lớp vải và đi đến. Khi nàng tới, Tôn giả hỏi:
- Sao cô không đến
trước?
- Thưa Tôn giả con bị
nổi mụn trên mặt, nên xấu hổ không dám đi đâu.
- Vậy sao không làm
việc công đức?
- Thưa Tôn giả, con
có thể làm gì?
- Hãy xây cất một
giảng đường.
- Việc ấy tốn kém bao
nhiêu?
- Cô có một bộ nữ
trang nào không?
- Thưa, con có.
- Trị giá bao nhiêu?
- Khoảng mười ngàn.
- Tốt lắm, đem chi
dùng trong việc xây cất.
- Ai sẽ xây cất cho
con?
Tôn giả nhìn những
hoàng thân đang đứng gần và nói:
- Ðây là bổn phận các
vị.
- Nhưng, bạch Tôn
giả, còn Ngài sẽ làm gì?
- Tôi ở đây, các vị
đem vật liệu xây cất đến cho Rohinì.
- Thưa, vâng.
Và họ mang vật liệu
đến, Tôn giả đưa ra đồ án xây cất, bảo Rohinì:
- Hãy cho xây cất một
tòa nhà hai tầng, và khi tầng trên đã xong xuôi, cô đứng ở tầng dưới dọn quét
sạch sẽ, chuẩn bị thức ăn và rót nước đầy các bình.
- Thưa, vâng.
Rohinì vâng lời, nàng
bán toàn bộ nữ trang để lấy tiền xây cất. Khi tầng trên vừa xong, nàng đích
thân dọn dẹp để đón chư Tỳ kheo, ngay khi đó các mụt nhọt lặn hết.
Khi tòa nhà hoàn
thành, nàng mời chư Tăng được đức Phật dẫn đầu đến ngồi đầy nhà. Nàng dâng cúng
thức ăn chọn lọc cả cứng và mềm. Phật thọ trai xong, hỏi:
- Ai cúng dường hôm
nay?
- Thưa, cô Rohinì, em
của Ngài, bạch Thế Tôn.
- Hãy gọi đến đây.
Nàng không muốn đi
ra, nhưng Phật vẫn cho gọi nữa. Khi Rohinì đến, đảnh lễ Phật và ngồi, Phật hỏi:
- Rohinì, sao cô
không đến trước?
- Bạch Thế Tôn, con
bị nổi mụn nhọt khắp người nên xấu hổ không dám đi.
- Cô có biết nguyên
nhân nào khiến mụn nhọt lan đầy người không?
- Thưa không.
- Chính vì lòng sân
hận gây nên.
- Tại sao vậy, con đã
làm gì?
- Hãy nghe đây!
Phật kể chuyện:
B. Bà Hoàng Ganh Tỵ
Với Nữ Vũ Công
Thời quá khứ, có một
Hoàng hậu của vương quốc Ba La Nại sanh tâm đố kỵ với một vũ nữ của hoàng gia,
bà thầm nghĩ: "Ta sẽ làm cho nó đau khổ.” Bà liền tìm thật nhiều mày ghẻ
đã khô, nghiền nát thành bột và cho gọi cô vũ nữ đến chỗ bà, bí mật sai người
rắc bột ghẻ lên giường, ghế và khăn áo của cô. Rồi làm như đùa cợt, bà tung một
ít bột lên mình cô. Lập tức cô gái nổi mụn nhọt khắp mình, nó lở loét trông rất
ghê tởm, cô vừa đi vừa cấu khắp mình. Khi về nằm trên giường, bột ghẻ lại dính
chặt vào da, cô bị đau đớn đến tột cùng. Bà hoàng ấy là Rohinì ngày nay.
Phật kể xong chuyện
quá khứ, Ngài dạy:
- Rohinì, đó là hạt
giống xấu mà cô đã gieo. Giận hờn hay ganh ghét, tuy ít bao nhiêu cũng không
phải là điều chánh đáng.
Ngài nói kệ:
(221) Bỏ phẫn nộ, ly
mạn,
Vượt qua mọi kiết sử,
Không chấp trước danh
sắc,
Khổ không theo, vô
sân.
Nghe xong, nhiều
thính chúng chứng Sơ quả, Nhị quả, Tam quả. Rohinì cũng chứng Sơ quả. Ngay khi
ấy toàn thân cô trở nên vàng óng.
C. Thiên Nữ Xinh Ðẹp
Rohinì sau khi mạng
chung, tái sanh lên cõi trời Ba mươi ba ngay giao điểm các ranh giới của bốn
thiên tử.
Cô gái đẹp đến nỗi
sau khi nhìn thấy cô, cả bốn vị trời đều tranh nhau:
- Nàng thuộc về ranh
giới của ta.
- Nàng tái sanh trong
phạm vi của ta.
Họ kéo nhau đến chỗ
Ðế Thích nhờ phân xử:
- Thiên chủ! Chúng
tôi tranh cãi nhau về thiên nữ này, xin quyết định dùm.
Vừa nhìn thấy Rohinì,
Ðế Thích cũng ước ao. Ngài hỏi:
- Khi các ông nhìn
thấy nàng, cảm tưởng của các ông ra sao?
Vị thứ nhất nói:
- Tim tôi đập vang
dội như trống chầu.
Vị thứ hai nói:
- Ý tưởng của tôi dồn
dập như thác chảy.
Vị thứ ba nói:
- Vừa thấy nàng mắt
tôi muốn nổ tung.
Vị thứ tư nói:
- Tim tôi hớn hở như
lá cờ bay.
Ðế Thích kết luận:
Các vị vui thích nhất
thời, còn tôi nếu không có nàng tôi sẽ chết.
- Ồ thiên chủ! Ngài
cần gì phải chết!
Họ trao nàng cho Ðế
Thích và lui về. Từ lúc ấy nàng rất được Ðế Thích sủng ái, nàng muốn dạo chơi
nơi nào Ðế Thích liền chìu theo.
2. Thọ Thần Và Thầy Tỳ Kheo
Ai chặn được phẫn
nộ...
Câu chuyện này được
kể lại khi đức Thế Tôn ở Tinh xá Aggàlava liên quan tới một vị Tỳ kheo.
Từ sau khi đức Phật
cho phép các Tỳ kheo được sống ngoài Tinh xá, các vị Trưởng giả thành Vương Xá
bận rộn cất thất cho các Thầy. Một Tỳ kheo ở Alavi muốn cất thất riêng cho
mình, Thầy thấy một thân cây thích hợp, bèn bắt đầu đốn xuống. Trên cây ấy, có
một nữ thọ thần, bà ẵm đứa con nhỏ của mình, hiện ra trước Thầy năn nỉ:
- Thưa Thầy, xin đừng
phá nhà con, con sẽ phải lang thang không chỗ trú ẩn với đứa con dại.
- Ta không thể tìm ra
cây nào khác giống như cây này.
Thầy không chú ý đến
lời cầu xin của nữ thần. Bà nghĩ thầm: "Nếu Thầy thấy con ta, chắc sẽ
ngừng tay. Bà bèn đặt đứa bé lên nhánh cây. Tuy nhiên, Thầy Tỳ kheo đã vung rìu
với đà quá mạnh, chặt mất cánh tay đứa bé. Nữ thần nổi giận vươn đôi tay định
vặn chết Thầy Tỳ kheo, nhưng trong khoảnh khắc bà tự nghĩ: "Thầy Tỳ kheo
này là một bậc Hiền Thiện, nếu ta giết Thầy, ta sẽ rơi xuống Địa ngục. Hơn nữa,
nếu các thần cây khác thấy các Sa môn đốn cây của họ, sẽ bảo nhau: "Một
thần cây đã giết Sa môn trong trường hợp như thế.", họ sẽ theo gương ta
giết các Sa môn. Thầy Tỳ kheo này còn có Thầy, ta sẽ thuật chuyện cho Bổn sư
của Thầy.”
Bà bỏ tay xuống, vừa
đi vừa khóc đến chỗ đức Phật, đảnh lễ và đứng qua một bên. Phật hỏi:
- Có chuyện gì thế,
thọ thần?
- Bạch Thế Tôn, đệ tử
của Ngài làm như thế, như thế. Con đã định giết Thầy ấy, nhưng kịp nghĩ lại và
đến đây.
Bà thuật lại câu
chuyện cho Phật nghe, Phật dạy:
- Lành thay! Lành
thay! Ngươi đã cư xử rất tốt khi kìm hãm cơn giận như thắng chiếc xe lao nhanh.
Ngài nói kệ:
(222) Ai chặn được
phẫn nộ,
Như dừng xe đang lăn,
Ta gọi người đánh xe,
Kẻ khác, cầm cương
hờ.
Nghe xong, nữ thần
chứng Sơ quả, hội chúng cũng được lợi ích.
Nhưng sau đó, nữ thần
vẫn đứng khóc. Phật hỏi:
- Có chuyện gì thế?
- Bạch Thế Tôn, nhà ở
của con bị phá, con phải làm sao bây giờ?
- Thôi đừng sầu khổ,
Ta sẽ cho một chỗ ở.
Ngài chỉ một cây ở
gần hương thất của Ngài tại Kỳ Viên, và bảo nữ thần đến ở. Vì cây ấy là quà
tặng của Như Lai, nên dù vị thần nào có uy lực lớn lao cũng không thể lay
chuyển được. Nhân chuyện này, Phật ra lệnh cho các Tỳ kheo giữ giới "Không
được chặt đốn cây cối.”
3. Người Nghèo Và Cô Con Gái
Lấy không giận thắng
giận...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm sau khi thọ trai tại nhà Uttarà, liên quan đến nữ Cư
sĩ Uttarà.
A. Punna Ðược Công
Ðức
Tại Vương Xá, có một
người nghèo tên Punna sống bằng nghề làm thuê cho Trưởng giả Sumana. Punna có
một người vợ và một con gái tên là Uttara, đều là nô tỳ của Trưởng giả.
Ngày nọ, lệnh truyền
khắp thành Vương Xá tổ chức lễ hội trong bảy hôm. Sáng hôm lễ, Trưởng giả
Sumana thấy Punna đến, bèn hỏi:
- Các người làm thuê
cho ta đều nghỉ lễ, còn ngươi nghỉ hay làm?
- Thưa chủ, nghỉ lễ
chỉ dành cho người giàu. Phần tôi không đủ cơm ăn cho ngày mai, tôi nghỉ lễ làm
gì. Tôi sẽ dắt bò đi cày.
- Tốt lắm, thôi đi
cày đi!
Punna bắt một cặp bò
mạnh khỏe và lấy cày, nói với vợ:
- Mình ạ, mọi người
trong thành đều nghỉ lễ, nhưng nhà mình nghèo quá tôi vẫn phải đi làm, mình đem
hai phần cơm hôm nay cho tôi nhé.
Và Punna ra đồng.
Hôm ấy, Tôn giả Xá
Lợi Phất sau khi nhập định bảy ngày, thầm nghĩ: "Hôm nay, ta sẽ ban phước
đến cho ai?" Nhận thấy Punna có duyên với mình, Tôn giả tự hỏi: "Liệu
ông ấy có đủ niềm tin và dâng cúng cho ta?" Quan sát tiếp thấy Punna tín
thành, hỷ cúng và còn được hưởng số gia tài lớn, Tôn giả đắp y, mang bát đi đến
cánh đồng Punna đang cày, dừng lại bên đường và nhìn chăm chú một bụi cây. Punna
thấy Tôn giả, bỏ cày, đến đảnh lễ năm vóc sát đất, và tự nhủ: "Chắc Tôn
giả cần tăm xỉa răng.” Ông đem tăm đến cho Tôn giả. Tôn giả trao đãy lược nước
và bình bát cho Punna. "Chắc Tôn giả cần nước", Punna nghĩ thế cầm
lấy đãy lược, lược nước đầy bát và đem trao Tôn giả. Tôn giả nghĩ: "Người
này ở ngôi nhà sau cùng, nếu ta đi tới cửa vợ ông ta sẽ không thấy. Ta sẽ đợi
đúng lúc bà ta mang cơm ra cho chồng.”
Tôn giả đứng đợi giây
lát, khi thấy bà vợ Punna bắt đầu ra đến đường, Ngài bước đến. Người vợ thấy
Tôn giả, tự nghĩ: "Một lần ta có thức ăn thì không gặp, lần khác gặp Ngài
thì ta lại không có gì để cúng. Hôm nay ta vừa gặp Ngài lại có thức ăn. Ngài có
ban phước cho ta chăng?” Bà đặt giỏ thức ăn xuống, đảnh lễ Tôn giả năm vóc sát
đất và bạch:
- Thưa Tôn giả, xin
Ngài đừng nghĩ rằng thức ăn ngon hay dở, xin hãy ban phước cho kẻ tôi tớ này.
Tôn giả đưa bình bát
ra, bà sớt cơm vào bát, được phân nửa, Tôn giả bảo: "Ðủ rồi!" Và Ngài
lấy tay che miệng bát. Người vợ thưa:
- Bạch Tôn giả! Một
phần ăn không thể chia làm hai. Xin Ngài ban phước cho con đời này và đời sau.
Con muốn cúng dường Ngài tất cả.
Bà sớt cơm vào bát
Tôn giả với lời ước nguyện:
- Xin cho con được dự
vào pháp vị mà Ngài đã chứng.
- Con sẽ được như
thế.
Tôn giả đọc câu kệ
hồi hướng, và ngồi xuống một nơi mát, sạch, thọ trai. Người vợ nông phu về nhà
nấu cơm khác.
Punna đã cày hết nửa
mẫu đất, đói bụng quá bỏ cày, ngồi xuống gốc cây trông chừng về phía đường. Khi
người vợ mang cơm đến, thấy chồng ngồi trông, bà nghĩ: "Ông ấy bị đói dữ
dội đang đợi ta kìa, ông sẽ trách ta đến trễ, lấy gậy đập ta, khiến cho việc ta
vừa làm không có kết quả, chi bằng ta nói trước.” Và bà kêu lên:
- Mình ạ, hãy kiên
nhẫn một chút và đừng làm mất hết thành quả của việc tôi mới làm. Sáng sớm tôi
đem cơm cho mình gặp Tôn giả Xá Lợi Phất và đã cúng dường hết, về nấu cơm khác
nên hơi lâu. Chắc mình hài lòng chứ?
Bà nói gì?
Sau khi nghe xong
chuyện lần thứ hai, Punna bảo vợ:
- Mình đã làm việc
tốt khi dâng cơm cho Tôn giả. Tôi cũng đã đem tăm và nước súc miệng đến cho Tôn
giả sáng nay.
Với nỗi vui mừng khi
nghe vợ kể chuyện, hơi mệt vì đã nhịn ăn từ sáng sớm, Punna gối đầu lên chân vợ
và ngủ. Bấy giờ, tất cả đất được cày lên từ sáng đều biến thành vàng, sáng lấp
lánh như hoa Kanikàra. Punna thức giấc, nhìn thửa ruộng bảo vợ:
- Mình nhìn xem,
dường như đất biến thành vàng! Hay là tôi bị chóa mắt vì đã nhịn cơm trưa nay?
- Tôi cũng thấy như
vậy.
Punna đứng dậy, bước
xuống ruộng lượm một miếng đất lấy cán cày đập thử và thấy nó là vàng. Ông kêu:
- Ôi! Chúng ta cúng
dường Tôn giả Xá Lợi Phất và phước báo đến ngay ngày hôm nay. Nhưng chúng ta
không thể dấu hết chừng ấy vàng để xài riêng.
Thế là ông lấy cái
giỏ của bà vợ chất đầy vàng đem đến cung vua, tâu:
- Tâu Ðại vương, hôm
nay đất tôi cày đều biến thành vàng. Số vàng ấy có phải nhập kho không?
- Ngươi tên gì?
- Punna.
- Hôm nay ngươi đã
làm gì?
- Sáng sớm hôm nay
tôi dâng Tôn giả Xá Lợi Phất nước và tăm xỉa răng, vợ tôi dâng phần cơm của tôi
cho Ngài.
Nhà vua giải thích:
- Ðó chính là quả
phước do việc cúng dường. Ta phải làm gì đây?
- Xin hãy đưa vài
ngàn chiếc xe đến để chở vàng về kho.
Khi người của nhà vua
nhặt vàng, họ nói:
- Ðây là tài sản của
nhà vua.
Vàng trong tay họ
liền biến thành đất. Họ trở lại tâu vua. Vua hỏi:
- Các ngươi nói gì
khi nhặt vàng?
- Chúng tôi nói nó là
tài sản của đại vương.
- Ta mà là ai? Hãy đi
và nói rằng đây là tài sản của Punna, rồi nhặt vàng.
Họ làm theo lời vua
dặn, lập tức đất trong tay họ biến thành vàng. Họ chở hết số vàng này về sân
cung điện, và chất thành đống cao tám mươi cubit.
Nhà vua cho vời các
thị dân đến và hỏi:
- Có ai trong thành
có nhiều vàng như thế này chăng?
- Tâu đại vương,
không.
- Ta nên tặng gì cho
ông ấy?
- Xin cho một cây
lọng báu.
- Hãy gọi ông ấy là
Ðại Phú Gia, Trưởng giả Bahudhana.
- Ðại vương, tôi sống
nhờ nhà người, xin cho tôi một nơi để ở.
Nhà vua chỉ khoảnh
đất của nhà một Trưởng giả trước đây, nói:
- Nhìn đây, có khoảng
cây rậm rạp và ông hãy dọn sạch, cất nhà ở đấy.
Punna cất nhà xong,
tổ chức lễ khánh thành, cúng dường trai Tăng suốt bảy hôm. Ðức Phật thuyết pháp
cho ông, sau bài pháp cả Punna, vợ và cô con gái Uttarà đều chứng quả Dự lưu.
Thời gian sau, vị
Trưởng giả thành Vương Xá muốn hỏi Uttarà cho con trai mình, Punna từ chối,
Trưởng giả Vương Xá bảo:
- Ðừng làm thế, chúng
ta là hàng xóm, ông giàu có và địa vị cao. Hãy gả nó cho con trai tôi.
- Con ông theo ngoại
đạo. Con gái tôi tin Tam bảo. Tôi không gả được.
Nhiều nhà vọng tộc,
phú hào, quyền chức đã khuyên Punna đừng làm mất tình thân của Trưởng giả kia.
Cuối cùng, Punna nhận lời, vào ngày trăng tròn tháng Asalhi, gả Uttarà.
B. Uttarà Và Sirimà
Từ khi về nhà chồng
Uttarà không có dịp gặp gỡ chư vị Tỳ kheo Tăng Ni, hoặc cúng dường, hoặc nghe
pháp. Hai tháng rưỡi trôi qua, nàng hỏi người hầu.
- Mùa an cư còn bao
lâu?
- Thưa phu nhân, nửa
tháng nữa.
Uttarà nhắn tin về cha
nàng: "Tại sao lại nhốt con trong cái nhà như vậy? Thà là đánh con, chửi
con hơn gả con cho một gia đình như thế. Từ ngày về đây, con không được gặp một
vị Sa môn nào, chẳng có dịp làm một công đức nhỏ.”
Cha nàng được tin,
buồn bã nói:
- Ôi! Con ta bất hạnh
quá!
Ông gởi cho nàng mười
lăm ngàn kèm theo lời nhắn tin: "Trong thành này có cô kỹ nữ tên là
Sirimà, một đêm một ngàn. Với số tiền này, con đưa cô ấy về cho chồng con, để
thay con. Và con sẽ có thời giờ làm việc phước.”
Uttarà gọi Sirimà
đến, cho tiền, đề nghị làm bạn với chồng mình. Chồng của Uttarà cũng say mê
nhan sắc của Sirimà nên đồng ý, để Uttarà tự do đi cúng dường và nghe pháp.
Uttarà thỉnh chư Tăng
và đức Phật:
- Bạch Thế Tôn, bắt
đầu ngày nay xin thọ trai ở nhà con.
Ðược Phật nhận lời,
nàng vui sướng nghĩ thầm: "Từ ngày mai trở đi cho đến ngày Tự Tứ, ta được
dịp hầu hạ đức Phật và nghe pháp.” Và nàng bảo nhà bếp chuẩn bị thức ăn cần
thiết: "Hãy nấu món này, hãy làm bánh này.”
Một hôm, vào ngày
trước lễ Tự Tứ, chồng Uttarà đứng ở cửa sổ phòng mình nhìn vào nhà bếp, nghĩ
thầm:
- Cô vợ khùng này
đang làm gì kìa?
Khi thấy Uttarà đi
tới đi lui, mình mẩy đẫm mồ hôi, dính đầy tro bụi mồ hóng... y nói thầm:
"A, ở một chỗ như nhà mình mà con nhỏ đó không thích xa hoa, tiện nghi,
chỉ thích nấu nướng cúng kính các Thầy tu trọc đầu", y bật cười rồi bỏ đi.
Sirimà đứng gần đó thấy vậy, tự hỏi: "Ông ấy thấy ai mà cười?” Nhìn qua
cửa sổ thấy Uttarà, Sirimà ghen tức "Chỉ vì thấy bà ta thôi, giữa họ vẫn
còn tình tứ lắm" (Dù Sirimà sống nửa tháng trong nhà ấy như một nàng hầu,
chóa mắt vì sự xa hoa lộng lẫy, nàng quên mình chỉ là nàng hầu mà tưởng mình là
nữ chủ).
Sirimà cảm thấy ghét
Uttarà muốn làm cho nàng khổ sở đau đớn. Cô chạy xuống lầu, đi vào nhà bếp, đến
bên chảo bánh, múc một muỗng bơ đang sôi tiến về phía Uttarà. Uttarà thấy cô đi
tới nhưng vẫn nói:
- Cô bạn đã giúp tôi
rất nhiều. Trái đất này có thể nhỏ hẹp, cõi trời Phạm có thể chấp, nhưng lòng
tốt của cô lớn lao hơn nhiều. Nhờ cô, tôi được rảnh để cúng dường và nghe pháp,
nếu tôi nổi giận với cô tôi sẽ bị cháy bỏng. Nếu không, nó không làm hại tôi.
Nói như thế, và
Uttarà hướng tâm thương yêu về phía đối thủ. Khi Sirimà tạt muỗng bơ đang sôi
lên đầu nàng, nó giống như nước lạnh. Sirimà múc luôn muỗng thứ hai..
Các bà gia nhân của
Uttarà thấy thế, la lên:
- Cút đi! Ðồ ngu! Mày
có quyền gì mà chế bơ vào đầu chủ tao.
Họ xúm lại đánh đập,
đá thoi, xô Sirimà xuống đất. Uttarà cố gắng can ngăn mà không được. Nàng đứng
chắn trước Sirimà, đẩy gia nhân ra, hỏi han Sirimà:
- Sao cô hành động
hung bạo thế?
Nàng đỡ Sirimà dậy,
tắm rửa bằng nước nóng, lấy dầu loại quý thoa cho. Lúc ấy, Sirimà mới chợt nhớ
mình chỉ là nàng hầu, tự nhủ: "Thật là một hành động thô bỉ khi ta đổ bơ
nóng lên đầu nàng chỉ vì chồng nàng cười với nàng. Và nàng, thay vì ra lệnh cho
gia nhân trói tréo ta lại, nàng lại đuổi họ đi khi họ đánh đập ta, rồi hết sức
chăm sóc ta. Nếu ta không xin lỗi nàng, đầu ta sẽ bể làm bảy mảnh.” Sirimà quỳ
dưới chân Uttarà nói:
- Phu nhân, hãy tha
lỗi cho tôi.
Uttarà trả lời:
- Tôi là con của cha
tôi, nếu cha tôi tha lỗi cho cô, tôi sẽ tha lỗi.
- Lành thay, phu
nhân. Tôi sẽ xin lỗi cha nàng, Trưởng giả Punna.
- Punna là cha thế
gian của tôi. Nếu người cha xuất thế gian của tôi tha lỗi cho cô, tôi sẽ tha
lỗi.
- Nhưng ai là cha
xuất thế gian của nàng?
- Là đức Phật, bậc
Giác Ngộ Vô thượng.
- Tôi không dám tin
vào Phật sống.
- Tôi sẽ làm cho nàng
tin. Ngày mai đức Phật sẽ đến đây với chư Tỳ kheo, hãy chuẩn bị đồ cúng dường
và đến đây xin sám hối.
- Thưa vâng, phu
nhân.
Sirimà trở về nhà,
bảo năm trăm tỳ nữ chuẩn bị sẵn sàng theo cô. Nàng sắm nhiều loại thức ăn ngon,
hôm sau mang đến nhà Uttarà. Không dám đặt phẩm vật cúng dường vào bát của Phật
và chư Tăng, nàng đứng đợi. Uttarà bèn nhận phẩm vật và tùy nghi dâng lên. Phật
thọ trai xong, Sirimà và đoàn tỳ nữ quỳ dưới chân Phật, Ngài hỏi:
- Con đã gây tội gì?
- Bạch Ngài, hôm qua
con đã làm như thế... Nhưng người bạn này đã ngăn gia nhân không cho đánh con.
Nàng rất tốt nên con xin nàng tha thứ, nàng nói nếu Thế Tôn tha thứ, nàng sẽ
tha thứ.
- Uttarà, đúng vậy
không?
- Thưa vâng, bạch Thế
Tôn!
Uttarà thuật lại
những gì lòng nàng nghĩ về Sirimà, lúc ấy, Phật khen ngợi:
- Lành thay! Lành
thay! Uttarà! Ðó là cách đúng nhất để dập tắt cơn giận. Từ bi có thể xóa sạch
hận thù. Dùng không mắng chửi để thắng mắng chửi, dùng bố thí thắng xan tham,
dùng thật ngữ thắng vọng ngữ.
Ngài nói kệ:
(223) Lấy không giận
thắng giận,
Lấy thiện thắng bất
thiện,
Lấy thí thắng xan
tham,
Lấy chơn thắng hư
ngụy.
4. Việc Thiện Nhỏ Ðưa Ðến Thiên Giới
Nói thật, không phẫn
nộ...
Câu chuyện này được
kể lại khi Phật ở Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Ðại Mục Kiền Liên.
Một hôm, Tôn giả Mục
Kiền Liên đi dạo nơi cung trời, thấy một vị trời có thần lực rất lớn đang đứng
trước cung điện của mình. Thiên thần ấy đến chào Tôn giả, Tôn giả hỏi:
- Này thiên thần, ông
có uy lực lớn, ông đã làm gì mà được như thế?
- Ồ! Bạch Ngài, xin
đừng hỏi tôi. (vị trời này chỉ làm một việc thiện nhỏ, nên xấu hổ không muốn
nói).
Tôn giả cứ hỏi lại,
yêu cầu nói cho nghe, cuối cùng thiên thần nói:
- Thưa Tôn giả, tôi
không hề cúng dường, tôn kính hay nghe pháp. Tôi chỉ nói thật mà thôi.
Tôn giả đến cung điện
khác, hỏi một vài thiên nữ khác. Họ cố giấu việc mình làm nhưng không qua được
Tôn giả, một người nói:
- Thưa Tôn giả, tôi
không bố thí hay làm việc về Tôn giáo, nhưng vào thời Phật Ca Diếp tôi là đầy
tớ của một ông chủ tàn bạo hà khắc. Ông ta chỉ có đánh đập. Nhưng khi tư tưởng
sân hận nổi lên tôi tự an ủi mình rằng: "Ông ấy là chủ mình, có thể bắt
giam mình, hoặc xẻo mũi mình, hay xẻo bất cứ nơi nào. Ðừng giận dữ.” Như thế,
tôi làm lắng dịu lòng mình, chỉ có thế, tôi được phước quả này.
Người khác nói:
- Thưa Tôn giả, khi
tôi đang canh chừng ruộng mía, tôi có cúng một cây mía cho một Sa môn.
- Tôi cúng một
timbaràsaka.
- Tôi cúng một
elàluka.
- Tôi cúng một
phàrusaka.
- Tôi cúng một nắm củ
cải.
Tất cả đều kết luận:
"Bằng cách ấy chúng tôi đạt được quả phước.”
Tôn giả trở về bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, có
phải người được sanh cõi trời chỉ vì đã nói thật, hay đã chế ngự cơn giận, hay
bố thí một nắm đậu,v.v...?
- Vì sao ông hỏi ta
điều ấy? Tất cả thiên thần đã chẳng kể rõ cho ông sao?
- Thưa vâng, con tin
rằng chỉ vài điều thiện nhỏ như thế cũng đủ sanh thiên.
Phật dạy:
- Này Mục Kiền Liên,
chỉ với lời nói thật, chỉ với việc chế ngự cơn giận, hay tặng một quà nhỏ,
người được sanh thiên.
Ngài nói kệ:
(224) Nói thật, không
phẫn nộ,
Của ít, thí người
xin,
Nhờ ba việc lành này,
Người đến gần thiên
giới.
5. Bà La Môn Ðón Phật Như Con
Bậc hiền không hại
ai...
Câu chuyện này được
kể lại khi đức Phật ở Anjanavana gần Sàketa, liên quan đến câu hỏi của chư Tỳ
kheo.
Một hôm, đức Phật
cùng chư Tăng đi vào Sàketa khất thực, một người Bà la môn ở trong thành nhìn
thấy đấng Thập Lực đang đi vào cổng thành, ông ta quỳ xuống ôm chân Phật kêu
lên:
- Con thân yêu! Bổn
phận con cái là chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già, sao lâu quá chúng ta không gặp
con? Ðây là lần đầu cha mới gặp, hãy về thăm mẹ con đi.
Phật đi theo, ông lão
đưa Phật về nhà, ngồi vào chỗ soạn sẵn, với chư Tăng. Vợ người Bà la môn đến
gặp Phật, gieo người dưới chân Ngài nói:
- Con ơi! Bấy lâu nay
con ở đâu? Không ai chăm sóc cha mẹ khi tuổi già.
Bà kêu con trai, con
gái ra chào Phật và nói:
- Hãy đi chào anh
con.
Vui mừng hân hoan,
người Bà la môn và vợ cúng dường thức ăn cho Phật và Tăng chúng, thỉnh cầu;
- Bạch Thế Tôn, hãy
thọ trai ở đây suốt đời.
Phật trả lời:
- Chư Phật không bao
giờ thọ trai ở một nơi cố định.
- Như thế, xin Ngài
cho chúng con biết được người nào mời thọ trai.
Từ đó, đức Phật bảo
người đến thỉnh Ngài thọ trai rằng: "Hãy bảo cho Bà la môn đó.” Và họ đến
nói với ông:
- Ngày mai chúng tôi
thỉnh Phật thọ trai.
Người Bà la môn sẽ
đem cơm canh từ nhà mình đến chỗ nào có đức Phật. Khi không ai mời, Phật dùng
bữa tại nhà ông. Cả hai vợ chồng thường xuyên cúng dường Phật và nghe pháp, qua
thời gian đều chứng Tam quả.
Các Tỳ kheo bàn tán ở
Pháp đường:
- Chư hiền,
người Bà la môn biết chắc chắn rằng phụ thân đức Như Lai là vua Tịnh Phạn, và
mẹ Ngài là Hoàng hậu Ma Da. Dù vậy, cả hai ông bà đều gọi Như Lai là "Con
chúng ta" và Phật chấp nhận lối xưng hô ấy. Chuyện này là thế nào?
Ðức Phật nghe việc
này, Ngài dạy:
- Này các Tỳ kheo,
hai vợ chồng Bà la môn đều có ý xem Ta như con khi họ gọi Ta là con.
Ngài nói về quá khứ:
- Thời quá khứ, Bà la
môn ấy là cha của Ta trong năm trăm kiếp, là chú của Ta trong năm trăm kiếp, là
ông nội của Ta năm trăm kiếp, bà vợ là mẹ của Ta năm trăm kiếp, là dì của Ta
năm trăm kiếp, bà ngoại của Ta năm trăm kiếp. Ta được nuôi dưỡng suốt một ngàn
năm trăm kiếp bên người chồng và một ngàn năm trăm kiếp bên người vợ.
Ðể giải thích việc ba
ngàn đời là con cháu của họ, Phật nói kệ:
Khi ý tưởng hân hoan,
Và trái tim tin
tưởng,
Ta có thể tin vào,
Người mới gặp lần
đầu.
Qua liên hệ quá,
hiện,
Lòng yêu thương khởi
lên,
Như sen nhô trên
nước.
Ba tháng ở tại
Sàketa, đức Phật thường lui tới nhà Bà la môn ấy để thọ trai, sau ba tháng, họ
chứng quả A la hán và nhập Niết bàn. Mọi người tỏ vẻ kính trọng thi hài họ, đặt
lên giàn cây khiêng đi. Nghe tin rằng họ đã là mẹ và cha của đức Thế Tôn, dân
chúng đi theo đám tang rất đông. Ðức Phật đến một giảng đường gần nơi hỏa táng,
chờ ở đấy. Mọi người đến đảnh lễ Phật thưa rằng:
- Bạch Thế Tôn, xin
đừng buồn vì song thân qua đời.
Họ tìm cách an ủi
Ngài. Thay vì quở họ đừng nói thế, đức Thế Tôn quan sát tâm tư mọi người và nói
bài pháp tương ứng với trường hợp đặc biệt này, đọc kinh Jarà như sau:
Ðời sống thật ngắn
ngủi.
Một trăm năm chưa
qua,
Người ta đã phải
chết.
Dù ai có sống lâu,
Rồi cũng sẽ chết già.
Các Tỳ kheo, không
biết rằng người Bà la môn và vợ đã nhập Niết bàn, hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn, họ sẽ
tái sanh nơi đâu?
- Này các Tỳ kheo,
trường hợp của các A la hán Thánh nhân như họ không có kiếp sau. Họ đã đạt đến
Ðại Niết bàn, cõi bất tử, vĩnh hằng.
Ngài nói Pháp Cú:
(225) Bậc hiền không
hại ai,
Thân thường được chế
ngự,
Ðạt được cảnh bất tử,
Ðến đây, không ưu
sầu.
6. Có Phải Người Tặng Quà Làm Nên Quà Tặng?
Những người thường
giác tỉnh...
Câu chuyện này được
kể lại khi đức Thế Tôn ở tại núi Linh Thứu, liên quan đến Punna, đầy tớ gái của
Trưởng giả thành Vương Xá.
Có một ngày, Punna
phải giã gạo rất nhiều từ sáng sớm đến tối mịt, đốt đèn lên làm cũng không hết
việc. Cuối cùng mệt quá, cô bước ra ngoài nghỉ một lát, thân thể ướt đẫm mồ
hôi. Bấy giờ thần Dabba the Malla có nhiệm vụ đưa chư Tỳ kheo về chỗ nghỉ. Sau
khi nghe pháp, ông dùng thần thông làm ngón tay sáng lên như một ngọn đèn và đi
trước dẫn đường, các Tỳ kheo theo sau.
Ánh sáng khiến Punna
chú ý đến các Sa môn đang đi trên đường núi. Cô nghĩ thầm: "Mình làm thân
ở đợ nên giờ này còn chưa được ngủ. Còn các Tỳ kheo tôn kính kia sao không ngủ
được?" Và cô đi đến kết luận: "Chắc có Thầy nào đau ốm hay bị rắn cắn
gì đây?”
Sáng sớm hôm sau,
Punna lấy một ít cám, nhồi với nước lạnh, nắn bánh và đem nướng. Sau khi nướng
xong, cô đem bánh, nước uống, đi ra bờ sông tắm, dự định sẽ ăn bánh trên đường
đi. Lúc ấy, đức Phật cũng đi trên đường ấy, vào làng để khất thực. Punna thấy
Ngài, thầm nghĩ: "Có mấy hôm gặp Phật, ta không có gì để cúng dường, hoặc
có thức ăn lại không gặp Phật. Hôm nay gặp Phật lại là lúc mình có sẵn bánh
đây. Nếu Ngài không để ý bánh ngon hay dở, mình sẽ cúng dường Ngài.” Và cô đặt
bình nước xuống bên đường, chào đức Phật và thưa:
- Bạch Thế Tôn, xin
nhận phẩm vật đơn sơ này và ban phước cho con.
Phật nhìn sang A Nan,
Tôn giả cầm bát vốn là quà tặng của một đại vương, trao cho Phật. Phật đưa bát
và nhận bánh cám nướng. Punna đảnh lễ Phật, năm vóc sát đất và bạch:
- Bạch Thế Tôn, xin
cho chân lý Ngài chứng ngộ, con cũng được dự phần.
- Con sẽ được như
vậy.
Và đứng ngay tại chỗ,
Thế Tôn nói lời chúc phúc. Nhưng Punna vẫn nghĩ: "Mặc dù Thế Tôn ban phước
cho ta khi Ngài nhận bánh nhưng chắc Ngài không ăn. Chắc Ngài cầm nó đi một
quãng đường rồi ném cho quạ, cho chó. Rồi Ngài đến nhà một ông hoàng hay vị đế
vương nào đó, nhận thức ăn thượng vị.”
Ðức Phật biết Punna
nghĩ như thế nên Ngài nhìn A Nan, tỏ dấu muốn ngồi. Tôn giả trải tọa cụ,
đức Phật ngồi xuống ngoài cổng thành và ăn bánh nướng. Chư thiên các
tầng trời bèn đổ mật ong (thức ăn thích hợp cho cả trời lẫn người trên khắp các
cõi nước) vào chiếc bánh khô cứng của Punna. Punnà đứng nhìn Ngài thọ thực. Khi
Thế Tôn ăn xong, A Nan dâng nước. Vào cuối bữa ăn sáng này, Thế Tôn quở Punnà:
- Này Punna, tại sao
người phỉ báng đồ đệ Ta?
- Bạch Thế Tôn, con
đâu có.
- Vậy ngươi nói gì
khi thấy họ?
- Bạch Thế Tôn, con
nghĩ đơn giản rằng: "Con bị bắt buộc làm việc nên không đi ngủ được, còn
các Sa môn tôn kính kia vì sao không ngủ? Có thể một vài vị bị bệnh hoặc rắn
cắn chi đây?"
Thế Tôn nghe xong,
dạy Punnà:
- Này Punnà, trường
hợp ngươi khổ sở vì không được ngủ. Nhưng các đệ tử của Ta luôn luôn tỉnh giác
nên không ngủ.
Ngài nói kệ:
(226) Những người
thường giác tỉnh,
Ngày đêm siêng tu
học,
Chuyên tâm hướng Niết
bàn,
Mọi lậu hoặc được
tiêu.
Nghe xong, Punnà liền
chứng Sơ quả, hội chúng cũng được lợi ích.
Thế Tôn về đến Tinh
xá, các Tỳ kheo bàn tán về việc ban sáng như sau:
- Chư hiền,
chắc đấng Thế Tôn đã ăn sáng khó nuốt lắm với chiếc bánh của Punnà làm bằng bột
cám và nước bằng than.
Thế Tôn đến gần, hỏi
các Thầy:
- Các Tỳ kheo, các
ông tụ họp ở đây nói chuyện gì thế?
Khi nghe kể lại, Ngài
nói:
- Này Tỳ kheo, đây
không phải là lần đầu Ta ăn như thế, sự việc này cũng đã xảy ra vào thời quá
khứ.
Ngài nói kệ:
- Cỏ thừa ngươi
thường ăn,
Váng cháo tấm ngươi
uống
Ấy thức ăn ngày trước
Sao giờ ngươi chẳng
ăn?
- Chưa rành giòng dõi
xuất thân,
Thưa Ngài váng cháo
tấm ăn no lòng.
Còn con, ngựa giống
ngựa nòi
Ngài, con đều biết,
cháo kia đâu thèm.
(Trích đoạn của
truyện tiền thân)
Và Ngài kể lại chuyện
tiền thân Kundakasimdhavapotaka.
7. Không Có Gì Quá Nhiều, Quá Ít.
A tu la nên biết...
Câu chuyện này xảy ra
khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến nam Cư sĩ Atula.
Atula (Tu Lại) là một
thiện tín sống ở Xá Vệ, và có một nhóm bạn năm trăm Phật tử. Một ngày nọ ông
dắt cả năm trăm người đi đến Tinh xá nghe pháp. Ðầu tiên họ đến bên Tôn giả Ly
Bà Đa (Revata), cung kính đảnh lễ và ngồi một bên. Tôn giả là người ưa độc cư,
yêu thích cô độc như một con sư tử yêu thích cô đơn, nên Ngài không nói gì với
họ.
Tu Lại nghĩ thầm:
"Tôn giả chẳng nói năng chi.” Cả nhóm đứng dậy đi đến chỗ Tôn giả Xá Lợi
Phất, và cung kính đứng bên. Tôn giả hỏi:
- Các ông đến gặp ta
có chuyện gì?
Tu Lại thưa:
- Bạch Tôn giả, con
đưa các bạn đi nghe pháp và đã gặp Ngài Ly Bà Đa. Nhưng Ngài chẳng nói gì, nên
con bất mãn và đến đây. Xin Tôn giả thuyết pháp cho chúng con.
- Tốt lắm. Các ông
hãy ngồi xuống.
Và Tôn giả Xá Lợi
Phất giảng giải về A Tỳ Đàm tràng giang đại hải.
Tu Lại nghĩ thầm:
"A Tỳ Đàm rất khó hiểu, Tôn giả chỉ giảng giải pháp ấy cho ta quá dài,
điều ấy đâu có ích lợi gì?" Và ông bực bội dẫn chúng bạn đi đến chỗ Tôn
giả A Nan. Tôn giả hỏi: - Có việc gì thế Cư sĩ?
Tu Lại thưa:
- Thưa Tôn giả, chúng
con đến chỗ Ngài Ly Bà Đa mong được nghe pháp. Tôn giả chẳng nói lời nào. Chúng
con đến chỗ Tôn giả Xá Lợi Phất, và Ngài dạy quá nhiều về A Tỳ Đàm với tất cả
chi tiết. Chúng con chẳng hiểu gì cả và buồn bực Tôn giả ấy, nên đến đây. Xin
Tôn giả thuyết pháp cho chúng con.
- Tốt lắm, hãy ngồi
xuống và lắng nghe.
Tôn giả nói pháp cho
họ, ngắn gọn và dễ hiểu. Nhưng họ cũng bực tức, bỏ đi và đến chỗ Thế Tôn đảnh
lễ rồi lui ngồi một bên. Phật hỏi:
- Vì sao các ông đến
đây?
- Bạch Thế Tôn, chúng
con nghe pháp.
- Nhưng các ông đã
nghe rồi.
- Bạch Thế Tôn, Tôn
giả Ly Bà Đa chẳng nói lời nào, Tôn giả Xá Lợi Phất giảng dạy quá nhiều, Tôn
giả A Nan lại nói ngắn quá, chúng con không vui nên đến đây.
Phật nghe xong và
quở:
- Này Tu Lại, từ xưa
đến nay, người ta luôn chê bai. Người không nói, người nói nhiều, người nói ít
đều bị chê, không ai hoàn toàn được khen, cũng không ai hoàn toàn bị chê. Ngay
cả các bậc Ðế vương cũng được người khen kẻ chê. Ngay cả đại địa, mặt trời, mặt
trăng, ngay cả một vị Phật, ngồi giữa tứ chúng mà thuyết pháp cũng có người
khen kẻ chê. Lời khen chê của người ngu không quan trọng. Nhưng khi người học
thức, thông minh khen hay chê, đó mới là đích thực.
Ngài nói kệ:
(227) A tu la nên
biết,
Xưa vậy, nay cũng
vậy,
Ngồi im, bị người
chê,
Nói nhiều, bị người
chê,
Nói vừa phải bị chê,
Làm người không bị
chê
Thật khó tìm ở đời.
(228) Xưa, vị lai và
nay,
Ðâu có sự kiện này,
Người hoàn toàn bị
chê,
Người trọn vẹn được
khen.
(229) Sáng sáng, thẩm
sát kỹ,
Bậc có trí tán thán,
Bậc trí không tỳ vết,
Ðầy đủ giới, định,
tuệ.
(230) Danh sáng như
vàng ròng,
Ai dám chê vị ấy?
Chư thiên phải
khen thưởng,
Phạm thiên cũng tán
dương.
8. Lục Quần Tỳ Kheo
Giữ thân đừng phẫn
nộ...
Câu chuyện này xảy ra
khi Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Lục quần Tỳ kheo.
Ngày nọ, nhóm Lục
quần Tỳ kheo mang guốc gỗ, hai tay cầm gậy khua lóc cóc, đi lên đi xuống rầm
rầm trên một phiến đá. Phật nghe tiếng lốp bốp, mới hỏi Ngài A Nan:
- Này A Nan!
Tiếng gì thế?
Tôn giả thưa:
- Bạch Thế Tôn, Lục
quần Tỳ kheo mang guốc gỗ, đi tới đi lui nên gây ra tiếng ấy.
Nghe thế, Phật dạy:
- Một Tỳ kheo phải
kiểm soát tư tưởng, lời nói, và hành động của mình.
Ngài nói kệ:
(231) Giữ thân, đừng
phẫn nộ,
Phòng thân, khéo bảo
vệ,
Từ bỏ thân làm ác,
Với thân, làm hạnh
lành.
(232) Giữ lời, đừng
phẫn nộ,
Phòng lời, khéo bảo
vệ
Từ bỏ lời thô ác,
Với lời, nói điều
lành.
(233) Giữ ý đừng phẫn
nộ,
Phòng ý, khéo bảo vệ,
Từ bỏ ý nghĩ ác,
Với ý, nghĩ hạnh
lành.
(234) Bậc trí bảo vệ
thân,
Bảo vệ luôn lời nói,
Bảo vệ cả tâm tư,
Ba nghiệp khéo bảo
vệ.
PHẨM XVIII: CẤU UẾ
1. Người Ðồ Tể Và Ðứa Con Trai
Ngươi nay giống lá
héo...
Câu chuyện này xảy ra
khi Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một đồ tể mổ bò.
Tại Xá Vệ, có một
người đồ tể mổ bò. Ông ta giết hại biết bao nhiêu con bò, thường chọn phần thịt
ngon nhất cho mình, sai vợ nấu nướng rồi ngồi vào bàn ăn, cùng vợ con nhậu thịt
bò, phần còn lại ông bán lấy tiền. Suốt năm mươi lăm năm ông giữ nghiệp này.
Trong thời gian ấy, mặc dù đức Thế Tôn ở tại Tinh xá bên cạnh nhà, không bao
giờ ông cúng cho Thế Tôn một muỗng cháo hay muỗng cơm. Trừ thịt bò ra, ông ta
không ăn cơm.
Ngày nọ, trời về
chiều, sau khi bán vài miếng thịt, ông đưa cho vợ miếng thịt để nấu bữa tối, và
đi ra ao tắm. Một người bạn đến nhà ông, hỏi bà vợ:
- Hãy để cho tôi ít
thịt, nhà tôi có khách.
- Thịt bán hết rồi.
Ông ấy vừa đi tắm.
- Nếu còn miếng thịt
nào, chị vui lòng để cho tôi.
- Chẳng còn miếng
thịt nào, trừ miếng thịt ông ấy dặn tôi làm đồ ăn cho ổng.
Người bạn nghĩ:
"Nếu đã hết thịt bán, chỉ còn lại thịt dành riêng cho bữa ăn, và ông ấy sẽ
không ăn nếu không có thịt, chắc gì ông ấy đã chịu để miếng thịt đó cho mình.”
Và người này tự động xách miếng thịt ra đi.
Tắm xong, người đồ tể
trở về. Khi bà vợ dọn ăn, chỉ có rau cải, ông hỏi:
- Còn thịt đâu?
- Không có ông ạ.
- Tôi chừa cho bà một
miếng thịt trước khi tôi đi sao?
- Một người bạn đến
nhà nài mua thịt vì nhà có khách. Tôi trả lời hết thịt bán, mà ổng cứ xách
miếng thịt của ông đi về, dù tôi có nói miếng thịt đó cốt để làm thức ăn cho
ông, nếu thiếu nó ông không ăn cơm được.
- Trừ khi có thịt tôi
mới ăn. Tôi không ăn nữa, bà dẹp đi!
- Trời ơi, làm sao
bây giờ? Thôi ông chịu khó ăn cơm không thịt một bữa.
- Tôi đã nói là
không.
Bắt vợ dẹp mâm cơm,
ông ta xách dao ra đi. Có một con bò bị cột gần nhà, ông bước tới chỗ con bò,
thò tay vào miệng nó lôi lưỡi nó ra, xẻo luôn chiếc lưỡi rồi xách trở vô nhà,
ông nướng chiếc lưỡi bò trên lò than, xong đặt nó trên cơm rồi mới chịu ăn
uống. Ông ăn một miếng cơm và một miếng thịt. Vừa để miếng thịt vào miệng, lưỡi
ông đứt làm đôi, và rớt xuống đĩa cơm. Ðúng lúc đó, ông nhận hình phạt mà ông
gây ra. Máu tuôn thành dòng từ miệng, ông bò quanh sân nhà, rống lên như bò sắp
chết.
Con trai ông đứng gần
đấy, nhìn cha mình giãy chết, mẹ nó bảo:
- Này con, hãy nhìn
đó, hình phạt tương tự sẽ đến với con. Con đừng lo cho mẹ, hãy tìm đường an ổn
mà đi.
Ðứa con sợ hãi trước
cảnh tượng ấy, từ giã mẹ chạy đi, nó đi về thành Takkasilà. Người đồ tể, sau
khi rống lên một lúc, bò quanh sân và chết, rồi đọa vào Địa ngục A tỳ. Cả con
bò cũng chết.
Ðến Takkasilà đứa con
học nghề thợ bạc. Ngày nọ, chủ của nó đi về làng, dặn dò:
- Hãy làm món nữ
trang như thế này, thế này...
Chú nhỏ làm theo lời
dặn. Và khi người chủ về, nhìn món trang sức làm khéo léo theo ý mình, ông
nghĩ: "Chú nhỏ này sẽ thành nghề và kiếm ăn dễ dàng.” Khi chú trưởng thành
được chủ gả con gái cho, rồi sanh con trai, con gái. Các con trai của ông lần lượt
trưởng thành, làm nghề khác, dời nhà qua thành Xá Vệ, và trở thành Phật tử
thuần thành của đức Thế Tôn. Còn ông cha của chúng (con người đồ tể ngày xưa) ở
lại Takkasilà, để thời gian trôi qua mà không làm được chút công đức nhỏ, rồi
già nua kéo đến. Các con ông mời ông cụ trở về nhà mình nuôi nấng.
Chúng bàn nhau:
"Chúng ta hãy cúng dường nhân danh cha chúng ta.” Họ mời đức Phật và chư
Tăng về nhà thọ trai. Họ sắp đặt bàn ghế tại nhà, dâng thức ăn lên đức Phật và
chư Tăng, hầu hạ kính cẩn. Cuối bữa ăn, họ bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, thức
ăn dâng cúng hôm nay là tạo phước cho cha già hiện đang sống của chúng con, xin
Thế Tôn ban phước cho ông cụ.
Ðức Phật khuyên ông:
- Này ông lão, ông đã
già nua, thân thể ông như lá héo úa, ông không tạo việc lành để làm tư lương
cho đời sau. Hãy tạo cho mình một chỗ an trụ. Hãy làm người khôn ngoan, đừng
làm kẻ si mê.
Phật nói kệ:
(235) Ngươi nay giống
lá héo,
Diêm sứ đang chờ
ngươi,
Ngươi đứng trước cửa
chết,
Ðường trường thiếu tư
lương.
(236) Hãy tự làm hòn
đảo,
Tinh cần, gấp sáng
suốt,
Trừ cấu uế, thanh
tịnh,
Ðến Thánh địa chư
thiên.
Nghe xong, ông cụ
chứng Sơ quả, chúng hội cũng được hưởng lợi ích.
Ngày hôm sau, các con
ông cũng thỉnh Phật và chúng Tăng thọ trai. Cuối bữa ăn, họ cũng xin hồi hướng
phước báo cho cha già. Ðức Phật chúc phước cho ông cụ, nói thêm hai bài kệ:
(237) Ðời ngươi nay
sắp tàn,
Tiến gần đến Diêm
vương,
Giữa đường không nơi
nghỉ,
Ðường trường thiếu tư
lương.
(238) Hãy tự làm hòn
đảo,
Tinh cần, gấp sáng
suốt,
Trừ cấu uế, thanh
tịnh,
Chẳng trở lại sanh
già.
2. Dần Dà Từng Chút
Bậc trí theo tuần
tự...
Câu chuyện này xảy ra
khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một người Bà la môn.
Một buổi sáng sớm,
người Bà la môn ra khỏi thành, dừng lại chỗ các Sa môn thường vấn y, ông đứng
quan sát. Chỗ ấy cỏ mọc cao rậm rạp, khi một Sa môn khoác y vào, chéo y quét
qua cỏ, dính sương đẫm ướt. Ông tự nhủ: "Ðám cỏ này phải được dọn sạch.”
Hôm sau, ông đem cuốc ra rẫy cỏ, dọn sạch chỗ đó, nó trở nên bằng phẳng quang
đãng. Hôm sau nữa, ông lại đến quan sát, khi các Tỳ kheo khoác y vào, chéo y
quét trên đất và dính bụi. Ông nghĩ thầm: "Ta sẽ rải cát ở đây.” Ông lại
đem cát đến đổ cho sạch nơi đó.
Vào một ngày, sáng
sớm trời đã nóng bức. Dịp ấy ông thấy các Tỳ kheo mặc y, mồ hôi đổ giọt. Người
Bà la môn nghĩ: "Ta sẽ cất một cái trại nơi đây.” Lập tức ông che lên một
cái lều cho các Tỳ kheo. Lại ngày khác, sáng sớm trời đổ mưa, dịp này ông lại
thấy các Tỳ kheo bị tạt ướt, ông nghĩ thầm: "Mình phải cất nhà mới được.”
Nghĩ là làm, và khi ngôi nhà hoàn thành, ông tổ chức lễ khánh thành. Ông mời
Phật và chúng Tăng đến đó, mời ngồi bên trong và bên ngoài, rồi dâng thức ăn.
Sau bữa ăn, ông cầm
lấy bát của đức Phật, xin Ngài hồi hướng công đức. Ông nói:
- Bạch Thế Tôn, khi
con đứng nơi này, đầu tiên nhìn các Tỳ kheo đắp y, con thấy như thế, và đã làm
như thế, như thế.
Và bắt đầu từ khởi
điểm, ông kể cho Phật nghe toàn bộ câu chuyện. Phật nghe xong nói:
- Này Bà la môn,
người trí làm việc lành cũng vậy, hết lúc này đến lúc khác, từng việc một, dứt
bỏ những nghiệp xấu.
Ngài nói kệ:
(239) Bậc trí theo
tuần tự,
Từng sát na trừ dần.
Như thợ vàng lọc bụi,
Trừ cấu uế nơi mình.
3. Con Rận Tiếc Của
Như sét từ sắt
sinh...
Câu chuyện này xảy ra
khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Thầy Tỳ kheo Tissa.
Ở Xá Vệ, có một chàng
trẻ tuổi con nhà quyền quý xuất gia, làm đầy đủ bổn phận, là Thượng tọa Tissa.
Lúc Thầy còn ở Tinh xá trong thành, được cúng dường một tấm vải thô dài tám
thước. Sau ngày mãn hạ, Thầy về nhà, đưa vải cho chị xem. Chị Thầy nghĩ thầm:
"Tấm vải này không xứng với em ta.” Cô bèn lấy dao bén, rọc vải thành từng
mảnh, bỏ vào cối giả đập cho mềm, bỏ những sợi thô, dệt thành tấm vải mới.
Vài hôm sau, Thầy
Tissa, tìm ra chỉ và kim, rủ thêm vài Thầy và vài chú Sa di biết may y, đến nhà
người chị bảo:
- Ðưa em khúc vải, em
muốn may y.
Cô lấy khúc vải mịn
dài chín mét, đưa cho Thầy. Thầy từ chối:
- Vải kia của em là
thứ thô xấu, dài tám mét, khúc này đẹp lại dài chín mét, không phải của em. Hãy
đưa khúc vải hôm trước ấy.
- Thưa Thầy, vải này
của Thầy đó.
Cô kể lại những việc
làm của mình và bảo Thầy hãy lấy vải.
Thầy Tissa đem vải về
Tinh xá, và tìm người may y. Chị Thầy sửa soạn cơm canh mang đến cho thợ may,
và khi tấm y hoàn thành, trông nó rất đẹp. Thầy Tissa rất thích chiếc y mới,
Thầy định ngày mai sẽ đắp nó.
Nhưng hôm ấy, Thầy bị
bội thực và chết, tái sanh làm một con rận trong chiếc y mới của mình. Chị Thầy
nghe tin, nhào lăn dưới chân các Tỳ kheo khóc lóc. Các Tỳ kheo lo tang ma xong,
bàn định:
- Không ai hầu cận
Tissa khi Thầy đau, chiếc y này thuộc Tăng chúng, chúng ta hãy chia phần.
Con rận la hoảng:
- Các Thầy tước đoạt
tài sản của tôi.
Và nó vừa kêu la vừa
bò quanh chiếc y.
Ðức Thế Tôn ngồi
trong hương thất, biết việc xảy ra, bèn gọi A Nan:
- Này A Nan, hãy bảo
chúng Tăng dời việc chia y bảy ngày.
Tôn giả làm theo lời
dạy. Cuối ngày thứ bảy, con rận chết và tái sanh lên cõi trời Ðâu suất. Ngày
thứ tám, đức Phật cho phép chúng Tăng chia y.
Sau khi chia xong,
chư Tăng bàn tán:
- Tại sao đức Thế Tôn
ra lệnh để chiếc y của Tissa lại bảy hôm, ngày thứ tám mới cho phân chia.
Ðức Phật đến gần các
Thầy hỏi:
- Các ông tụ họp ở
đây bàn tán việc gì?
Và khi các Thầy kể
lại. Ngài nói:
- Tissa đã tái sanh
làm con rận trong y mới của mình. Khi các ông định phân chia y, con rận đã nổi
giận. Nó sẽ cự lại các ông, và sẽ đọa Địa ngục. Vì lẽ đó Ta bảo để y lại. Hiện
nay thì Tissa đã sanh lên cõi trời Ðâu suất, Ta mới cho phép các ông lấy y đem
chia.
Các Tỳ kheo bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, tham
ái thật là một nỗi khổ lớn.
Phật xác nhận:
- Tham ái thật là vấn
đề lo lắng lớn của chúng sanh trên quả đất, như gỉ sét phát sanh từ sắt, trở
lại ăn mòn sắt, tham ái phát sanh từ chúng sanh và đưa chúng sanh xuống Địa
ngục.
Phật nói kệ:
(240) Như sét từ sắt
sinh,
Sắt sinh lại ăn sắt,
Cũng vậy, quá lợi
dưỡng,
Tự nghiệp dẫn cõi ác.
4. Thầy Tỳ Kheo Kiêu Ngạo
Không tụng làm nhớp
kinh...
Câu chuyện này xảy ra
khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến Thầy Udàyi.
Tại Xá Vệ, năm mươi
triệu Phật tử thường cúng dường bữa ăn sáng cho chư Tăng, và sau đó họ mang bơ,
dầu mè, mật ong, mật mía, hương hoa và những vật cần dùng đến Tinh xá nghe
pháp. Sau khi nghe xong ra về, họ ca tụng đức hạnh của hai Tôn giả Xá Lợi Phất
và Mục Kiền Liên. Thầy Ưu Đà Di (Udàyi) nghe thấy thế bèn bảo họ:
- Các ông chỉ nghe
hai Tôn giả ấy thuyết pháp nên ca tụng như thế, tôi chắc rằng nếu các ông nghe
tôi nói pháp, còn khen đến đâu.
Hôm sau, họ thỉnh
Thầy Ưu Đà Di:
- Thưa Tôn giả, hôm
nay chúng con đến nghe pháp, sau khi cúng dường chư Tăng xong, xin Tôn giả
thuyết pháp cho chúng con.
Thầy Ưu Đà Di nhận
lời. Và thính chúng kéo đến bên Thầy. Thầy ngồi trên một cái ghế, phe phẩy quạt
chẳng biết nói một câu gì, chỉ bảo:
- Ta sẽ đọc một bài
chú, hãy để người khác thuyết pháp.
Thầy bước xuống.
Thính chúng mời vị khác giảng dạy, và một lần nữa mời Thầy lên ghế đọc chú. Ưu
Đà Di lại hẹn:
- Ta sẽ đọc chú vào
đêm nay, hãy mời vị khác đọc chú.
Thính chúng mời vị
khác, và đêm đến họ trở lại chỗ Thầy. Thầy lại hẹn:
- Sáng mai ta sẽ đọc.
Sáng hôm sau, Thầy
cũng chẳng đọc được câu nào. Các thiện tín tức giận ném đất, ném gậy vào Thầy,
nhiếc rằng:
- Khi chúng ta ca
tụng đức hạnh của hai Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, Thầy nói những gì?
Bây giờ sao Thầy làm thinh thế?
Thầy bỏ chạy, họ rượt
theo, và Thầy té xuống một hầm phân.
Các thiện tín bàn tán
về chuyện xảy ra trong ngày, nói rằng:
Khi chúng ta ca tụng
phẩm hạnh của Tôn giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, Ưu Đà Di sanh tâm đố kỵ,
tuyên bố rằng mình cũng là giảng sư. Thế mà khi được cung kính mời nói pháp,
Thầy ấy bốn lần lên pháp tòa mà chẳng nói được một câu. Bị rượt và với gậy gộc,
ngói đá, Thầy té xuống hầm phân.
Ðức Thế Tôn nghe được
câu chuyện. Ngài bảo các Tỳ kheo:
- Ðây không phải là
lần đầu tiên, Ưu Đà Di rơi xuống hầm phân, đời quá khứ Thầy ấy cũng đã làm như
thế.
Ngài kể chuyện
(Jàtaka 153)
(Chuyện kể rằng, có
một con lợn rừng thách đấu với sư tử. Trước ngày ấy nó lăn trong đống phân
khiến cả da lông đều hôi hám, rồi đến nơi hẹn. Sư tử không dám đến gần, để cho
nó thắng).
Sư tử là Xá Lợi Phất,
lợn rừng là Ưu Đà Di.
Phật nói lại câu kệ
giữa hai con thú:
Tôi là thú, anh cũng
thú,
Hãy đến đây hỡi sư tử.
Vì sao anh lại bỏ
chạy.
Này heo kia, mi hôi
hám, lông dày, dơ bẩn.
Nếu mày muốn đọ sức,
ta nhường cho mi thắng cuộc.
Sau khi dạy như thế,
Phật nói:
- Này các Tỳ kheo, Ưu
Đà Di chỉ học được một câu kinh, nhưng không bao giờ đọc tụng là một lỗi lớn.
Ngài nói Pháp Cú:
(241) Không tụng làm
nhớp kinh,
Không đứng dậy, bẩn
nhà,
Biếng nhác làm nhơ
sắc,
Phóng dật uế người
canh.
5. Tà Hạnh Của Nữ Nhân
Tà hạnh nhơ đàn bà...
Câu chuyện này xảy ra
khi đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên quan đến một thanh niên quý tộc (Jàtaka
65).
Khi đức Thế Tôn ở tại
Trúc Lâm, có một thanh niên dòng quý tộc kết hôn với một thiếu nữ đồng giai
cấp. Sau đó không lâu, người vợ ngoại tình. Xấu hổ vì chuyện này, người thanh
niên không dám gặp ai. Ðến phiên chàng vào hầu Phật, chàng đến đảnh lễ Thế Tôn,
lui ngồi một bên. Phật hỏi:
- Này con, sao lâu
nay con vắng mặt?
Chàng kể lại chuyện
cho đức Phật nghe. Ngài bảo:
- Ngay trong thời quá
khứ, Ta đã bảo con rằng: "Ðàn bà thay đổi như dòng sông, và người trí chớ
có hơi đâu mà giận họ.” Nhưng vì luân hồi tái sanh che mờ tâm trí con, con đã
quên điều này.
Chàng thanh niên yêu
cầu Phật kể lại chuyện trước (Jàtaka 65), Ngài nói kệ:
Như dòng sông, con
đường, quán rượu, phòng hội, nhà kho.
Ðàn bà trên thế gian
đều như thế, không bao giờ biết được thời tiết của chúng.
Ngài dạy tiếp:
- Như thế, dâm ô là
uế trược của đàn bà, bỏn sẻn là uế trược của người bố thí, ác nghiệp là uế
trược của chúng sanh ở đời này và đời sau, nhưng trong tất cả uế trược, vô minh
là uế trược nhất.
Ngày dạy Pháp Cú:
(242) Tà hạnh nhơ đàn
bà,
Xan tham nhớp kẻ trí,
Ác pháp là vết nhơ,
Ðời này và đời sau.
(243) Trong hàng cấu
uế ấy,
Vô minh, nhơ tối
thượng,
Ðoạn nhơ ấy, Tỳ kheo,
Thành bậc không uế
nhiễm.
6. Lịch Sự Và Thô Lỗ
Dễ thay, sống không
hổ...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Culla Sàri ở chung với Tôn giả Xá Lợi
Phất.
Một ngày nọ, Thầy Tỳ
kheo đó làm khán bệnh, Thầy nhận được thức ăn bổ dưỡng. Trên đường đi Thầy gặp
một Tôn giả đang khất thực, bèn mời:
- Tôn giả, tôi có ít
thức ăn thượng vị được bệnh nhân cúng dường, không dễ gì có, xin mời Tôn giả
ăn. Lần khác, nếu tôi nhận được, tôi sẽ mang cho Tôn giả.
Tôn giả nghe nói,
nhưng cứ đi không trả lời. Các Tỳ kheo đem câu chuyện đó bạch Phật. Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
người nào không biết xấu hổ, trơ trẻn, bất lịch sự thì sống thoải mái. Người
nào thành thật và sợ từng lỗi nhỏ, thì sống dè dặt. Ngài nói Pháp Cú:
(244) Dễ thay, sống
không hổ,
Sống lỗ mãng như quạ,
Sống công kích huênh
hoang,
Sống liều lĩnh, nhiễm
ô.
(245) Khó thay, sống
xấu hổ,
Thường thường cầu
thanh tịnh,
Sống vô tư, khiêm
tốn,
Trong sạch và sáng
suốt.
7. Tất Cả Giới Cấm Ðều Khó Giữ.
Ai ở đời sát sinh...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến năm trăm tín đồ.
Có năm trăm tín đồ,
người này chỉ giữ giới bất sát, người khác chỉ giữ một giới khác.. Ngày kia họ
bàn tán, người nào cũng cho rằng giới của mình khó giữ, việc của mình khó
nhất... và họ đến chỗ Phật kể lại câu chuyện. Phật dạy:
- Không có giới nào
là quan trọng ít, giới nào là quan trọng nhiều, tất cả các giới đều khó giữ.
Ngài nói kệ:
(246) Ai ở đời sát
sinh,
Nói láo không chân
thật,
Ở đời lấy không cho,
Qua lại với vợ người.
(247) Uống rượu men,
rượu nấu,
Người sống đam mê
vậy,
Chính ngay tại đời
này,
Tự đào bới gốc mình.
(248) Vậy người, hãy
nên biết,
Không chế ngự là ác,
Chớ để tham phi pháp,
Làm người đau khổ
dài.
8. Kẻ Bới Lỗi Người
Do tín tâm, hỷ tâm...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến chú Sa di Tissa.
Chuyện kể rằng, Sa di
Tissa có thói quen tìm kiếm lỗi lầm trong phẩm vật cúng dường của Cấp Cô Ðộc,
của tín nữ Tỳ Xá Khư, ngay cả của năm triệu thiện tín, đến cả phẩm vật tối
thắng của vua Ba Tư Nặc cũng thấy khuyết điểm. Khi nhận được thức ăn nguội chú
phàn nàn nguội quá, khi nhận được thức ăn nóng chú phàn nàn nóng quá. Khi nhận
thức ăn ít, chú càu nhàu sao ít thế? Và khi nhận nhiều vật thực, chú cũng nói
chắc ở nhà họ hết chỗ chứa, hoặc: "Họ chỉ cần cúng cho các Thầy để được
ủng hộ, cúng nhiều cơm cháo thế này thật là lãng phí.”
Nhưng nếu đề cập đến
bà con mình, chú nói: "Ô! Nhà của bà con tôi cung cấp đầy đủ cho các Sa
môn tứ phương.”
Tissa chỉ là một con
người gác cổng. Khi đi theo những người thợ lên Xá Vệ, chú xin xuất gia. Các Tỳ
kheo thấy chú luôn luôn chỉ trích lỗi lầm và việc tốt của người khác, muốn tìm
sự thật về chú, các Thầy hỏi thăm chỗ chú ở và sai vài Sa di hỏi thăm người
làng:
- Có một Sa di tên
Tissa người ở làng này, ai là thân tộc của chú?
Dân làng nghĩ thầm:
"Ở đây không có thanh niên quý tộc nào xuất gia, các Sa di này muốn tìm
ai?” Họ nói:
- Ở đây, chúng nghe
có con của người gác cổng đi theo thợ mộc và xuất gia, chắc đó là người Thầy
muốn hỏi.
Các Sa di về thuật
lại với các Tỳ kheo rằng Tissa nói khoác, các Tỳ kheo bạch Phật. Phật dạy:
- Ðây không phải là
lần đầu tiên Tissa hay cằn nhằn và nói khoác, đời quá khứ chú cũng đã khoe
khoang khoác lác như thế.
Phật kể chuyện quá
khứ (Jàtaka Katàhaka). Ngài dạy tiếp:
- Này các Tỳ kheo,
người nào hay than phiền về vật thực cúng dâng ít quá hay nhiều quá, ngon hay
dở, hoặc không cúng dường ta mà cúng dường người khác, người ấy không bao giờ
chứng quả.
Ngài nói Pháp Cú:
(249) Do tín tâm, hỷ
tâm
Loài người mới bố
thí,
Ở đây ai bất mãn,
Người khác được ăn
uống,
Người ấy ngày hoặc
đêm,
Không đạt được tâm
định.
(250) Ai cắt được,
phá được,
Tận gốc, nhổ tâm ấy,
Người ấy, ngày hoặc
đêm,
Tất đến được tâm
định.
9. Những Người Lơ Ðễnh
Lửa nào bằng lửa
tham...
Câu chuyện này xảy ra
khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến năm người thiện tín.
Khi đức Phật ở tại
Tinh xá Kỳ Hoàn, có năm tín đồ nghe Ngài giảng pháp, họ đảnh lễ Phật và lui
ngồi một bên. Phật không hề nghĩ rằng: "Người này dòng Sát lợi, người kia
dòng Bà la môn, người nay giàu, người kia nghèo. Ta giảng rộng cho người này,
không giảng rộng cho người kia.” Những việc này không liên quan đến đề tài Phật
thuyết giảng, mọi người đều bình đẳng trước pháp, và Phật giảng dạy như nhau.
Nhưng năm người ngồi
trước Phật, kẻ thì ngủ gục, người thì lấy ngón tay bươi trên đất, người đong
đưa cành cây, người thì ngó lên trời. Chỉ có một người chăm chú nghe. Tôn giả
A Nan đứng quạt hầu Phật, quan sát cử chỉ của năm người ấy, và sau đó
bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, Ngài
giảng dạy như tiếng sấm rền, mà những người ngồi nghe như thế, như thế.
- Này A Nan, ông có
biết họ không?
- Bạch Thế Tôn,
không.
- Người ngủ gục ấy,
đã từng làm rắn trong năm trăm kiếp, thường cuộn mình lại ngủ say nên kiếp này
cũng ưa ngủ, không có lời nào của Ta lọt vào tai.
- Bạch Thế Tôn, việc
ấy xảy ra trong nhiều kiếp liên tục hay đứt quãng?
- Một lần, người này
làm người, một lần khoác áo chư thiên, và lần khác làm rắn. Không thể dùng trí
biết được số kiếp luân hồi của hắn. Nhưng trong năm trăm kiếp liên tục, hắn làm
rắn và ngủ không bao giờ chán.
Người dùng tay bươi
đất, là đã năm trăm kiếp làm côn trùng chui trong đất, nên bây giờ cứ bới đất,
chẳng nghe lời Ta.
Người hay lay cành
cây, là đã năm trăm kiếp làm khỉ, và vì thói quen chuyền cành, nên hiện tại cứ
nắm cành cây, không nghe lời Ta nói.
Người nhìn lên trời,
là đã năm trăm kiếp làm chiêm tinh gia, nên ngày nay cũng nhìn lên trời, không
nghe Ta nói gì.
Người ngồi nghe chăm
chú, là đã năm trăm kiếp làm Bà la môn đọc tụng Vệ đà nên hôm nay cũng chăm chú
như đang đọc Mật thư.
- Bạch Thế Tôn, Ngài
giảng dạy thấm sâu như chẻ da xương, vì sao những người này không chăm chú
nghe?
- A Nan, ông
tưởng giáo lý Ta dễ nghe được sao?
- Bạch Thế Tôn, Ngài
cho rằng khó nghe được?
- Ðúng vậy.
- Tại sao, bạch Thế
Tôn?
- Này A Nan, những
chúng sanh này trong vòng luân hồi vô tận không nghe tên Tam bảo, nên bây giờ
không thể nghe giáo pháp. Những chúng sanh này trong vòng sanh tử vô cùng ấy
chỉ quen nghe tiếng nói của súc sinh. Hơn nữa, họ tiêu phí thời giờ trong việc
ăn uống, vui chơi, múa hát, nên không thể nghe giáo pháp.
- Bạch Thế Tôn, vì lý
do gì họ không thể nghe pháp?
- Này A Nan, vì tham
ái, vì sân hận, vì si mê. Vì vậy, không lửa nào bằng lửa tham ái, đốt cháy hữu
tình không một chút tro. Vào thời kiếp hỏa, hỏa tai thiêu rụi toàn thế giới
không chừa một tí nào, nhưng lửa này chỉ cháy trong vòng bảy mặt trời, và chỉ
cháy trong thời tiết nào thôi. Còn lửa tham ái không lúc nào không bốc cháy.
Cho nên Ta nói không lửa nào bằng lửa tham ái, không kìm kẹp nào bằng sân hận,
không lưới nào bằng si mê, không sông nào bằng ái dục.
Ngài nói Pháp Cú:
(251) Lửa nào bằng
lửa tham!
Chấp nào bằng sân
hận!
Lưới nào bằng lưới si!
Sông nào bằng sông
ái!
10. Trưởng Giả Ram
Dễ thay thấy lỗi
người...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở Jàtiyàvana gần thành Bạt Đề (Bhaddiya), liên quan đến Trưởng giả
Ram.
Bối cảnh:
A. Thế Tôn Thăm
Trưởng giả Ram
Thuở nọ, khi đức Phật
du hành qua xứ Anguttaras, Ngài nhận thấy những người trong gia đình Trưởng giả
Ram đều có duyên chứng quả Tu đà hoàn. Ông Trưởng giả vợ ông là Candapadumà,
con trai là Trưởng giả Dhananjiya, con dâu Sumanà Devì, cháu nội Visàkhà, tớ
gái Punna. Nhận thấy như thế, Ngài đi đến thành Bhaddiya, ngụ tại rừng Jàtiyà
(Jàtiyàvana). Trưởng giả Ram nghe Phật đến bèn đi thăm. Nhưng tại sao ông có
tên là Ram?
Ngoài đề:
B. Trưởng giả Ram Và
Những Con Cừu Bằng Vàng.
Ðằng sau nhà ông,
trong khoảng sân rộng tám mẫu, có những con cừu bằng vàng to bằng con voi, ngựa
hoặc trâu nước. Chúng phi tới phi lui, cày đất tứ tung, thụi lưng vào nhau. Khi
Trưởng giả Ram cần bơ, dầu, mật ong, hay mật mía, hoặc thức ăn, hoặc ông cần y
phục, hoặc vàng bạc, ông chỉ cần đặt một trái banh bằng chỉ ngũ sắc vào miệng
mấy con cừu, từ miệng chúng sẽ tuôn ra đủ tất cả các thứ cần dùng cho mọi người
trên khắp cõi Diêm phù đề, dù chỉ lấy ở một con thôi. Ðó là lý do ông được gọi
là Ram (Cừu). Nhưng ông đã làm gì trong quá khứ?
Chuyện quá khứ:
C. Bằng Cách Nào
Trưởng giả Ram Có Ðược Cừu Bằng Vàng?
Vào thời Phật Tỳ Bà
Thi, ông là cháu của một người tên Avaroja, ông cũng tên Avaroja. Người cậu dự
định xây cất hương thất cho Phật, Avaroja cháu đến gặp Avaroja cậu, đề nghị:
- Thưa cậu, chúng ta
hợp tác để xây cất hương thất.
- Ta không muốn chia
sẻ công việc cho ai cả.
Người cậu trả lời như
thế. Cháu nghĩ thầm: "Ngay khi hương thất xây xong, sẽ có một chuồng voi
tại đây.” Chàng đặt thợ rừng cưa gỗ, dựng cột, cất một trại voi với tất cả rui
mè, kèo, đòn tay, cửa cái, cửa sổ, sàn nhà, nóc đều cẩn đầy vàng bạc, châu báu.
Như thế, đối diện với hương thất của Như Lai là một chuồng voi dành cho Ngài,
trang hoàng bằng thất bảo. Trên nóc chuồng có một cái tháp bằng vàng ròng, đỉnh
tháp bằng san hô. Chính giữa lều chàng đặt một cây lọng bằng ngọc, che trên tòa
ngồi. Tòa ấy có bốn chân bằng vàng ròng, dưới bốn chân ghế có bốn con cừu bằng
vàng đỡ chân, hai cừu vàng kê chân. Sáu cừu vàng vây quanh lọng. Mặt ghế trải
thảm bằng chỉ vàng, chỉ bạc, lưng ghế bằng gỗ chiên đàn.
Khi hoàn thành lều
voi, chàng mở tiệc ăn mừng, chàng thỉnh Phật và sáu trăm tám mươi ngàn vị Tỳ
kheo cúng dường tám tháng. Ngày cuối cùng, chàng cúng dâng mỗi vị Tỳ kheo ba y,
và chỉ một y cho mỗi vị Sa di cũng đã đáng giá trăm ngàn đồng vàng. Sau khi làm
những công đức như thế trong thời Phật Tỳ Bà Thi, Avaroja cháu đã tái sinh cõi
trời, cõi người. Và kiếp này nổi tiếng là Trưởng giả giàu có của thành Ba La
Nại.
Chuyện quá khứ
D. Vì Sao Trưởng giả
Ram Và Gia Quyến Ðược Phép Màu?
Một ngày kia, Trưởng
giả Ram đến Hoàng cung chầu vua, gặp Thầy Tư tế của hoàng gia, ông hỏi:
- Thưa Thầy, Thầy có
xem thiên văn không?
- Ðược chứ, ông cần
gì?
- Xin cho biết vận
mệnh của xứ này.
- Sẽ có thiên tai.
- Chừng nào xảy ra?
- Ba năm nữa sẽ có
nạn đói.
Trưởng giả nghe nói
thế, bèn về nhà ra lệnh trồng thật nhiều lúa, đem hết tài sản mua lúa, xây cất
một ngàn hai trăm năm mươi vựa đựng thóc lúa, đổ đầy tràn, còn đổ thêm vào lu
hũ chôn dưới đất, còn bao nhiêu ông cho trộn với đất sét, xây thành bức tường.
Thời gian sau, nạn
đói xảy ra, ông đem số lúa dự trữ ra ăn. Khi ăn cạn hết lương thực, ông gọi
thân quyến đến và bảo:
- Các người hãy đi
vào núi mà kiếm thức ăn. Khi nạn đói qua hãy trở về. Nếu không muốn về cứ ở lại
nơi nào mình thích.
Tất cả thân bằng
quyến thuộc ra đi, chỉ còn lại vợ Trưởng giả, con trai, con dâu, và người giúp
việc Punna ở lại với ông, cả thảy năm người. Sau khi ăn hết lúa chôn dưới đất,
họ cạy bức tường, ngầm từng mảng vào nước, lượm lúa ra ăn. Nạn đói hoành hành
rộng lớn và tường lúa cũng hết. Chỉ còn lại một lít lúa cuối cùng, bà Trưởng
giả sợ trộm vét, bèn bỏ vào trong bình, đậy nắp lại chôn dưới đất.
Khi ông Trưởng giả ở
cung vua về, hỏi vợ:
- Này bà, tôi đói
bụng, còn gì để ăn không?
- Còn một ít lúa chôn
dưới đất.
- Hãy đào lên và nấu
ăn.
- Nếu tôi nấu cháo
thì ăn được hai bữa, nếu nấu cơm thì chỉ một bữa thôi. Làm theo cách nào?
- Bây giờ chúng ta
chẳng còn gì, chỉ ăn bữa cơm rồi chờ chết, thôi nấu cơm đi.
Bà vợ nấu cơm, chia
làm năm phần, và đặt phần của ông Trưởng giả trước mắt ông.
Lúc ấy trên núi Kiền
Đà (Grandhamàdana) có một vị Phật Bích Chi nhập định, Ngài không bao giờ bị
đói, nhưng nếu Ngài ra khỏi định, chẳng bao lâu Ngài sẽ đói vì bao tử hoạt động
trở lại. Lúc ấy Ngài quan sát xem nơi nào có thể khất thực. (Chúng sanh nào
dâng cơm cho Ngài sau khi xuất đại định sẽ được phước báo làm tổng tư lệnh hoặc
cấp ngang hàng).
Ðức Phật Bích Chi chỉ
dùng thiên nhãn quan sát thế giới, Ngài thấy rằng một trận đói khủng khiếp đã
xảy ra trên cõi Diêm phù đề, và tại nhà Trưởng giả nọ chỉ còn năm người với một
lít gạo. Liệu họ có đủ thành tín để cúng cho Ngài? Nhận thấy họ rất mực thành
tín, Ngài bèn đắp y, mang bát đến trước cửa nhà Trưởng giả.
Khi ông Trưởng giả
nhìn thấy Phật, lòng ông tràn đầy niềm vui: "Vì quá khứ ta không hề cúng
dâng nên giờ này mới chịu nạn đói kinh khủng, phần cơm này chỉ giúp ta sống một
ngày, nếu cúng dường Phật ta sẽ thoát vòng sanh tử trong nhiều kiếp.”
Nghĩ thế, ông mời
Phật vào nhà, đảnh lễ năm vóc sát đất, thỉnh Ngài ngồi, đem nước rửa chân, kê
chân Ngài bằng chiếc nệm vàng, và sớt cơm vào bát Phật. Khi ông sớt được phân
nửa, đức Bích Chi dùng tay che miệng bát, tỏ ý không nhận thêm. Ông Trưởng giả
bạch Phật:
- Bạch Ngài, chúng
con năm người chung một lít gạo, phần cơm này là một trong năm phần được chia.
Con không muốn sớt làm hai, con muốn cúng dường Ngài tất cả, con không mong cầu
Ngài ban phước lành cho con hiện đời.
Nói xong ông trút hết
cơm vào bát Phật và phát lời nguyện:
- Bạch Ngài, mong
rằng nơi nào con tái sinh, con xin sẽ không bao giờ chịu đói như hiện tại. Con
sẽ có đủ thức ăn cho mọi người trên khắp cõi Diêm phù đề. Con không phải làm
lụng cực nhọc để sống. con sẽ có một ngàn hai trăm năm chục vựa lúa, sau khi
quét dọn sạch sẽ, con gội đầu và ngồi trước cửa kho, đúng lúc đó thóc lúa sẽ
rơi đầy kho lẫm. Nơi nào con tái sinh, vợ con là người vợ này, con trai, con
dâu và đầy tớ chính là những người này.
Vợ Trưởng giả nghĩ:
"Ta sẽ không ăn khi chồng ta chịu đói.” Và bà cũng dâng cúng phần cơm của
mình cho Phật, với lời nguyện:
- Nơi nào con tái
sinh, con không chịu nạn đói lần thứ hai. Con có quyền năng dùng một bát cơm
cho tất cả người trên cõi Diêm phù đề, cho bao nhiêu tùy ý mà bát cơm vẫn đầy.
Nguyện những người này sẽ là chồng con, con trai, con dâu, và là người giúp
việc của con trong kiếp sau.
Con trai ông Trưởng
giả cũng cúng phần cơm của mình với lời nguyện:
- Con xin không bao
giờ bị đói như thế này. Con sẽ có quyền năng chỉ với một túi tiền độ một ngàn
đồng mà bố thí cho tất cả những người ở cõi Diêm phù đề, cho bao nhiều tùy ý,
túi tiền vẫn đầy. Cha, mẹ, vợ, người giúp việc chính là những người này.
Con dâu cũng cúng
phần cơm của mình cho Phật với lời nguyện:
- Con xin không bao
giờ bị nạn đói. Con sẽ có một cái giỏ đựng thóc giống cung cấp cho mọi người
không hết. Nơi nào con tái sinh, những người này là cha chồng, mẹ chồng, chồng
và người giúp việc.
Người giúp việc Punna
cũng cúng phần cơm của mình cho Phật Bích Chi với lời nguyện:
- Con sẽ không bao
giờ bị đói. Khi con cày đất, ba luống cày bên mặt, ba luống cày bên trái và một
đường cày giữa, cả bảy đường cày đều rộng vài sải tay.
Mặc dù ông ta có thể
ước nguyện làm tổng tư lệnh, nhưng vì tình cảm liên hệ với gia chủ, ông cũng
nguyện: "Những người này là ông chủ, bà chủ.”
Khi mỗi người phát
nguyện, Phật Bích Chi đều nói:
- Sẽ được vậy?
Và Ngài nói lời cảm
tạ bằng những bài kệ theo cung cách một vị Bích Chi Phật, rồi nghĩ thầm:
"Bổn phận của Ta là làm thỏa nguyện vọng của những chúng sanh này.” Ngài
thầm bảo: "Hãy để những người này nhìn theo thấy Ta cho đến tận núi Kiền
Đà.” Ngài bay lên hư không và họ đứng nhìn theo. Ðến nơi, Ngài chia cơm trong
bát cho năm trăm vị Bịch Chi Phật, do thần lực của Ngài cơm đầy đủ cho tất cả.
Năm người vẫn đứng và thấy rõ.
Lúc ấy trời đã quá
trưa, vợ ông Trưởng giả rửa sạch nồi cơm, đậy nắp lại và cất đi. Ông Trưởng giả
đói meo, nằm dài ra ngủ. Ðến chiều, ông thức dậy gọi vợ:
- Này bà, tôi đói
quá, bà xem còn sót miếng cơm cháy nào trong nồi không?
Bà nhớ kỹ rằng mình
đã rửa sạch nồi cất đi, chắc chắn không còn một hột cơm cháy nào, nhưng thay vì
nói: "Không còn gì hết", bà vẫn nói:
- Tôi sẽ xem thử coi.
Bà đi đến nơi cất
nồi, giở nắp ra, và ngay lúc đó, nồi cơm đầy nhóc, thơm ngào ngạt, hơn thế nữa,
cơm tràn tận miệng nồi đội cả nắp lên.
Chứng kiến việc lạ
lùng này, toàn thân bà rung động vui mừng, bà gọi chồng:
- Này, ông dậy đi,
tôi đã rửa sạch nồi cất đi, mà bây giờ cơm lại đầy nồi, thơm nghi ngút. Ðây là
quả phước của việc thiện, quả phước của việc cúng dường. Dậy mà ăn, ông ạ.
Bà đem cơm cho chồng
và con trai. Khi họ ăn xong, bà cùng ăn với con dâu, và sau đó cho người giúp
việc Punna. Dù bới bao nhiêu, nồi cơm cũng không giảm, cứ xúc ra một vá thì vá
cơm khác hiện ra. Vào ngày ấy, tất cả vửa lúa kho lẫm trong nhà ông đều đầy
thóc. Ông Trưởng giả rao khắp thành phố: "Lúa thóc hiện đầy đủ trong nhà
ông Trưởng giả, tất cả những ai muốn dùng cứ đến lấy.”
Mọi người đổ xô đến
lấy lúa, và tất cả dân chúng cõi Diêm- phù đều được lúa thóc.
Ông Trưởng giả sau
khi chết, tái sanh vào cõi trời, cõi người, vào thời Phật hiện tại, sanh trong
gia đình giàu có ở Bhaddiya. Vợ ông khi xưa cũng là vợ hiện tại, cả con trai,
con dâu, người giúp việc Punna. Do phước báo kể trên, những con cừu vàng lại
hiện ra trong sân nhà ông.
E. Trưởng giả
Ram Và Gia Quyến Thực Hiện Phép Màu
Một ngày nọ, Trưởng
giả Ram muốn thử lại quyền lực của mình. Ông cho quét sạch một ngàn hai trăm
năm mươi kho lúa, gội đầu, và ngồi ở cửa mỗi kho nhìn vào, lập tức các kho lẫm
đều đầy lúa. Ông bảo vợ, con dâu và người giúp việc hãy thử quyền lực của mình.
Bà vợ trang điểm lộng
lẫy, ngồi ở cổng nhà, cầm một muỗng vàng rao lên:
- Ai cần cơm cứ đến.
Bà sớt đầy cơm vào
những bình và chậu đưa đến, tất cả ai đến xin đều được cho. Suốt ngày giỏ cơm
của bà không vơi.
(Vào thời chư Phật
quá khứ, cũng trong dịp này, bà dâng cơm cho chúng Tăng, với tay mặt cầm muỗng,
tay trái xách giỏ cơm. Vì thế, nơi lòng bàn tay trái của bà có dấu hoa sen,
lòng bàn tay mặt có dấu mặt trăng tròn. Khi bà dâng nước cho chư Tăng, đi tới,
đi lui, thì dấu hoa sen và dấu mặt trăng lại hiện ở bàn chân. Vì thế bà có tên
là Candapadumà (Liên Nguyệt).
Người con trai mang
túi tiền chừng một ngàn đồng vàng, bố thí cho tất cả mọi người, và bao giờ
trong túi cũng còn đủ một ngàn đồng vàng. Con dâu cũng trang điểm lộng lẫy,
cung cấp thóc giống cho tất cả mọi người, túi thóc vẫn không vơi.
Người giúp việc cũng
trang điểm hết mình, bắt ách vàng, cày vàng lên mình con bò, choàng dây vàng
lên mình nó và dẫn ra ruộng. Mỗi nhát cày là bảy đường cày, ba đường bên trái,
và một đường cày ở giữa.
Như thế, tất cả dân
chúng trên cõi Diêm- phù đều nhân thức ăn, thóc giống, vàng bạc thỏa thích từ
nhà Trưởng giả.
Kết Thúc Của Truyện:
F. Trưởng giả Ram Ðến
Gặp Phật
Khi Trưởng giả đầy
quyền lực nghe tin đức Bổn sư đến thành, ông đi đến thăm Phật. Trên đường đi
ông gặp một nhóm ngoại đạo ngăn cản:
- Này Trưởng giả, ông
đi đâu? Ông tin có Thần Ngã mà lại đến thăm Cồ Đàm, người không tin điều này.
Mặc dù họ cố gắng
thuyết phục, ông vẫn không màng đến lời họ. Ông đi đến chỗ Phật, đảnh lễ và
kính cẩn ngồi một bên. Phật thuyết pháp, nghe xong ông chứng quả Dự lưu. Ông
thuật lại lời chống đối, phỉ báng của ngoại đạo cho Phật nghe. Phật dạy:
- Này Trưởng giả,
những người ấy không thấy lỗi của mình dù là lỗi lớn, còn người khác không lỗi,
họ cũng cố gắng kẻ vạch, như quạt thóc tìm trấu.
Ngài nói Pháp Cú:
(252) Dễ thay thấy
lỗi người,
Lỗi mình thấy mới
khó,
Lỗi người ta phanh
tìm,
Như sàng trấu trong
gạo,
Còn lỗi mình che đậy,
Như kẻ gian giấu bài.
11. Tỳ Kheo Bới Lỗi
Ai thấy lỗi của
người...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả tên là Người Tìm Lỗi,
Ujjhànasannì.
Tôn giả này thường
dòm dỏ lỗi của các Tỳ kheo, Thầy nói:
- Thầy này đắp thượng
y thế này, Thầy kia đắp hạ y như thế kia.
Các Tỳ kheo đến bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, Tôn
giả ấy cứ như thế, như thế.
Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
người nào làm tròn bổn phận của mình và khuyên người khác như thế, người đó
không thấy lỗi ai. Người nào có ý nhìn lỗi người, tìm lỗi người, và đi rêu rao
lỗi người, hạng người này không bao giờ đạt được chút xíu giác ngộ, chỉ có sự ô
nhiễm tăng trưởng trong họ.
Ngài dạy Pháp Cú:
(253) Ai thấy lỗi của
người,
Thường sanh lòng chỉ
trích,
Người ấy lậu hoặc
tăng,
Rất xa lậu hoặc diệt.
12. Hư Không Có Dấu Chân?
Hư không, không dấu
chân...
Câu chuyện xảy ra,
liên quan đến du sĩ Tu Bạt Đà La (Subhadda). Khi đức Thế Tôn sắp nhập diệt,
trong rừng Sa- la trong thành Câu- thi. Chuyện kể rằng khi trước con của Tu Bạt
đã cúng dường chín lần những phẩm vật đầu mùa gặt cho đức Phật, còn Tu Bạt thì
không ưng và từ chối, cuối cùng mới chịu cúng. Vì thế ông không gặp Thế Tôn lúc
Ngài vừa thành đạo và giảng đạo. Ðến lúc cuối, Ngài gần nhập diệt, ông mới tự
nghĩ: "Ta có ba điều nghi. Và đã hỏi các Trưởng lão để giải nghi. Lúc ấy
Sa môn Cồ Đàm còn trẻ nên ta không đến hỏi. Bây giờ thời gian Niết bàn sắp đến,
nếu ta không hỏi, sau sẽ ân hận.”
Ông đi đến chỗ Phật.
Tôn giả A Nan ngăn ông lại, nhưng Phật đã bảo:
- A Nan, chớ
ngăn Tu Bạt Đà La, hãy để ông vào thưa hỏi.
Tu Bạt vào, ngồi ở
chân giường và hỏi Phật:
- Bạch Ngài, có con
đường nào trên không trung? Có người nào được gọi Sa môn khi ở ngoài chánh đạo?
Pháp hữu vi có trường tồn?
Phật dạy ông những
việc ấy không thể có, Ngài giảng bằng bài kệ:
(254) Hư không, không
dấu chân,
Ngoài chánh đạo,
không Sa môn.
Chúng sanh thích hý
luận,
Như Lai, hý luận trừ.
(255) Hư không, không
dấu chân,
Ngoài đây, không Sa
môn.
Các hành không thường
trú,
Chư Phật không giao
động.
PHẨM XIX: CÔNG BÌNH PHÁP TRỤ
1. Quan Tòa Bất Công
Ngươi đâu phải pháp
trụ...
Câu chuyện này xảy ra
khi đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến các vị chánh án.
Một ngày nọ, các Tỳ
kheo đi khất thực tại cổng phía bắc thành Xá Vệ, và trở về Tinh xá, ngang qua
trung tâm thành phố. Khi ấy trời đổ mưa, các Tỳ kheo Vào trú ẩn tại một pháp
đình, các Thầy thấy các quan chánh án nhận của hối lộ và tịch biên tài sản của
dân chúng một cách bất hợp pháp. Các Thầy nghĩ thầm: "Những ông quan này
không công minh, chúng ta cứ tưởng họ là những chánh án liêm chính.”
Khi cơn mưa dứt, các
Thầy trở về Tinh xá, đến chỗ Phật và bạch lên Phật câu chuyện vừa rồi, Phật
dạy:
- Này các Tỳ kheo,
người nào đầu hàng dục vọng thấp hèn, xét xử chuyên chế, không thể gọi là công
bình. Chỉ những người đi sâu tìm tòi việc sai trái trong một vụ án, và xử lý
việc sai trái đó đúng pháp, không chuyên chế, mới gọi là công bình.
(256) Ngươi đâu phải
pháp trụ
Xử sự quá chuyên chế,
Bậc trí cần phân
biệt,
Cả hai chánh và tà!
(257) Không chuyên
chế, đúng pháp,
Công bằng, dắt dẫn
người,
Bậc trí sống đúng
pháp,
Thật xứng danh pháp
trụ.
2. Lục Quần Tỳ Kheo
Không phải vì nói
nhiều...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Lục quần Tỳ kheo.
Chuyện kể rằng nhóm
Lục quần Tỳ kheo hay đi từ Tinh xá này đến Tinh xá khác, từ làng này sang làng
khác, làm mất trật tự trong phòng ăn của chúng Tăng. Ngày đó, vài Tỳ kheo trẻ
và Sa di, sau khi ăn sáng ở trong làng, đến Tinh xá. Các Tỳ kheo ở đây hỏi:
- Chư huynh
đệ thích phòng ăn như thế nào?
- Xin đừng hỏi chúng
tôi. Mấy ông Lục quần Tỳ kheo tự tuyên bố là: "Chỉ có chúng ta thông minh,
chỉ có chúng ta là Trí tuệ. Chúng ta sẽ đánh mấy Thầy này, đổ rác lên đầu họ và
đuổi họ ra.”
Và họ tóm lấy chúng
tôi, đổ rác lên đầu, làm phòng ăn lộn xộn lên.
Các Tỳ kheo đến bạch
Phật. Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo, ta
không gọi người nào thông minh khi người ấy nói nhiều và chọc giận người khác.
Ta chỉ gọi là người Trí tuệ khi kẻ ấy kiên nhẫn, thoát khỏi sân giận và sợ hãi.
Ngài nói kệ:
(258) Không phải vì
nói nhiều,
Mới xứng danh bậc
trí,
An ổn, không oán sợ,
Thật đáng gọi bậc
trí.
3. Không Phải Vì Nói Nhiều Mà Ðược Ca Tụng
Không phải vì nói
nhiều...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Nhất Cú, tức A la hán Ekuddàna.
Tôn giả Nhất Cú sống
một mình trong rừng và chỉ biết độc nhất một câu kệ:
Vị Sa môn tư tưởng
thanh cao,
Tinh tấn, tu tập
trong im lặng.
Sa môn ấy tâm hằng an
tịnh,
Luôn chánh niệm,
không còn phiền não.
Vào mỗi ngày tụng
giới, Tôn giả chỉ đọc lên một câu kệ ấy, và chư thiên vỗ tay vang rền.
Ngày nọ, cũng vào dịp
Bố tát, có hai vị Tỳ kheo lão thông Tam tạng, dẫn theo một ngàn đồ chúng đến
nơi ấy. Tôn giả Nhất Cú thấy các Thầy, rất vui mừng, nói:
- Các vị đến thật may
mắn, hôm nay chúng ta sẽ nghe pháp.
- Nhưng thưa Ngài, ở
đây đâu có người nào để nghe.
- Có chứ, vào ngày
nói giới, cả khu rừng đều vang động tiếng vỗ tay của chư thiên.
Như thế, một vị bèn
đọc luật và vị kia giảng rộng nghĩa ấy, nhưng chẳng có một ông trời nào vỗ tay
cả. Các vị hỏi:
- Này huynh, Ngài bảo
chúng tôi là khi Luật được tuyên đọc, chư thiên vỗ tay vang rền. Như vầy là
sao?
- Những ngày khác đều
có, tôi không hiểu hôm nay có chuyện gì?
- Thế thì Ngài đọc
luật đi.
Tôn giả Nhất Cú bèn
cầm quạt, lên tòa ngồi và đọc câu kệ thường nhật, chư thiên lại vỗ tay vang
rền. Khi ấy, các Tỳ kheo đồ chúng của hai bậc Thầy kia đều bất bình chư thiên,
nói:
- Chư thiên
ở rừng này bày tỏ sự kính trọng bằng cách vỗ tay. Dù cho Tỳ kheo thông Tam tạng
giảng nhiều giới pháp, họ không nói một lời ca ngợi. Vậy mà khi Trưởng lão già
chỉ đọc một câu, họ lại vỗ tay ồn cả lên.
Và trở về Tinh xá, họ
đem câu chuyện trình bày với đức Phật. Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo, ta
không gọi người nào là thông suốt giáo pháp chỉ vì họ biết hoặc đọc nhiều kinh.
Nhưng người nào chỉ biết đọc một câu, hiểu thấu sự thật, người ấy thật là người
thông suốt Tam tạng.
Ngài nói Pháp Cú:
(259) Không phải vì
nói nhiều,
Mới xứng danh trì
pháp,
Những ai tuy nghe ít,
Nhưng thân hành đúng
pháp,
Không phóng túng
chánh pháp,
Mới xứng danh trì
pháp.
4. Người Trẻ Có Thể Là Trưởng Lão?
Không phải là Trưởng
lão...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến Trưởng lão Lakuntaka Bhaddiya.
Một ngày nọ, Tôn giả
Lakuntaka vào làm Thị giả hầu Phật, và khi vị này đi ra, có ba mươi Thầy tu ở
rừng đến nhìn thấy. Các vị này vào gặp Phật, đảnh lễ và lui ngồi một bên. Ðức
Phật nhận thấy ba mươi Thầy đều có khả năng chứng A la hán, bèn hỏi:
- Các ông có thấy một
Trưởng lão vừa đi ra không?
- Thưa không, bạch
Thế Tôn!
- Các ông không thấy
ư?
- Chúng con chỉ thấy
một Sa di.
- Này các Tỳ kheo, đó
không phải là Sa di, đó là một Trưởng lão.
- Người ấy còn quá
trẻ, thưa Thế Tôn!
- Ta không gọi người
nào là Trưởng lão chỉ vì họ già, vì họ ngồi ở ghế Trưởng lão, nhưng người nào
thấu đạt chân lý, và đối xử tốt với người khác, người ấy là Trưởng lão.
Phật nói kệ:
(260) Không phải là
Trưởng lão,
Dù tuổi cao đầu bạc,
Không tịnh hạnh tu
trì,
Tôn xưng bậc Hòa
thượng,
Gọi suông có ích gì?
(261) Ai chân thật,
đúng pháp,
Không hại, biết chế
phục,
Bậc trí, không cấu
uế,
Mới xứng danh Trưởng
lão.
5. Thế Nào Là Người Hoàn Toàn?
Không phải nói lưu
loát...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở Kỳ Viên, liên quan đến một số Tỳ kheo.
Một hôm, có vài
Trưởng lão thấy các Sa di và Tỳ kheo trẻ hầu hạ Thầy, nhuộm y, giặt y... Các vị
bàn tán:
- Chúng ta là những
người giảng dạy thông suốt, vậy mà không được săn sóc như thế. Bây giờ chúng ta
đến chỗ Phật thưa rằng: Bạch Thế Tôn! Chúng con đều tinh thông Giáo pháp, xin
Ngài ra lệnh cho các Tỳ kheo tân học và Sa di rằng: "Dù được học giáo lý
với ai, không được ôn luyện cho đến khi các ông được các Trưởng lão này giảng
dạy.” Như thế chúng ta sẽ được danh dự và lợi dưỡng.
Bàn thế, các Trưởng
lão đến chỗ Phật và thưa như trên, Phật nghĩ: "Trong truyền thống Tôn giáo
ta, có quyền nói như vậy, nhưng mấy ông này chỉ nghĩ đến quyền lợi của họ.” Và
Ngài bảo:
- Ta không nhận xét
các ông đã hoàn toàn chỉ vì các ông nói lưu loát. Nhưng người nào mà mọi ô
nhiễm và phẩm hạnh xấu đều bị trừ tuyệt bởi Thánh quả, người ấy mới thật hoàn
toàn.
Ngài nói kệ:
(262) Không phải nói
lưu loát,
Không phải sắc mặc
đẹp,
Thành được người
lương thiện,
Nếu ganh, tham, dối
trá.
(263) Ai cắt được,
phá được,
Tận gốc nhổ tâm ấy,
Người trí ấy diệt
sân,
Ðược gọi người Hiền
Thiện.
6. Ðầu Trọc Không Làm Nên Tỳ Kheo
Ðầu trọc, không làm
nên Sa môn...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến Hatthaka.
Chuyện kể rằng, mỗi
khi Thầy Hattthaka bị thua cuộc trong khi tranh luận, bèn hẹn:
- Hãy đến nơi ấy, nơi
kia vào đúng giờ ấy, giờ kia, sẽ kết thúc cuộc bàn cãi.
Và Thầy đến trước nơi
hẹn, và nói:
- Xem kìa! Mấy người
ngoại đạo sợ ta đến nỗi không dám đến gặp. Vậy là họ thua cuộc rồi.
Thầy luôn luôn dùng
cách ấy nói với đối phương mỗi khi thua cuộc.
Ðức Phật nghe nói
Hatthaka làm như vậy, bèn gọi Thầy đến hỏi:
- Hatthaka, có phải
ông làm như thế, như thế?
- Thưa vâng.
- Tại sao ông làm như
thế? Một người làm điều sai quấy không thể gọi là Sa môn, dù đầu họ cạo trọc.
Người nào sửa được mọi lỗi lầm lớn nhỏ mới thật sự là Sa môn.
Ngài nói kệ:
(264) Ðầu trọc, không
Sa môn,
Nếu phóng túng, nói
láo,
Ai còn đầy dục tham,
Sao được gọi Sa môn.
(265) Diệt trừ mọi
tội lỗi,
Dù lớn nhỏ đều không,
Xô đuổi nhân phiền
não,
Là thanh tịnh Sa môn.
(Phạm Thiên Thư
dịch).
7. Ðiều Gì Làm Nên Sa Môn
Ðâu phải là Tỳ kheo...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên hệ tới một Bà la môn.
Có một người Bà la
môn từ bỏ gia đình, trở thành Tu sĩ ngoại đạo. Khi ông đi khất thực, ông tự
nghĩ: "Sa môn Cồ Đàm gọi các đệ tử là "Tỳ kheo" khi họ đi khất
thực. Ông ấy cũng phải gọi ta là Tỳ kheo.” Ông ta đi đến chỗ Phật và nói:
- Sa môn Cồ Đàm, tôi
cũng tự nuôi sống bằng cách xin ăn, hãy gọi tôi là Tỳ kheo.
Phật trả lời:
- Này Bà la môn, ta
không gọi ai là Tỳ kheo chỉ vì người ấy xin ăn. Người làm tất cả mọi hình thức
giống Tỳ kheo cũng không phải Tỳ kheo. Chỉ có người thấy biết như thật về các
uẩn và hành trì tương ưng, người ấy thật sự là Tỳ kheo.
Ngài nói kệ:
(266) Chỉ khất thực
nhờ người,
Ðâu phải là Tỳ kheo!
Phải theo pháp toàn
diện,
Khất sĩ không, không
đủ.
(267) Ai vượt qua
thiện ác,
Chuyên sống đời Phạm
hạnh,
Sống thẩm sát ở đời,
Mới xứng danh Tỳ
kheo.
8. Không Phải Im Lặng Làm Nên Bậc Thánh
Im lặng nhưng ngu
si...
Câu chuyên xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến ngoại đạo.
Các Thầy ngoại đạo
khi nhận được thức ăn cúng dường thường chúc lành cho chủ nhân:
- Xin chúc các vị
bình an, hạnh phúc, tăng thêm tuổi thọ. Các vị sẽ không đến những nơi gai góc,
sình lầy như nơi nọ nơi kia.
Như thế, họ hồi hướng
phước lành, cảm tạ và xong rồi mới đi. Về phần Tăng chúng của Phật, ban đầu
chưa hồi hướng, các Thầy chỉ nhận vật thực rồi đi. Dân chúng phê bình như sau:
- Chúng ta được nghe
lời cám ơn và chúc lành của ngoại đạo, còn các Thầy Tỳ kheo thì hoàn toàn im
lặng.
Các Tỳ kheo bạch Phật
điều ấy. Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
khi ngồi ở phòng ăn hay nơi nào thọ thực, hãy cám ơn thức ăn mình nhận, và nói
lời vui lòng chủ nhân khi họ ngồi gần đó.
Như thế, đức Phật ra
lệnh cho các Tỳ kheo hồi hướng công đức cho thí chủ. Khi nghe các lời ấy, mọi
người cố gắng thỉnh các Thầy về nhà thọ thực, và cúng dường rất nhiều. Các
ngoại đạo phê bình:
- Chúng ta là Thánh
và giữ im lặng, còn đệ tử của Cồ Đàm nói dông dài trên bàn ăn và các nơi thọ
thực.
Khi đức Phật nghe kể
lại, Ngài dạy:
- Ta không gọi người
nào Thánh chỉ vì họ im lặng. Có nhiều người không nói vì ngu dốt, vì thiếu niềm
tin, có khi vì keo kiệt không muốn người khác học hỏi những gì mình biết. Vì
thế ta nói người ấy không phải là Thánh chỉ vì họ im lặng. Chỉ người nào thoát
khỏi dục nhiễm mới là Thánh.
Ngài nói kệ:
(268) Im lặng nhưng
ngu si,
Ðâu được gọi ẩn sĩ?
Như người cầm cán
cân,
Bậc trí chọn điều
lành.
(269) Từ bỏ các ác
pháp,
Mới thật là ẩn sĩ.
Ai thật hiểu hai đời,
Mới được gọi ẩn sĩ.
9. Cao Quý Là Hành Ðộng Cao Quý
Ðâu được gọi hiền
Thánh...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một người đánh cá tên Cao Quí. Một
hôm, đức Phật quan sát thấy người đánh cá này có khả năng chứng quả, nên sau
khi khất thực gần cửa thành phía Bắc của Xá Vệ, Ngài và chúng tăng trở về qua
chỗ người này. Ðúng lúc ấy, người đánh cá đang câu cá. Gặp Phật và chư Tăng,
Cao Quí bèn ném cần câu và đứng yên. Ðức Thế Tôn đứng cách đó không xa, quay
lại hỏi tên Ngài Xá Lợi Phất và các vị khác:
- Ông tên gì?
- Con là Xá Lợi Phất.
- Con là Mục Kiền
Liên.
Người đánh cá nghĩ
thầm: "Ðức Phật hỏi tên mọi người, chắc sẽ hỏi tên ta.” Phật biết ý quay
sang hỏi:
- Này Cư sĩ, ông tên
gì?
- Bạch Thế Tôn, con
tên Cao Quí.
Phật bảo:
- Này Cư sĩ, người
đoạt mạng sống người khác không thể gọi là Cao Quí. Cao Quí là không bao giờ
làm hại ai.
Ngài nói kệ:
(270) Còn sát hại
sanh linh,
Ðâu được gọi Hiền
Thánh.
Không hại mọi hữu
tình,
Mới được gọi Hiền
Thánh.
10. Ðừng Tự Mãn
Chẳng phải chỉ giới
cấm...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến vài Tỳ kheo đức hạnh.
Một vài vị Sa môn đầy
đủ đức hạnh tự nghĩ rằng:
- Chúng ta đầy đủ
giới đức, chúng ta tu tập theo giáo lý thanh tịnh, chúng ta học rộng, chúng ta
sống tịnh cư, chúng ta phát triển thần thông nhờ Thiền định. Vì thế, chúng ta
chứng A la hán không khó, chúng ta sẽ chứng A la hán bất cứ khi nào.
Cũng như thế, các vị
chứng quả A na hàm cũng nghĩ:
- Ðối với chúng ta,
chứng quả A la hán không khó.
Một ngày kia các vị
đi đến chỗ Phật, đảnh lễ và lui ngồi một bên. Phật hỏi:
- Này các Tỳ kheo,
các ông đã xong việc chưa?
Các Thầy thưa:
- Bạch Thế Tôn, chúng
con đã đạt những bậc Thánh như thế đó, khi nào muốn chúng con sẽ chứng quả A la
hán. Vì nghĩ như vậy, nên chúng con giữ nguyên vị trí.
Nghe nói thế, Phật
dạy:
- Này các Tỳ kheo,
không thích đáng cho một Sa môn chỉ vì đã giữ tròn giới luật, hoặc chỉ chứng
được Tam quả, và nghĩ rằng: "Chỉ còn chút ít phiền não trong đời hiện tại
của ta.” Trái lại, chừng nào lậu hoặc chưa hoàn toàn diệt trừ, người ấy chưa có
quyền tự cho rằng mình đã thật sự chứng đắc.
Ngài nói kệ:
(271) Chẳng phải chỉ
giới cấm.
Cũng không phải học
nhiều.
Chẳng phải chứng
Thiền định,
Sống thanh vắng một
mình.
(272) Ta hưởng an ổn
lạc,
Phàm phu chưa hưởng
được,
Tỳ kheo, chớ tự tín,
Khi lậu hoặc chưa
diệt.
PHẨM XX: ÐẠO
1. Bát Chánh Ðạo Là Ðường Tối Thượng
Bát chánh, đường thù
thắng...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở Kỳ Viên, liên quan đến năm trăm vị Tỳ kheo.
Một hôm, đức Phật sau
khi du hành khắp nước, trở về Xá Vệ. Lúc ấy có năm trăm Tỳ kheo bàn tán về
những con đường đã đi qua: "Con đường của làng này bằng phẳng, con đường
của làng này gồ ghề, con đường của làng này đầy sỏi đá, con đường của làng này
không có sỏi... "Ðức Phật nhận thấy các Thầy đủ duyên để chứng quả A la
hán, bèn đi đến Pháp đường, hỏi:
- Các ông ngồi đây
bàn tán việc gì?
Khi các Thầy thưa
xong, Ngài dạy:
- Này các Tỳ kheo,
những con đường đó chẳng đáng cho chúng ta quan tâm. Một người là Tỳ kheo phải
đi theo con đường Thánh Ðạo, chỉ có thế mới giải thoát mọi đau khổ.
Ngài nói kệ:
(273) Bát chánh,
đường thù thắng,
Tứ Ðế, lý thù thắng,
Ly tham, pháp thù
thắng,
Giữa các loài hai
chân,
Pháp nhãn, người thù
thắng.
(274) Ðường này,
không đường khác,
Ðưa đến kiến thanh
tịnh.
Nếu ngươi theo đường
này,
Ma quân sẽ mê loạn.
(275) Nếu ngươi theo
đường này,
Ðau khổ được đoạn
tận.
Ta dạy ngươi con
đường,
Với trí, gai chướng
diệt.
(276) Ngươi hãy nhiệt
tình làm,
Như Lai chỉ thuyết
dạy.
Người hành trì Thiền
định,
Thoát trói buộc ác
ma.
2. Vô thường
Tất cả hành Vô
thường...
Câu chuyện xảy ra khi
Thế Tôn ở Kỳ Viên, liên quan đến năm trăm Thầy Tỳ kheo.
Có năm trăm vị Tỳ
kheo nhận đề tài Thiền định từ đức Phật, và cố gắng nỗ lực tối đa ở trong rừng,
nhưng không chứng quả A la hán. Các vị trở lại xin Phật đề tài khác thích hợp
hơn. Nhận thấy rằng các Tỳ kheo này, vào thời Phật Ca Diếp, đã chuyên chú Thiền
quán trong hai ngàn năm về đề tài Vô thường. Vậy Vô thường là đề mục mà Ta sẽ
giảng. Nghĩ thế, Phật bèn dạy:
- Này các Tỳ kheo,
trong cõi này và cõi khác, tất cả pháp hữu vi do không thật nên đều bị chi phối
bởi Vô thường.
(277) Tất cả hành Vô
thường,
Với tuệ quán thấy
vậy,
Ðau khổ được nhàm
chán,
Chính con đường thanh
tịnh.
3. Khổ
Tất cả hành khổ
đau...
Chuyện này như chuyện
trên, Phật dạy các Thầy quán sát về khổ.
- Này các Tỳ kheo,
tất cả các uẩn ép bức chúng ta, đó là khổ.
Ngài nói kệ:
(278) Tất cả hành khổ
đau.
Với tuệ quán thấy
vậy,
Ðau khổ được nhàm
chán,
Chính con đường thanh
tịnh.
4. Vô Ngã
Tất cả pháp vô ngã...
Cùng một câu chuyện
trên, Phật nhận thấy các Thầy từng quán về Vô Ngã trong năm trăm kiếp, Ngài
dạy:
- Này các Tỳ kheo,
các uẩn đều không cố định, và đều không thực.
Ngài nói kệ:
(279) Tất cả pháp vô
ngã,
Với tuệ quán thấy
vậy,
Ðau khổ được nhàm
chán,
Chính con đường thanh
tịnh.
5. Chớ Hẹn Ngày Mai
Khi cần, không nỗ
lực...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở Kỳ Viên, liên hệ đến Tôn giả Padhànakammika Tissa.
Có năm trăm thanh
niên thành Xá Vệ theo Phật xuất gia, nhận đề tài Thiền quán từ đức Bổn sư và đi
vào rừng. Một người trong bọn họ nhác tu, hẹn lần hồi, nhưng bốn trăm chín mươi
chín người kia nỗ lực Thiền định và đắc quả A la hán. Bấy giờ, các Thầy trở về
bạch Phật về thành quả đạt được. Khi đi khất thực qua một ngôi làng cách Xá Vệ
một dặm, một tín đồ trông thấy các Thầy. Người ấy mời các vị về, cúng dường cơm
và thực phẩm, và sau khi nhận lời hồi hướng, tín đồ ấy mời các Thầy ngày mai
đến thọ thực.
Về đến Xá Vệ, các
Thầy xếp cất y bát, đến đảnh lễ đức Phật. Ðức Thế Tôn tỏ lòng hoan hỷ và thăm
hỏi thân mật các Thầy. Chỉ nhà Thầy nhác tu thầm nghĩ: "Ðức Thế Tôn hết
lời vui mừng chào đón các Thầy kia. Còn ta, vì chưa chứng quả nên Ngài không
thèm nói một lời. Ngay hôm nay ta phải chứng quả A la hán, có thế khi ta trở
lại, Thế Tôn mới nói chuyện với ta.”
Các vị Sa môn bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, trên
đường về chúng con được một thiện tín mời ngày mai thọ thực. Sáng mai chúng con
sẽ đi.
Sa môn chưa chứng
quả, suốt đêm ấy đi tới đi lui, rốt cuộc buồn ngủ quá Thầy té nhằm một ghế đá,
gãy chân, Thầy kêu lên đau đớn. Các Sa môn khi nghe tiếng chạy đến, săn sóc cho
Thầy. Trời đã sáng mà họ vẫn còn bận bịu chăm sóc cho Thầy. Kết quả là năm trăm
Thầy không rảnh được để đi thọ thực sáng hôm ấy.
Phật hỏi:
- Sao các ông không
đi vào làng nhận vật thực?
Các Thầy thưa lại mọi
chuyện. Phật bảo:
- Ðây không phải lần
đầu tiên ông ấy ngăn trở các ông nhận vật thực. Ðời quá khứ ông ấy cũng như
vậy.
Ngài kể chuyện quá
khứ (Jàtaka 71), và kết luận:
- Này các Tỳ kheo,
người nào không trỗi dậy đúng giờ, ý chí yếu ớt và lười biếng, người ấy không
bao giờ phát triển Thiền định và chứng Thánh quả.
Ngài nói kệ:
(280) Nỗ lực không
nhằm nơi,
Tiêu trầm chí khí
mạnh,
Tuổi hoa sớm biếng
lười,
Mong gì đạo chánh
Thánh.
6. Con Quỷ Ðầu Heo
Lời nói được thận
trọng...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên quan đến một con quỷ đầu heo.
Một hôm, Tôn giả Mục
Kiền Liên cùng Tôn giả Lakkhana xuống núi Kỳ Xà Quật. Ðến một chỗ nọ Tôn giả
Mục Kiền Liên bỗng mỉm cười, Tôn giả Lakkhana hỏi:
- Sao sư huynh cười?
- Lúc này không nên
hỏi, hãy đợi đến lúc gặp Thế Tôn.
Hai vị tiếp tục đi
khất thực ở thành Vương Xá. Xong trở về Trúc Lâm, đến trước Phật đảnh lễ lui
ngồi một bên. Và Tôn giả Lakkhana bèn hỏi Tôn giả Mục Kiền Liên câu trước, lúc
này Tôn giả mới trả lời:
- Tôi thấy một con
quỷ to lớn thân hình cao gần một dặm, dáng người nhưng đầu heo, trong miệng mọc
ra một cái đuôi đầy dòi bọ lúc nhúc. Tôi nghĩ thầm: "Thật ta chưa hề thấy
một sinh vật nào như thế.” Vì thế tôi mỉm cười.
Ðức Phật xác nhận:
- Mục Kiền Liên quả
là có mắt thấy. Ta cũng từng thấy như thế khi ngồi dưới cây Bồ đề, nhưng Ta
nghĩ: "Nếu có ai chẳng tin, thật là điều tai họa cho chúng.” Và vì thương
những kẻ đó nên Ta không nói. Bây giờ có Mục Kiền Liên chứng kiến, Ta mới mạnh
dạn nói sự thật.
- Bạch Thế Tôn, con
quỷ ấy kiếp trước đã làm gì?
- Này các Tỳ kheo,
hãy lắng nghe.
Chuyện quá khứ
A. Kẻ Phá Hoại Tình
Huynh Ðệ
Vào thời đức Phật Ca
Diếp, có hai Tôn giả sống hòa thuận với nhau trong một tu viện của làng nọ,
người lớn sáu mươi tuổi, người nhỏ năm mươi chín tuổi. Tôn giả ít tuổi hơn
thường mang y bát giùm cho vị lớn và đi theo sau, làm tròn mọi bổn phận như một
chú tiểu hầu huynh trưởng. Giống như hai anh em cùng cha mẹ, họ sống trong hòa
thuận, an lạc.
Một ngày kia, có một
giảng sư đến chỗ họ ở. Ngày ấy là ngày nghe pháp, cả hai Tôn giả khoản đãi vị
sư khách và nói:
- Ðại đức, xin giảng
pháp cho chúng tôi.
Vị này giảng dạy pháp
lý cho cả hai, họ rất vui mừng. Ngày hôm sau, hai Tôn giả đưa khách vào làng
khất thực. Sau khi ăn xong, họ lại thỉnh:
- Tôn huynh, xin hãy
giảng tiếp đoạn pháp hôm qua.
Và hai Thầy thỉnh
giảng sư thuyết pháp luôn cho dân chúng. Nghe xong, Phật tử mời giảng sư xin
đến vào ngày mai. Cứ như vậy các vị đi khất thực khắp các làng lân cận, hai
Thầy đưa giảng sư đến những nhà quen.
Giảng sư nghĩ thầm:
"Hai Thầy này rất nhẹ dạ. Ta sẽ tìm cách khiến họ rời nơi đây và chiếm tư
viện này.” Buổi chiều, ông đến chăm sóc hai Tôn giả lớn tuổi. Khi đến giờ đi
nghỉ, ông đến chỗ vị lớn tuổi, nói:
- Tôn giả, tôi có
việc muốn nói với Ngài.
- Xin cứ nói.
Giảng sư ngần ngừ rồi
nói:
- Ðiều tôi nói ra có
nhiều tai hại.
Xong ông im lặng bỏ
đi, đến chỗ vị nhỏ tuổi cũng làm như vậy.
Ngày thứ hai, ông
cũng đóng kịch như vậy, ngày thứ ba, cả hai Tôn giả đều bị kích động. Giảng sư
đến chỗ Tôn giả lớn tuổi, nói:
- Thưa Ngài, tôi có
chuyện muốn nói nhưng không dám thốt ra trước mặt Ngài.
Vị này nài ép:
- Không sao, tôn
huynh cứ nói.
- Nhưng, Tôn giả nhỏ
kia có liên quan gì với Ngài không?
- Ngài bảo sao? Chúng
tôi như anh em một mẹ, người này nhận cái gì thì người kia cũng nhận thế ấy,
tôi chưa bao giờ thấy Thầy ấy có lỗi.
- Thật vậy à?
- Thật chứ?
- Thưa Tôn giả, đây
là điều Tôn giả nhỏ tuổi nói với tôi: "Thưa Ngài, Ngài thuộc dòng cao quí,
nhưng còn Tôn giả lớn tuổi này, nếu Ngài có định quan hệ với ông ấy, và tưởng
rằng ông ấy trung hậu và dễ mến, thì hãy coi chừng.” Thầy lặp đi lặp lại với
tôi như thế ngay từ hôm tôi mới đến tới giờ.
Nghe nói xong, Tôn
giả lớn tuổi cảm thấy giận vô cùng, cõi lòng tan nát như một lọ gốm bị đập.
Giảng sư đến chỗ Thầy nhỏ tuổi, cũng nói y như trên, và Thầy cũng cảm thấy đổ
vỡ như sư huynh mình, hai vị thường đi khất thực với nhau, ngày đó Tôn giả trẻ
đi vào làng một mình, đi trước sư huynh của mình và dừng bước nơi thọ thực, Tôn
giả lớn tuổi đến sau.
Khi thấy sư huynh
mình, Tôn giả trẻ nghĩ thầm: "Ta có nên mang y bát của Ngài hay không?
Không, ta không mang.” Nhưng sau đó: "Khoan! Chẳng bao giờ ta xử sự như
thế này, ta không thể thiếu sót bổn phận.” Và mềm lòng, Thầy đến chỗ vị lớn
tuổi:
- Thưa Tôn giả, hãy
đưa y bát cho con.
Trưởng lão từ chối:
- Chú hãy đi đi,
người giả dối. Chú không xứng đáng mang y bát cho tôi.
Vừa nói Ngài vừa xua
tay khinh rẻ.
- Phải, tôi cũng nghĩ
tôi không mang y bát cho Ngài.
- Này chú, chú tưởng
tôi luyến tiếc tu viện này hay sao?
- Tôi cũng không cần
ở tu viện. Tu viện Ngài, Ngài cứ ở.
Nói xong, Thầy ôm y
bát bỏ đi. Trưởng lão cũng ra đi, và thay vì đi chung với nhau như mọi lần, bây
giờ một người đi hướng Ðông, một người đi hướng Tây. Giảng sư nói với họ:
- Ðừng làm thế.
Hai Trưởng lão bảo:
- Thôi, Ðại đức ở
lại.
Và giảng sư làm chủ
tu viện. Hôm sau, giảng sư đi vào làng kế cận, dân chúng hỏi thăm:
- Thưa Ðại Ðức, các
vị kia đâu?
- Ðừng hỏi tôi. Hai
Thầy ấy gây gổ nhau và ra khỏi tu viện hôm qua. Tôi can hết sức mà không được.
Nghe thế, một số
người khờ khạo tin liền, nhưng những người khôn ngoan bảo nhau:
- Trong suốt thời
gian ở đây, chúng ta không thấy hai Tôn giả bất hòa với nhau. Nếu các vị sợ hãi
bỏ đi, chắc tại ông Thầy mới đến.
Và họ rất buồn.
Về phần hai Tôn giả,
cả hai đều bất an. Trưởng lão nghĩ thầm: "Ôi! Thiệt là chú nhỏ rất lầm
lỗi", khi thấy khách chú đã bảo "đừng liên hệ với ta.” Và Tôn giả trẻ
tuổi cũng nghĩ như thế. Cả hai đều bực bội, không thể đọc kinh hay tọa Thiền.
Một trăm năm trôi
qua, tình cờ cả hai Tôn giả cùng đến một tu viện miền Tây và cùng nhận chung
một phòng. Khi Trưởng lão già vừa bước vào phòng và ngồi lên giường, Tôn giả
trẻ cũng vừa đến. Thấy nhau, họ không cầm được nước mắt. Thầy trẻ suy nghĩ:
"Ta có nên nói hay không? Chuyện đó không đáng tin.” Và Thầy đến chào vị
Trưởng lão, nói:
- Bạch Ngài, trong
suốt thời gian con mang y bát theo Ngài, Ngài có thấy con có gì sơ sót trong tư
tưởng, lời nói và hành động?
- Không, ta không
thấy.
- Thế thì tại sao
Ngài bảo với vị sư khách rằng đừng dính dáng gì với con?
- Này chú, ta không
nói như thế, mà trái lại ta được nghe chú nói như vậy về ta.
- Thưa Ngài, con cũng
không hề nói như thế bao giờ.
Lúc ấy, cả hai mới
nhận ra rằng, ông giảng sư nọ nói như vậy chỉ vì muốn chia rẽ huynh đệ, và cả
hai đều nhận lỗi của mình. Sau thời gian một trăm năm bất an, cả hai vị giảng
hòa với nhau. Và hai Tôn giả trở về tu viện cũ để mời sư Thầy lắm chuyện ra
khỏi cửa.
Giảng sư thấy hai vị
trở về, vội đến trước đỡ lấy y bát. Nhưng hai Trưởng lão điểm mặt Thầy:
- Ông không xứng đáng
ở trong tu viện.
Không dám nán lại
giây phút, giảng sư lập tức rời tu viện. Sau khi chết, giảng sư rơi vào Địa
ngục A tỳ, trong thời gian giữa hai đức Phật chịu hình phạt ở Địa ngục, và bây
giờ mang thân quỷ khổ sở như đã nói trên.
Sau khi nói xong, đức
Phật dạy:
Ngài nói Pháp Cú:
(281) Lời nói được
thận trọng,
Tâm tư khéo hộ phòng,
Thân chớ làm điều ác,
Hãy giữ ba nghiệp
tịnh,
Chứng đạo Thánh nhân
dạy.
7. Pothila, Ông Sư Rỗng
Tu Thiền Trí tuệ
sinh...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Pothila.
Trưởng lão Pothila,
thông thuộc Tam tạng trong thời đại của bảy đức Phật, là người tuyên đọc giáo
lý cho một nhóm năm trăm Tỳ kheo. Một ngày nọ, đức Phật nhủ thầm: "Nếu có
dịp, ta sẽ khuyến khích Trưởng lão này chấm dứt lậu hoặc.” Và từ đó, mỗi khi
Tôn giả đến bên Thế Tôn, Ngài thường gọi;
- Hãy đến đây,
Pothila rỗng!
Hoặc:
- Chào ông Pothila
rỗng.
- Ngồi xuống, Pothila
rỗng.
- Hãy đi, Pothila
rỗng.
Và khi Trưởng lão ra
đi, Ngài còn nói theo:
- Pothila rỗng đã đi.
Trưởng lão Pothila tự
nghĩ: "Ta thông thuộc Tam tạng và đọc suốt chú giải, ta là giáo thọ của
năm trăm Tỳ kheo, mười tám hội chúng. Vậy mà đức Thế Tôn luôn luôn gọi ta là
Pothila rỗng. Chắc chắn vì ta chưa phát triển Chánh định nên Ngài gọi ta như
vậy.” Rất kích động, Trưởng lão quyết định vào rừng, Thiền định. Chiều hôm ấy,
Ngài sắp xếp y bát, và vào chập tối, đi lẫn trong hàng người nghe kinh. Các Tỳ
kheo đang tụng kinh không để ý đó là Thầy của mình.
Pothila đi một khoảng
đường một trăm hai mươi dặm, cuối cùng đến khu rừng có ba nươi vị Tỳ kheo đang
ẩn cư. Ðến nơi, Ngài chào vị trưởng chúng và nói:
- Bạch Trưởng lão,
xin hãy chỉ giáo cho tôi.
- Tôn giả, Ngài là
giảng sư, chúng tôi còn phải học với Ngài, sao Ngài nói thế?
- Thưa Ngài, xin đừng
từ chối, hãy chỉ dạy tôi.
Thật ra, tất cả các
Tỳ kheo này đều chứng quả A la hán. Vị Trưởng lão đệ nhất nghĩ thầm: "Vị
Tỳ kheo này, vì học rộng chắc sẽ cao ngạo.” Và vì thế, đưa Pothila sang vị thứ
hai, người thứ hai lại đưa xuống cho người thứ ba. Và cứ thế, họ đẩy Pothila
đến người trẻ nhất trong nhóm, một chú Sa di bảy tuổi đang ngồi vá y. Như thế
kiêu khí của Pothila đã giảm rất nhiều.
Pothila đến bên chú
Sa di, chấp tay cung kính:
- Ðại đức, xin chỉ
giáo cho tôi.
- Ơ kìa! Giáo sư,
Ngài nói gì thế? Ngài hơn tôi về tuổi tác và học vấn, tôi còn phải học với
Ngài.
- Ðại đức, xin đừng
từ chối, hãy chỉ dạy cho tôi.
- Thưa Tôn giả, nếu
Ngài kiên nhẫn, tôi sẽ chỉ cho.
- Tôi sẽ kiên nhẫn,
nếu Ngài bảo tôi nhảy vào lửa tôi cũng nhảy.
Chú Sadi chỉ một cái
ao cách đó không xa, bảo Pothila:
- Ngài hãy xuống ao,
để cả y áo.
Chú biết rằng Pothila
mặc y đẹp, đắt giá, nói thử như vậy để xem Pothila có dễ dạy không. Vừa nói
xong, Pothila đã nhảy xuống ao, y áo ướt sũng. Chú Sa di kêu lên:
- Hãy đến đây!
Lập tức, Pothila leo
lên và đến gần chú. Chú bảo:
- Này Tôn giả, giả sử
ở đây có một cái hang với sáu cửa, một con tắc kè chui vào hang, người nào muốn
bắt nó, phải bít năm cửa hang, chừa lại một cửa là sẽ tóm được tắc kè. Như thế
Ngài nên đóng hết đóng hết năm căn, và tập trung vào ý căn.
Với một người thông
minh như Pothila, câu nói của chú Sa di đã soi sáng vấn đề.
- Như thế đã đủ, Ðại
đức.
Pothila tập trung tư
tưởng, quán sát thân mình, và bắt đầu Thiền định. Ðức Phật ở cách xa một trăm
hai mươi dặm, biết rằng Tôn giả sẽ trở nên bậc đại Trí tuệ Ngài hóa hiện trước
Tôn giả, nói kệ:
(282) Tu Thiền, Trí
tuệ sanh,
Bỏ Thiền, Trí tuệ
diệt.
Biết con đường hai
ngả,
Ðưa đến hữu, phi hữu.
Hãy tự mình nỗ lực,
Khiến Trí tuệ tăng
trưởng.
Nghe xong, Pothila
đắc quả A la hán.
8. Các lão Tỳ Kheo Và Lão Bà
Ðốn rừng, không đốn
cây...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một số các Tỳ kheo già.
Tại Xá Vệ, có một số
đại phú gia quyền thế, và lớn tuổi, họ kết thân với nhau, cùng làm nhiều việc
thiện. Khi nghe đức Thế Tôn giảng dạy, họ bảo nhau:
- Chúng ta đều già
cả, sao còn ở lại gia đình làm Cư sĩ.
Họ bèn đến xin Phật
xuất gia, gia nhập Tăng đoàn, theo nếp sống Sa môn. Vì lớn tuổi không thể học
thuộc kinh kệ, họ cất một thảo am ngoài vòng tu viện, và ở chung với nhau. Mỗi
khi khất thực, họ về nhà vợ con nhận thức ăn. Trong số đó, có một Thầy Tỳ kheo
già, vợ cũ của Thầy tên Madhurapàcikà, rất tử tế với các Thầy. Các Thầy thường
mang vật thực nhận được đến nhà bà thọ thực, bà Madhurapàcikà vẫn hay dâng cúng
nước xốt và càri. Ít lâu sau, bà lâm bệnh rồi qua đời. Các Tỳ kheo già hay tin
ôm cổ nhau than khóc kể lễ, người này té vào người kia:
- Ôi! Nữ thí chủ
Madhurapàcikà đã chết.
Nghe kêu khóc rền rĩ,
các Tỳ kheo khác chạy đến, hỏi han:
- Các huynh, việc gì
vậy?
Các Sa môn già trả
lời:
Bà vợ của một người
bạn chúng tôi mới chết. Bà ấy là một thí chủ tốt bụng nhất. Chúng tôi biết tìm
đâu ra một người như vậy. Vì thế nên kêu khóc.
Các Tỳ kheo bàn tán
việc này tại Pháp đường, đức Thế Tôn đi đến hỏi:
- Các ông tụ tập ở
đây bàn việc gì?
Khi các Tỳ kheo thuật
lại câu chuyện, Phật dạy:
- Ðây không phải lần
đầu họ làm như vậy. Ðời quá khứ cũng đã xảy ra chuyện này.
Chuyện quá khứ
A. Jatakakàka
Trong thời quá khứ,
họ là một đàn quạ. Và bà nữ thí chủ là một con quạ cái, khi bay qua bờ biển nó
bị sóng cuốn và nhận chìm, cả đàn kêu khóc, và tìm cách dùng mỏ tát nước biển
để cứu bà quạ. Rốt cuộc cả đàn đều mệt mỏi vô ích.
Kể chuyện quá khứ,
Phật dạy tiếp:
- Này các Tỳ kheo?
Khi nào còn rừng rậm tham, sân, si, các ông còn chịu đau khổ. Hãy đốn ngã rừng
cây ấy các ông mới được giải thoát.
Ngài nói kệ:
(283) Ðốn rừng, không
đốn cây
Từ rừng, sinh sợ hãi.
Ðốn rừng và ái dục
Tỳ kheo, hãy tịch
tịnh.
(284) Khi nào chưa
cắt tiệt,
Ái dục giữa gái trai
Tâm ý vẫn buộc ràng
Như bò con bú mẹ.
9. Cỏ Úa, Hoa Phai
Tự cắt dây ái dục...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo đệ tử Ngài Xá Lợi
Phất.
Có một thanh niên
khôi ngô, con nhà thợ bạc, từ bỏ gia đình, xuất gia tu học với Ngài Xá Lợi
Phất. Tôn giả nghĩ thầm: "Ðồ đệ ta còn trẻ, tham dục rất mạnh.” Ðể giúp
Thầy Sa môn trẻ chống đỡ lại dục nhiễm, Tôn giả dạy Thầy phép quán Bất tịnh.
Nhưng đề mục ấy không thích hợp, nên mặc dù Thầy đã rút vào rừng, nỗ lực phấn
đấu trên một tháng, Thầy vẫn không sao tập trung tư tưởng.
Thầy trở lại, Tôn giả
hỏi:
- Con đã nắm vững đề
mục Thiền quán chưa?
Thầy trình bày sự
thất bại của mình. Tôn giả bảo:
- Một người không bao
giờ nói rằng: "Tôi không đạt được đề mục Thiền quán.”
Tôn giả chỉ dạy cẩn
thận thêm về đề tài ấy. Thầy cũng không tiến bộ bao nhiêu, phải trở lại trình
với Thầy. Lần thứ ba, Tôn giả cũng dạy đề mục đó, chỉ dạy cặn kẻ về lý do,
nguyên nhân và các ảo tưởng tương tự. Một lần nữa Thầy lại thất bại trong công
phu Thiền quán.
Tôn giả Xá Lợi Phất
nghĩ thầm: "Một Sa môn bén nhạy, khi tham dục hiện hữu Thầy biết nó hiện
hữu. Khi tham dục không hiện hữu biết rằng chúng không hiện hữu. Sa môn này bén
nhạy, không trì độn, vững vàng trong đạo chưa lay chuyển. Tuy thế ta lại không
thể hiểu được tư tưởng và khuynh hướng của Thầy. Chắc chắn Thầy sẽ thuần phục
lời dạy của Phật.”
Vào buổi chiều, Tôn
giả dẫn đồ đệ đến chỗ Phật, và kể hết câu chuyện:
- Bạch Thế Tôn, đây
là đệ tử con, con đã dạy y như thế...
Phật dạy:
- Biết được tư tưởng
và khuynh hướng là quyền năng riêng của Phật, là bậc Toàn Giác có trí quán
chiếu thông suốt, khiến cho mười ngàn thế giới ngợi khen.
Ðức Phật quán sát gia
thế của Thầy Sa môn trẻ, biết rằng không những đời này Thầy sanh trong nhà thợ
bạc, mà đã năm trăm kiếp sanh trong nhà đó. Và trải qua thời gian lâu xa làm
thợ kim hoàn, chuyên chạm trổ các hoa sen, hoa Ca nị sắc bằng vàng ròng, nên
Thiền quán về đề tài nhờm gớm và tẻ nhạt, chắc chắn không thích hợp với Thầy,
chỉ có đề mục vui tươi mới thích hợp. Phật bảo Tôn giả:
- Này Xá Lợi Phất!
Với Sa môn mà ông chỉ định đề mục Thiền quán vừa trải qua bốn tháng mệt nhọc vô
ích, ông sẽ thấy y chứng A la hán ngay hôm nay, ông hãy đi nơi khác.
Sau khi đuổi Tôn giả
đi, Phật dùng thần thông tạo ra một hoa sen bằng vàng to bằng bánh xe, cọng lá
tươi tắn y như thật, đưa cho Thầy Sa môn bảo:
- Này Tỳ kheo, hãy
cầm lấy hoa sen này ra phía ngoài Tinh xá, cắm nó trên đỉnh cát, và ngồi kiết
già trước nó, ở giai đoạn sơ khởi, hãy lặp lại câu "Ðỏ thắm! Ðỏ
thắm!"
Ngay khi nhận hoa sen
từ bàn tay Thế Tôn, Thầy Sa môn trở nên bình an. Thầy làm theo lời Phật dạy,
làm một đống cát ngoài rào Tinh xá, cắm hoa sen lên, ngồi kiết già trước mặt
nó, và lẩm nhẩm "Ðỏ thắm! Ðỏ thắm!" Ngay khi ấy, các triền cái bị
tiêu diệt, Thầy bắt đầu nhập định, phát triển Sơ Thiền, Nhị Thiền, Tam Thiền,
Tứ Thiền. Cả toàn thân Thầy chìm sâu trong Thiền định. Ðức Phật dự biết Thầy
đạt được định, tự hỏi "Sa môn này có thể tự mình phát triển Thánh quả đến
tận cùng không?" Thấy rằng Thầy không thể tự đạt, Ngài ra lệnh "Hoa
sen hãy héo!" Lập tức đóa sen Thiền quán của Thầy ngã màu, nhợt úa như bị
vò nát.
Thầy Tỳ kheo xuất
định, thấy thế, tự nghĩ: "Bằng cách gì mà bông sen này trở nên già úa? Nếu
những vật như thế không bị lệ thuộc vào giới thông tục mà còn bị chế phục bởi
tuổi già, không có gì nghi ngại chuyện chúng sanh đắm luyến thế gian đều sẽ bị
chế phục tương tự. "Thế là, Thầy thấu rõ lẽ Vô thường. Ðồng thời, Thầy
thấu luôn cả lý khổ và vô ngã. Ba pháp ấn hiện rõ rệt với Thầy như lửa rực
cháy, hay như sợi dây cột quanh cổ.
Lúc ấy có một lũ trẻ
con chơi gần đấy, lội xuống hồ bẻ bông sen chất thành đống trên bờ. Thầy Tỳ kheo
nhìn những đóa hoa dưới nước và hoa trên bờ. Những hoa dưới nước tươi xinh đẹp,
còn hoa trên bờ héo úa, tàn rũ. Thầy lại tự nhủ: "Nếu tuổi già đã đánh bại
những vật không bị lệ thuộc vào thế gian, có lý nào lại không đánh bại chúng
sanh đắm luyến thế gian?"
Và Thầy càng thấu rõ
lý vô thường, khổ, vô ngã.
Ðức Thế Tôn thấy rằng
các đề mục Thiền định đã hoàn toàn chinh phục Thầy. Ngài bèn hóa hiện đến trước
mặt Thầy.
- Cái gì thế kia?
Thầy Tỳ kheo ngạc
nhiên nhìn lên thấy dường như đức Phật đến đứng trước mặt. Thầy lật đật đứng
lên, chấp tay cung kính.
Ðức Thế Tôn nói kệ:
(285) Tự cắt dây ái
dục,
Như tay bẻ sen thu,
Hãy tu đạo tịch tịnh,
Niết bàn, Thiện Thệ
dạy.
Nghe xong Thầy chứng
A la hán.
10. Chắc Chắn Sẽ Chết
Mùa mưa ta ở đây...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến đại phú thương Mahàdhana.
Mahàdhana cùng đoàn
xe năm trăm chiếc chất đầy vải mhuộm đỏ, từ thành Ba La Nại đem đi bán. Khi về
Xá Vệ, ông dừng lại bên bờ sông và nhủ thầm: "Ngày mai ta sẽ qua sông.”
Ông dừng xe, ngủ lại bên bờ. Suốt đêm ấy, một trận bão kéo đến và mưa như trút.
Suốt bảy ngày nước sông dâng cao và dâng chúng lại nghỉ lễ bảy ngày. Mahàdhana
không có dịp bán số vải của mình, ông tự nhủ: "Ta đã đi xa, nếu quay về sẽ
tốn công, ta sẽ ở lại đây mùa mưa, mùa đông và mùa hè sang năm, để bán hết số
vải.”
Khi Thế Tôn đi khất
thực, Ngài nhận ra dự tính của Mahàdhana và mỉm cười. Tôn giả A Nan hỏi lý do.
Ngài bảo:
- Này A Nan, ông có
thấy đại phú gia Mahàdhana chăng?
- Bạch Thế Tôn, có ạ.
- Ông ấy không biết
mình sắp chết, và dự định ở lại đây suốt năm để bán hàng.
- Bạch Thế Tôn, ông
ấy sắp chết sao?
- Này A Nan, trong
bảy hôm nữa, ông ấy sẽ bị cá nuốt.
Ngài nói kệ:
Hãy hăng say làm việc
Làm những gì nên làm
ngày hôm nay.
Ai biết thần chết sẽ
viếng ngày mai.
Chẳng phải chúng ta
vẫn hằng vật lộn
Mỗi ngày cùng thần
chết?
Ðây là lời hiền nhân
ca ngợi:
Hạnh phúc thay, kẻ
sống nhiệt tình
Ngày và đêm, không
mệt mỏi
Dù chỉ một đêm y được
sống.
- Bạch Thế Tôn, con
sẽ nói với ông ấy.
- Ðược rồi, cứ đi.
Tôn giả đi đến chỗ Mahàdhana
khất thực, ông ta cung kính cúng dường Tôn giả. Tôn giả hỏi:
- Ông dự định ở lại
đây bao lâu?
- Thưa Tôn giả, tôi
đã đến từ xa xôi, nếu trở về chắc sẽ trễ nãi. Tôi sẽ ở lại suốt năm để bán hàng
rồi mới tiếp tục đi.
- Này Cư sĩ, người ta
dù cái chết gần kề cũng khó biết được. Nên cẩn thận điều này.
- Sao, con sắp chết
ư?
- Phải đấy Cư sĩ, chỉ
trong bảy ngày nữa thôi.
Mahàdhana rất xúc
động khi nghe Tôn giả bảo như thế, và ông mời Phật cùng chư Tăng đến cúng dường
trong bảy ngày, vào ngày cuối, ông xin Phật chúc phước cho mình. Phật dạy:
- Này Cư sĩ, người
khôn ngoan không bao giờ nên nghĩ rằng: "Ta sẽ ở lại đây suốt mùa mưa, qua
đông đến hạ, ta sẽ làm việc này, việc nọ... ” Tốt hơn, người ấy cần quán tưởng
về cái chết của mình.
Ngài nói kệ:
(286) Mùa mưa ta ở
đây,
Ðông, hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng
vậy,
Không tự giác hiểm
nguy.
Nghe xong, Mahàdhana
chứng quả Dự lưu, chúng hội cũng được lợi ích. Ông tiễn chân các chư tăng một
quãng đường rồi quay lại. Ông cảm thấy nhức đầu và đi nằm. Chẳng bao lâu ông
chết, và tái sinh lên trời Ðâu suất.
11. Người Mẹ Mất Con Và Những Hạt Cải
Người tâm ý đắm
say...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến Ngài Kisà Gotami.
Câu chuyện của Tỳ
kheo ni Kisà Gotami, như đã kể ở Pháp Cú 114, phẩm Ngàn. Khi ấy, đức Phật hỏi:
- Này Kisà Gotami, có
tìm thấy hột cải trắng?
- Thưa, con không tìm
thấy, trong làng người chết còn nhiều hơn người sống.
- Không phải chỉ có
ngươi bị mất con. Ðó là luật chung cho mọi sinh vật. Thần chết như một dòng
nước lũ dữ, cuốn phăng, giật đi và ném mọi loài vào biển hoại diệt, trong khi
chúng sống chưa thỏa thích.
Ngài nói kệ:
(287) Người tâm ý đắm
say,
Con cái và súc vật,
Tử thần bắt người ấy,
Như lụt trôi làng
ngủ.
Nghe xong bà chứng
quả Dự lưu, hội chúng cũng được lợi.
12. Người Ðàn Bà Mất Hết Thân Quyến
Không có con che
chở...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến bà Patàcàrà. Câu chuyện của Tỳ kheo ni
Patàcàrà như đã kể ở phẩm Ngàn, Pháp Cú 113.
Ngày nọ, đức Thế Tôn
biết bà đã vơi cơn sầu khổ, bèn bảo:
- Này Patàcàrà, người
nào khi rời bỏ thế gian, không có con cái hay cha mẹ, họ hàng có thể bảo trợ,
che chở hay cho ẩn trú. Cho nên, dù những người ấy đang sống đó, cũng như không
có. Người khôn ngoan nên có đạo đức thanh tịnh để dẹp sạch đường đến Niết bàn.
Ngài nói kệ:
(288) Một khi tử thần
đến,
Không có con, che
chở,
Không cha, không bà
con,
Không thân thích che
chở.
(289) Biết rõ ý nghĩa
này,
Bậc trí lo trì giới,
Mau lẹ làm thanh
tịnh,
Con đường đến Niết
bàn.
Nghe xong bà Patàcàrà
chứng quả Dự lưu, hội chúng có người chứng Dự lưu, Nhị quả và Tam quả.
PHẨM XXI: TẠP LỤC
1. Sông Hằng Dâng Nước
Nhờ từ bỏ lạc nhỏ...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên quan những hành động quá khứ của Ngài.
Một thuở, thành Tỳ Xá
Ly là một đô thị giàu mạnh, dân cư đông đúc. Có bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy Hoàng
tử nối nhau trị vì. Mỗi ông Hoàng có cung điện riêng, nhiều đền chùa, lâu đài,
công viên, hồ tắm ở khắp nơi trong xứ. Tóm lại đó là một thành phố sung túc.
Nhưng ít lâu sau
nguồn lương thực bị cạn dần, rồi mất mùa, kế đến là nạn đói. Những người nghèo
đói chết trước nhất, tử thi của họ bị vất khắp nơi, mùi hôi thúi xông lên quyến
rũ một số ác quỷ. Bọn này tung hoành làm một số người chết thêm, mùi hôi xác chết
kinh khiếp đưa đến bệnh dịch. Như vậy có ba thiên tai xảy ra: nạn đói, ác thần
và bệnh dịch.
Dân cư trong thành
họp lại dâng kiến nghị lên nhà vua:
- Ðại vương! Trong
thành chúng ta đang bị ba thiên tai, trong thời bảy vua quá khứ không hề xảy ra
điều này. Thời của vị minh quân nào đã qua cũng không có thiên tai đến như thế.
Nhà vua họp đại hội
toàn quốc, tuyên bố:
- Có thể ta phạm một
vài lỗi lầm, hãy phán xét ta.
Dân chúng tìm tòi
những hành vi của nhà vua từ trước đến giờ, không thấy lỗi gì.
- Ðại vương, chúng
tôi không tìm thấy lỗi nơi Ngài.
Họ họp nhau, tìm cách
giảm bớt những thiên tai đang xảy ra. Một số người đề nghị tế lễ, cầu cúng, hội
hè, nhưng thiên tai không giảm bớt. Số người khác đưa kế hoạch:
- Hiện đang có sáu vị
giáo chủ nhiều quyền năng, chúng ta mời các vị ấy đến xem may ra có giảm bớt
thiên tai.
Người khác nói:
- Ðấng Toàn Giác đã
hiện ra nơi đời, Ngài là đấng Thế Tôn giảng dạy giáo lý cứu khổ cho chúng sanh.
Ngài có nhiều thần thông và quyền lực siêu nhiên. Nếu Ngài đến đây, thiên tai
sẽ giảm.
Mọi người tán thành ý
kiến sau cùng.
- Hiện nay Thế Tôn
đang ở đâu?
Lúc ấy, gần đến ngày
an cư, đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, theo lời hứa với vua Tần Bà Sa La. Và lúc
đó, có một ông hoàng dòng Licchavi tên là Mahàli, là người trong hội đồng hoàng
tộc của vua Tần Bà Sa La, đã chứng quả Dự lưu, có mặt trong hội nghị. Dân Tỳ Xá
Ly sắm sửa phẩm vật long trọng gởi kèm theo ông hoàng Mahàli, cùng với con trai
của vị Tư tế, đến thành Vương Xá để xin thỉnh Phật.
Hoàng tử Mahàli và
con trai Thầy Tư tế đến gặp vua Tần Bà Sa La dâng phẩm vật, nói rõ lý do và
thỉnh cầu:
- Ðại vương! Hãy để
đức Thế Tôn đến thành phố chúng tôi.
Nhà vua chỉ nói:
- Các ông là những
người thông minh, có thể tự thỉnh lấy.
Họ bèn đi đến chỗ
Phật, đảnh lễ và thưa:
- Bạch Thế Tôn, tại thành
phố chúng con có ba thiên tai tàn phá. Nếu Ngài đi đến đó chúng sẽ giảm bớt.
Xin Ngài đến với chúng con.
Ðức Phật nghe xong
lời thỉnh cầu, quan sát và dự biết rằng, ngay khi câu kinh Kim Cương được đọc
tụng tại Tỳ Xá Ly, sẽ làm chấn động tam thiên thế giới. Khi bài kinh kết thúc,
sẽ có tám muôn bốn ngàn người được Pháp nhãn, và thiên tai giảm thiểu Ngài nhận
lời.
Vua Tần Bà Sa La nghe
tin Phật nhận lời đến Tỳ Xá Ly, bèn ra lệnh báo tin khắp thành Vương Xá, còn
vua đến chỗ Phật, thưa:
- Bạch Thế Tôn, có
phải Ngài sắp đi đến Tỳ Xá Ly.
- Ðúng vậy, đại
vương!
- Nếu thế, xin hãy
đợi con dọn dẹp đường.
Nhà vua ra lệnh dọn
con đường dài năm dặm, từ thành Vương Xá đến bờ sông Hằng, mỗi dặm đặt một trạm
nghỉ chân. Khi đâu đó xong xuôi, nhà vua báo tin cho Phật biết rằng Ngài có thể
lên đường. Ðức Phật ra đi, dắt theo năm trăm vị Tỳ kheo. Trên mỗi dặm đường,
nhà vua ra lệnh trải hoa ngũ sắc ngập đến đầu gối, cờ lọng giăng đầy, hai lọng
trắng che trên đức Thế Tôn, còn mỗi vị Tỳ kheo một lọng trắng. Chung quanh Phật
và các Tỳ kheo, nhà vua tung hoa, rắc hương, mỗi trạm nghỉ đêm nhà vua cúng
dường vật thực thật nhiều. Trong năm ngày, nhà vua đưa Phật ra đến bờ sông,
trang hoàng một chiếc thuyền lộng lẫy rồi nhắn tin cho dân thành Tỳ Xá Ly:
- Hãy sửa soạn đường
sá và cung nghinh đức Thế Tôn.
Dân Tỳ Xá Ly tự nhủ:
"Chúng ta sẽ đón tiếp Thế Tôn long trong gấp hai lần vua
Tần Bà Sa La.
” Vì thế, từ bờ sông Hằng đến Tỳ Xá Ly dài ba dặm, họ dọn đất bằng phẳng
dựng cờ lọng dãy cao dãy thấp, dành riêng cho Phật bốn lọng, các Tỳ kheo mỗi vị
hai lọng. Chuẩn bị xong, họ đứng chờ bên này bờ sông.
Vua Tần Bà Sa La cột
hai chiếc thuyền lại với nhau, dựng mái che ở trên, trang hoàng đầy hoa rực rỡ,
đặt một chiếc ghế bằng các loại ngọc cho Phật ngồi. Ðức Thế Tôn ngồi vào ghế,
chư Tỳ kheo bước xuống thuyền, ngồi vây quanh đức Phật. Nhà vua đi theo thuyền,
lội xuống nước tận đến cổ, và bạch Phật.
- Bạch đức Thế Tôn,
con sẽ ở lại bên bờ sông này, đợi Ngài trở về.
Nói xong, vua đẩy
thuyền ra giữa dòng và trở vào. Sau khi thuyền bơi được một dặm, Phật đến giang
phận thành Tỳ Xá Ly.
Các Hoàng tử dòng
Licchavi đến đón đức Phật, họ cũng lội xuống nước ngang cổ, kéo thuyền vào bờ
và đưa đức Phật rời thuyền lên bờ. Khi Phật vừa đặt chân lên bờ, một cơn bão
lớn nổi lên, mưa như trút, nước dâng lên cao, cuốn sạch các tử thi xuống sông,
và toàn thể thành phố trở nên sạch sẽ tinh khiết. Các Hoàng tử Licchavi mời
Phật nghỉ chân từng dặm đường, dâng cúng phẩm vật gấp đôi số phẩm vật của vua
Tần Bà Sa La. Sau ba ngày, Phật đến Tỳ Xá Ly.
Thiên chủ Ðế Thích bay
xuống đấy, cả chư thiên tùy tùng; với ảnh hưởng quyền lực rộng lớn như thế, các
ác thần chạy trốn gần hết. Vào buổi chiều, đức Phật đứng ở cổng thành, ra lệnh
cho Tôn giả A Nan.
- Này A Nan, hãy nghe
ta nói kinh Kim Cương và đi quanh thành trùng tụng lại để tạo năng lực bảo hộ
trên ba lớp thành Tỳ Xá Ly, thành phố của các Hoàng tử Licchavi.
Tôn giả A Nan tiếp
nhận kinh từ kim khẩu Thế Tôn, lấy nước trong bình bát của Phật, rồi đi ra đứng
tại cổng thành Tỳ Xá Ly. Tôn giả quán tưởng về tất cả công hạnh của Phật
"Bắt đầu từ ý chí quyết thành Phật, đến mười Ba la mật của Như Lai, năm
pháp đại thí, ba ân đức, là vì lợi lạc cho thế giới, vì lợi lạc cho thân quyến
và cho sự tìm cầu giác ngộ; Bồ tát vào thai mẹ trong đời sống cuối cùng, Ðản
sanh, Xuất gia, hành Khổ hạnh, hàng phục Ma vương, đạt Tam Minh và chín tầng
Thiền Ðịnh.” Quán tưởng như thế xong, Tôn giả đi vào thành, suốt ba canh trong
đêm đi kinh thành trong ba lớp thành, vừa đi vừa tụng đọc kinh Kim Cương như
một năng lực bảo hộ.
Khi Tôn giả đọc đến
đoạn thứ ba và rải nước, những giọt nước rơi trúng các ác ma. Từ đoạn thứ ba
trở đi, những giọt nước kết tụ thành những quả cầu bằng bạc nhỏ tí, bay trên
không trung đến nơi trên các người bệnh. Lập tức họ lành bệnh, trỗi dậy khắp
mọi nơi và vây quanh Tôn giả. Cũng thế, khi câu kinh đoạn ba vừa đọc lên, các
loài ác ma chui núp trong đống củi, đống rác, kẹt tường, khi chạm nhằm các giọt
nước ấy đều trốn hết, chúng chen chúc nhau chật cửa đến nỗi phải phá tường mà
chui ra.
Dân chúng dùng đủ
loại hương rảy lên trên hội trường thành phố nằm ngay trung tâm Tỳ Xá Ly, cho
dựng mái che ở trên gắn đầy sao vàng và các thứ trang sức khác, sắp đặt chỗ cho
Thế Tôn ngồi. Ðức Thế Tôn ngồi vào tòa, các vị Tỳ kheo và các Hoàng tử Licchavi
ngồi vây quanh thành vòng tròn, rồi thiên chủ Ðế Thích cùng chư thiên quyến
thuộc cũng đứng vào chỗ của mình. Tôn giả A Nan đi quanh thành vừa xong, trở về
cùng với số đông các người bệnh được chữa lành, cũng đến đảnh lễ Phật, ngồi một
bên. Ðức Thế Tôn quan sát chúng hội, lặp lại kinh Kim Cương thêm một lần nữa.
Nghe xong có tám muôn bốn ngàn người được Pháp nhãn. Ðiều này xảy ra liên tiếp
bảy hôm nữa, đức Thế Tôn vẫn dạy cùng một bài kinh trên. Sau đó, nhận thấy tất
cả thiên tai đều tiêu trừ, Ngài giảng dạy cho các Hoàng tử Licchavi xong, rời
thành Tỳ Xá Ly. Các ông hoàng tôn phụng Thế Tôn gấp bội, và lần nữa suốt ba
ngày theo sau Phật đến bờ sông Hằng.
Các vua rồng cư trú
tại sông Hằng tự nghĩ: "Loài người đã tôn kính Như Lai, tại sao chúng ta
không làm như thế?" Bèn hóa hiện những con thuyền bằng vàng, bạc, châu
báu, trên ấy đặt ghế trân bảo, mặt nước trải đầy hoa sen ngũ sắc. Các vua rồng
thỉnh Phật lên thuyền:
- Bạch Thế Tôn, xin
hãy ban phước cho chúng con.
Lúc ấy, chư thiên từ
cõi trời Dục đến cõi trời Phạm bảo nhau:
- Người và rồng đã
tôn kính Như Lai, tại sao chúng ta không làm như thế?
Và họ cùng tôn vinh
Phật. Các long vương dựng những cây lọng này kế tiếp cây lọng kia, cao một dặm
và bên dưới, các long vương khác cũng làm như thế. Các loài chư thiên ở trên
cây, trong rừng, trên núi, trên trời, từ thế giới rồng đến cõi trời Phạm, tụ
họp thành vòng tròn, mỗi vị tay cầm lọng, giữa lọng là cờ, giữa cờ là phướn,
tung hương rải hoa, rưới nước thơm. Các thiên nam trang sức lộng lẫy như ngày
hội, bay lượn trên không, ca ngợi vang rền (Theo truyền thống, có ba cuộc đại
hội như thế: một vào dịp Phật hóa hiện thần thông song hành, một vào dịp Ngài
từ cung trời xuống, và một vào dịp sông Hằng dâng nước). Bên bờ sông phía thành
Vương Xá, vua Tần Bà Sa La đã chuẩn bị phẩn vật gấp đôi số phẩm vật của các
Hoàng tử Licchavi và đứng đợi đức Phật.
Khi đức Phật nhìn
thấy các phẩm vật long trọng của các vị vua hai bờ sông Hằng, nhìn thấu tư
tưởng của chư thiên, long vương, Ngài bèn hóa thiện một hóa Phật và năm trăm Tỳ
kheo cho mỗi chiếc thuyền. Cũng y như thế, một vị hóa Phật ngồi dưới mỗi cây
lọng trắng, một vị ngồi dưới mỗi cội cây như ý, một vị ngồi dưới mỗi vòng hoa
báu, vây quanh là vô số rồng thần. Giữa các chư thiên cõi người và cõi trời,
cũng có một vị hóa Phật và đồ chúng. Như là một dịp lễ hội của toàn cõi thế
giới, và để tỏ lòng chiếu cố loài rồng, trên mỗi chiếc thuyền bằng châu báu của
loài rồng có một vị hóa Phật ngồi, và để chiếu cố chúng Tăng, trên mỗi thuyền
châu báu đều có hóa Phật ngồi.
Long vương đưa Phật
và chúng Tăng xuống long cung, nghe Phật giảng pháp suốt đêm; ngày sau cúng
dường Phật và Tăng chúng những thức ăn thượng vị loại cứng, loại mềm. Sau khi
hồi hướng phước báo cho vua rồng, đức Phật rời long cung, cùng đoàn thuyền năm
trăm chiếc bơi ngang sông Hằng, trong sự cung nghinh của chư thiên trời Ðế
Thích. Vua Tần Bà Sa La đến đón Phật, thỉnh Ngài rời thuyền, cúng dường, tiếp
đón Phật long trọng gấp đôi các ông hoàng Licchavi, và đưa Phật về thành Vương
Xá.
Hôm sau, các Thầy Tỳ
kheo đi dự hội trở về, ngồi bàn tán tại pháp đường:
- Ôi! Thần thông của
đức Thế Tôn thật phi thường. Thật thành tín thay! Lòng thành kính tin tưởng của
người và trời đối với Thế Tôn. Suốt tám dặm trải dài dọc theo hai bờ sông Hằng,
với lòng kính tin Phật, các nhà vua đã dọn bằng phẳng đất đai, trải cát sạch,
rải hoa ngập đến đầu gối. Còn long vương thì rắc hoa sen ngũ sắc đầy trên sông,
cờ lọng giăng từ thấp lên đến các tầng trời, toàn cõi thế giới trang hoàng như
ngày lễ.
Ðức Phật đến gần và
hỏi:
- Các ông ngồi đây
bàn tán chuyện gì?
Và khi nghe kể lại,
Ngài bảo:
- Sự tôn kính và các
phẩm vật ấy dành cho Ta không phải do thần thông của Phật, không phải do thần
thông của long vương và chư thiên. Ðó là do một phẩm vật đơn sơ Ta đã cúng
dường từ quá khứ, mà hiện tại Ta nhận được như thế.
Các Thầy Tỳ kheo hỏi
lý do. Ðức Phật kể lại câu chuyện quá khứ.
A. Bà La Môn Samkha
Thuở xưa, cách đây
rất lâu, có một người Bà la môn tên Samkha, cư ngụ tại Takkasilà, ông có một
người con trai mười sáu tuổi tên Susìma. Ngày kia Susìma nói với cha:
- Thưa cha, con muốn
đến Ba La Nại, học tập kinh điển.
- Tốt lắm, ta có một
người bạn Bà la môn ở đấy, con sẽ học với ông ta.
Susìma nghe lời cha,
đến Ba La Nại tìm người Thầy Bà la môn. Người Bà la môn nhận con của bạn mình
làm đồ đệ. Và sau khi đã nghỉ ngơi, chàng bắt đầu học với Thầy. Chàng học rất
nhanh, rất nhiều và nhớ hết, không sót một điều gì, như sữa sư tử đựng trong bình
vàng, không chảy ra giọt nào. Không bao lâu chàng học hết của Thầy những gì
đáng học. Chàng đọc tụng thông suốt, hiểu thấu đoạn đầu, đoạn giữa, nhưng không
hiểu đoạn cuối. Chàng thưa điều ấy với Thầy, Thầy bảo:
- Này con, ta cũng
không hiểu đoạn cuối.
- Vậy ai là người
hiểu đoạn cuối, thưa Thầy.
- Ở Isipatana có
những bậc hiền triết, may ra hiểu thấu, con hãy đến đấy hỏi.
Susìma đến chỗ các vị
Phật Ðộc Giác và hỏi:
- Có thật là các Ngài
hiểu rõ đoạn này?
- Phải, chúng ta
hiểu.
- Xin hãy dạy cho
con.
- Chúng ta không dạy
cho người chưa xuất gia. Nếu con muốn học, hãy trở thành Sa môn.
Chàng Susìma đồng ý
xuất gia và trở thành một Sa môn trong giáo đoàn của các vị Ðộc Giác. Các Ngài
dạy Thầy Sisìma: "Hãy mặc hạ y như thế này, hãy mặc thượng y như thế...
" Như thế, Thầy học oai nghi của người sơ cơ.
Ở lại đây như một đồ
đệ ngoan ngoãn, Thầy học hết những gì được dạy, vì có khả năng đặc biệt nên
không bao lâu Thầy đạt quả vị Ðộc Giác. Danh tiếng Susìma nổi như cồn trong
thành Ba La Nại như mặt trăng tròn trên bầu trời, Ngài nhận nhiều sự tôn kính
và cúng dường. Chẳng bao lâu, Phật Ðộc Giác Susìima nhập Niết bàn, bởi vì các
nghiệp Ngài tạo tác chỉ đưa đến một thọ mạng ngắn. Các vị Phật Ðộc giác và dân
chúng làm lễ hỏa táng trọng thể, thu nhập Xá Lợi, xây tháp thờ tại cổng thành.
Khi ấy, người cha
nghĩ thầm: "Con ta đi khá lâu, ta sẽ đi tìm thăm xem việc gì xảy ra cho
nó.” Ông đến Ba La Nại, thấy đám đông dân chúng, ông nghĩ: "Chắc có vài
người biết về con ta.” Ông bước đến hỏi:
- Trước đây có một
thanh niên tên Susìma từng đến thành này, các vị có biết tin tức gì về chàng
ấy?
- Chúng tôi biết!
Người ấy học hết ba bộ Vệ Đà tại nhà Bà la môn nọ, sau đó xuất gia làm Sa môn,
đạt quả vị Ðộc Giác và nhập Niết bàn. Tháp này là tháp của vị ấy.
Nghe nói xong, Bà la
môn đập tay xuống đất, khóc than kể lể, đi chung quanh tháp. Ông nhổ sạch cỏ
quanh tháp, dùng áo đựng cát sạch rải chung quanh tháp, tưới nước, tung hoa để
tỏ lòng kính trọng, trải áo ra như một lá phướn và cắm cây lọng của mình che
trên tháp, xong rồi đi về.
Kể xong chuyện, Phật
kết luận:
- Lúc ấy Ta là Bà la
môn Samkha, do phước báo nhổ cỏ chung quanh tháp của vị Phật Ðộc Giác Susìma,
nên hiện tại ông hoàng dọn sạch con đường dài tám dặm, không còn cây cỏ, đất
bằng phẳng. Vì Ta trải cát quanh tháp, nên con đường dài Ta đi hôm nay cũng
được rải cát. Vì Ta tung hoa lên tháp nên hôm nay các loại hoa được rải trên
đường, và một dặm trên sông Hằng đầy hoa sen ngũ sắc. Vì Ta tưới nước quanh
tháp nên khi ta vừa đến Tỳ Xá Ly một trận mưa rơi xuống. Vì Ta treo cờ cắm lọng
nên toàn thể chư thiên cầm cờ lọng cao đến tận trời.
Này các Tỳ kheo, các
phẩm vật và những sự tôn kính ấy không phải tự nhiên đến với ta do thần lực của
Ta là thật, không do thần lực của trời, rồng. Trái lại từ thần lực có từ những
phẩm vật thô sơ Ta cúng dường từ thời quá khứ.
Ngài nói kệ:
(290) Nhờ từ bỏ lạc
nhỏ,
Thấy được lạc lớn
hơn,
Bậc trí bỏ lạc nhỏ,
Thấy được lạc lớn
hơn.
2. Không Lấy Oán Báo Oán
Gieo khổ đau cho
người...
Câu chuyện này xảy ra
khi đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến một người đàn bà ăn trứng của một
con gà.
Trong một ngôi làng
không xa thành Xá Vệ, có một người đánh cá. Một hôm trên đường đi đến thành Xá
Vệ, ông bắt gặp một vài cái trứng rùa dọc theo bờ sông Aciravatì, ông bèn nhặt
lấy. Ðến Xá Vệ, ông vào nhà người quen, luộc mấy quả trứng, khi ngồi ăn ông cho
cô con gái chủ nhà một trứng. Cô bé ăn xong, đòi ăn thêm, bà mẹ phải lấy trứng
trong ổ con gà mái luộc cho cô. Cô bé ăn trứng gà, từ đó cô đâm thích món ăn
này và thường tự lấy trứng ăn.
Con gà mẹ để ý rằng
mỗi lần mình đẻ trứng đều bị cô bé mang đi ăn hết; nổi cơn bất bình oán hận cô,
nó thề rằng: "Khi tôi chết, tôi sẽ tái sanh làm chằn tinh, ăn thịt mấy đứa
con cô này.” Sau khi chết nó trở lại làm con mèo của nhà này, còn cô bé trở lại
làm gà mái. Gà mái đẻ trứng đều bị mèo ăn hết, như vậy đến ba lần. Gà mái tức
quá bèn trù: "Ba lần ngươi ăn trứng của ta, còn muốn ăn thịt cả ta. Khi ta
tái sanh, ta sẽ nhai xương ngươi và con ngươi.”
Sau đó gà mái sanh
làm beo rừng, con mèo thành con nai. Khi nai có con, beo đến ăn thịt cả mẹ lẫn
con. Như thế trong năm trăm kiếp liên tục, họ ăn nuốt lẫn nhau, gây đau khổ cho
nhau. Cuối cùng một bên làm bà chằn, một bên làm phụ nữ trong thành Xá Vệ. Câu
chuyện tiếp diễn như cũ, cho đến khi gặp Phật, Ngài dạy câu:
(291) Gieo khổ đau
cho người,
Mong cầu lạc cho
mình,
Bị hận thù ràng buộc,
Không sao thoát hận
thù.
Hai kẻ thù nghe xong,
bà chằn xin quy y, thọ năm giới. Không còn hận thù, người đàn bà nọ cũng chứng
Sơ quả. Hội chúng đều được lợi ích.
3. Các Tỳ Kheo Phù Hoa
Việc đáng làm không làm...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại hang động Jàtiyà gần Bhaddiya, liên hệ đến các Tỳ kheo
Bhaddiya.
Một thời, đức Thế Tôn
đang ở tại động Jàtiyà, gần thành Bhaddiya. Các Tỳ kheo ở đây có thói quen
trang trí giày dép của các Thầy, như trong Vệ Đà diễn tả "Các Tỳ kheo ở
Bhaddiya có thói quen mang những đôi dép sặc sỡ đủ kiểu.” Họ tự làm hoặc đặt
làm những đôi dép bằng vật liệu quý nhẹ, đắt tiền, đúng mốt, hợp thời trang...
Như thế họ lơ là với học hỏi, giới luật, Thiền định, Trí tuệ.
Các Tỳ kheo khác thấy
thế rất bực tức, bèn bạch với Phật. Phật quở trách mấy Thầy ham chưng diện này:
- Các ông đến đây vì
mục đích gì, mà bây giờ đeo đuổi chuyện vô ích như thế?
Ngài nói kệ:
(292) Việc đáng làm,
không làm,
Không đáng làm, lại
làm,
Người ngạo mạn, phóng
dật,
Lậu hoặc ắt tăng
trưởng.
(293) Người siêng
năng cần mẫn,
Thường thường quán
thân niệm,
Không làm việc không
đáng,
Gắng làm việc đáng
làm.
Người tư niệm giác
tỉnh,
Lậu hoặc được tiêu
trừ.
Các Thầy Tỳ kheo ưa
đẹp này nghe xong, liền chứng A la hán, hội chúng cũng được lợi ích.
4. Sa môn Giết Cha Mẹ
Sau khi giết mẹ
cha...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya.
Một thời, đức Thế Tôn
đang ở tại Kỳ Viên, có một số Tỳ kheo đến viếng thăm Ngài. Sau khi đảnh lễ, các
Thầy kính cẩn lui ngồi một bên. Khi ấy Tôn giả Lakuntaka Bhaddiya đi ngang đấy
không xa. Ðức Phật biết tâm của các Tỳ kheo đúng lúc, Ngài nhìn Tôn giả và nói
với các Tỳ kheo.
- Các ông hãy nhìn
kia! Ðó là Tỳ kheo đã giết cha, giết mẹ, thoát khổ đau.
- Ðức Thế Tôn nói gì
thế?
Các Tỳ kheo kêu lên,
nhìn nhau, nghi ngờ, và hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn! Ngài
nói gì?
Phật bèn nói kệ:
(294) Sau khi giết mẹ
cha,
Giết hai vua Sát lợi,
Giết vương quốc, quần
thần,
Vô ưu, Phạm chí sống.
Nghe xong các Thầy
chứng A la hán.
Câu chuyện liên quan
câu kệ sau cũng giống như chuyện trên, Phật cũng nói về Tôn giả Lakuntaka:
(295) Sau khi giết mẹ
cha,
Hai vua Bà la môn,
Giết hổ tướng thứ năm
(nghi)
Vô ưu, Phạm chí sống.
[Theo Chú Giải: ... ”
Mẹ (mata) là ẩn dụ cho lòng tham ái (tanha), và cha (pita) là ẩn dụ của ngã mạn
(mana). Chính vì tham ái và ngã mạn mà ta phải tái sinh nhiều đời, nhiều kiếp
trong cõi ta bà luân hồi này. Hai vị vua chính là hai biên kiến của vô minh:
thường kiến (eternalism) và đoạn kiến (annihilationism), thường tạo ra nhiều
tranh cãi vô ích, cần phải được phá bỏ. Vương quốc lãnh thổ kia chính là 6 căn
và 6 trần: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, và sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Vị Quốc khố đại thần (treasurer) là để chỉ lòng tham đắm dục lạc phát sinh và
chất chứa từ 6 căn đó. Sau cùng, hổ tướng thứ năm chính là con quỷ thứ năm làm
cản trở sự định tâm, phát tuệ. Ðó là "nghi" của 5 triền cái: tham
dục, sân hận, hôn trầm, trạo cử, và hoài nghi. Sau khi đã đoạn diệt tất cả các
chướng ngại nầy thì hành giả mới thong dong, tự tại, đi đến giải thoát...
"]
5. Cậu Bé Và Quỷ Dữ
Luôn luôn tự tỉnh
giác...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Trúc Lâm, liên quan đến một cậu bé con người bán củi.
Tại thành Vương Xá,
có hai đứa bé thường chơi banh với nhau, một đứa là Phật tử, một đứa là con nhà
ngoại đạo. Thiếu niên Phật tử thường niệm tưởng đức Phật, mỗi khi tung banh
lên, em đọc "Nam mô Phật Đà.” Em con nhà ngoại đạo thường xưng tụng
công đức các ngoại đạo, và mỗi khi tung banh lên em đọc "Nam mô A la
hán.” Trong trò chơi, thiếu niên Phật tử thường thắng cuộc, còn cậu bé ngoại
đạo thường thua. Quan sát đối phương, cậu bé nghĩ: "Bạn trẻ này thường
tưởng nhớ đức Phật và đọc như thế mỗi khi tung banh, và do đó thường thắng ta.
ta cũng sẽ làm như vậy.” Và em bắt đầu tập thói quen niệm tưởng Phật Đà.
Một ngày nọ, cha em
đánh xe vào rừng tìm củi, đem em đi theo. Sau khi chất đầy xe củi, ông trở về.
Trên đường về, ông dừng lại tại một bãi đất hỏa táng ngoài thành, chọn địa điểm
sạch sẽ, đủ nước, cỏ rồi đem cơm ra ăn. Chiều đến, con bò kéo xe của ông đi
theo một bầy trâu bò vào thành. Người cha chạy theo bắt bò lại, trở ra thì trời
đã tối, cổng thành đóng ông không ra được. Ðêm ấy, cậu bé ở ngoài bãi tha ma
ngủ một mình dưới chiếc xe.
Lúc ấy, thành Vương
Xá thường có vài ác quỷ lui tới, gần bãi đất hỏa táng có hai con quỷ chú ý đến
cậu bé nằm ngủ ở đấy. Một con quỷ thường hay tìm mỗi trên bãi đất hỏa táng và
theo tà đạo, con quỷ kia thì chân chánh. Quỷ tà bảo quỷ chánh:
- Ðứa bé này là mồi
ngon, chúng ta hãy ăn thịt nó.
Quỷ chánh bảo;
- Thôi đi! Ðừng nghĩ
bậy.
Mặc dù nó cố gắng cản
ngăn, quỷ tà cứ làm theo ý mình, nó nắm chân cậu bé định xé đôi. Lúc ấy, theo
thói quen tưởng niệm Phật, cậu bé trong giấc ngủ chợt nói: "Nam mô
Phật", con quỷ tà kinh sợ thối lui. Quỷ chánh nói:
- Chúng ta làm điều
không nên làm, chúng ta sẽ bị phạt.
Và để chuộc lỗi, nó
đứng canh cho cậu bé, còn quỷ tà vào thành, lấy một cái dĩa bằng vàng ròng
trong cung vua, đựng đầy thức ăn đem về. Cả hai con quỷ săn sóc cậu bé như cha
mẹ, đánh thức cậu dậy và đưa thức ăn cho cậu. Sau đó chúng dùng quyền lực khắc
thư lên dĩa kể lại câu chuyện xảy ra, bảo nhau: "Hãy để nhà vua đọc thư
này, người khác không thể đọc.” Ðể dĩa lên chiếc xe, chúng đứng canh suốt đêm,
và đến sáng mới đi.
Ngày sau đó, tin
truyền rằng ăn trộm lấy mất dĩa vàng của nhà vua. Dân chúng đóng cửa thành và
lục tìm. Tìm không thấy, họ ra ngoài thành, lục lọi khắp nơi, họ thấy chiếc dĩa
trên xe của cậu bé. Họ túm lấy cậu và điệu về trình vua:
- Ðây là ăn trộm.
Nhà vua nhận chiếc
dĩa, đọc xong câu chuyện viết trên ấy, hỏi:
- Này con, thế này
nghĩa là gì?
- Thưa đại vương, con
không biết. Ðêm rồi, cha mẹ con mang thức ăn đến cho con và canh chừng cho con
ngủ. Con yên chí có cha mẹ nên không sợ và ngủ ngon. Ðó là những gì con biết.
Ðúng lúc ấy, cha mẹ cậu
bé vừa đến. Nghe họ bảo rằng đã để con một mình ngoài thành... Nhà vua đưa cả
ba đến chỗ Phật, kể lại câu chuyện và hỏi:
- Bạch Thế Tôn, có
phải niệm tưởng Phật là một sự che chở, hay niệm tưởng Pháp và những điều khác
cũng được hộ trì?
Ðức Phật trả lời:
- Này đại vương, niệm
tưởng Phật Đà không phải chỉ là cách duy nhất có ý nghĩa được bảo hộ, nhưng
người Phật tử chân chánh thực hành thâm sâu niệm tưởng một trong sáu đề mục thì
không cần bất cứ sự bảo hộ nào, phương cách bảo hộ nào, câu thần chú nào, hay
dược thảo nào cả.
Ngài nói kệ:
(296) Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh
giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Thường tưởng niệm
Phật Ðà.
(297) Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh
giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Thường tưởng niệm
Chánh pháp.
(298) Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh
giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Thường tưởng niệm
Tăng- già.
(299) Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh
giác,
Vô luận ngày hay đêm
Thường tưởng niệm sắc
thân.
(300) Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh
giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Ý vui niềm bất hại.
(301) Ðệ tử Gotama,
Luôn luôn tự tỉnh
giác,
Vô luận ngày hay đêm,
Ý vui tu Thiền quán.
6. Hoàng Tử Bạt Kỳ Làm Sa Môn
Vui hạnh xuất gia
khó...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Tinh xá Ðại Lâm (Mahàvàna) gần thành Tỳ Xá Ly, liên quan đến
một ông hoàng dòng Bạt Kỳ (Vajjian) đã xuất gia thành Sa môn. câu chuyện như
sau:
Một ông hoàng dòng
Bạt Kỳ xuất gia làm Sa môn. Thầy Sa môn vương giả này sống ẩn cư trong một khu
rừng gần thành Tỳ Xá Ly. Thành phố tổ chức đại lễ tưng bừng suốt đêm. Thầy Sa
môn Hoàng tử nọ nghe tiếng xôn xao, tiếng trống tiếng nhạc từ thành Tỳ Xá Ly
vọng lại, Thầy nổi cơn sầu muộn, bèn buồn khóc rên rỉ:
Ta cô đơn trong rừng,
Như khúc cây bị bỏ.
Trong đêm như đêm
nay,
Có ai bằng ta khổ.
Nguyên Sa môn này đã
từng là Hoàng tử trong vương quốc Bạt Kỳ, khi đến phiên mình trị nước, đã từ bỏ
Hoàng cung xuất gia làm Sa môn. Vào ngày trăng tròn tháng Kattika, toàn thể phố
xá thành Tỳ Xá Ly treo cờ kết lọng, tổ chức hội hè. Dạ hội kéo dài tận đêm,
Thầy Sa môn nghe tiếng trống, tiếng kèn, tiếng âm nhạc, đàn lục huyền... Khi
bảy ngàn bảy trăm lẻ bảy Hoàng tử Vesàli cũng như bao nhiêu Hoàng tử, đại thần
trang sức lộng lẫy, đổ xô ra đường dự hội, thì Thầy một mình đi kinh hành trong
hành lang rộng sáu mét, trên đầu chỉ có một vầng trăng. Thầy đến ngồi trên ghế,
suy nghĩ về thân phận mình, thiếu cả hội hè, thiếu cả quần aó trang sức, như
khúc gỗ bị ném bỏ trong rừng. Thầy tự nghĩ: "Có ai bất hạnh hơn ta
không?"
Bình thường, Thầy có
đủ công hạnh, và đức tính của một vị ẩn tu, nhưng trong lúc này vì bất mãn Thầy
đã nói như thế. Một vị lâm thần ở khu rừng ấy biết được nên tự nhủ: "Ta sẽ
khuyến khích Thầy", và thần nói kệ:
Ngài cô đơn trong
rừng,
Như khúc cây bị bỏ.
Nhiều người ước được
thế,
Như kẻ đoạ Địa ngục,
Ganh người ở thiên
đàng.
Vị Sa môn nghe kệ,
ngày hôm sau đến chỗ đức Phật, đảnh lễ và cung kính ngồi một bên. Phật đã dự
biết, và muốn nói cho Thầy biết đầy đủ về khổ đau của đời sống thế gian. Ngài
nói về năm thứ đau khổ trong bài kệ:
(302) Vui hạnh xuất
gia khó,
Tại gia sinh hoạt
khó,
Sống bạn không đồng,
khổ,
Trôi lăn luân hồi,
khổ,
Vậy chớ sống luân
hồi,
Chớ chạy theo đau
khổ.
7. Cư sĩ Tâm - Người Thành Tín
Tín tâm, sống giới
hạnh...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Cư sĩ Tâm (Citta).
Citta là một nam Cư
sĩ giàu tâm đạo, chàng luôn được quý trọng mỗi khi đến hầu Phật. Tôn giả A Nan
thấy thế bèn hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn! Chỉ
khi nào Citta đến viếng Phật mới được trọng vọng như thế? Hay cũng được quý
trọng khi đến thăm các người khác?
Phật dạy:
- Này A Nan! Ông
ấy luôn được quý trọng như vậy, dù cho đến viếng Ta hay viếng ai. Vì Cư sĩ ấy
đầy niềm tin, tâm đạo và đức hạnh. Người như thế, dù đi đến nơi nào cũng được
tôn kính.
Ngài nói kệ:
(303) Tín tâm, sống
giới hạnh,
Ðủ danh xưng, tài
sản,
Chỗ nào người ấy đến,
Chỗ ấy được cung
kính.
8. Cô Gái Ðức Hạnh
Người lành dù ở xa...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Cullà Subhaddà, con gái ông Cấp Cô
Ðộc.
Thời còn niên thiếu,
Cấp Cô Ðộc có một người bạn thân tên Úc Già, cũng con nhà Trưởng giả, họ cùng
học chung một Thầy, và cùng hứa hẹn rằng sau này khi thành gia thất, cả hai sẽ
gả con cho nhau để kết thêm tình thân ái. Và sau đó Cấp Cô Ðộc cùng Úc Già đều
trở thành Trưởng giả tại thành phố của mình.
Trong một chuyến buôn
xa, Trưởng giả Úc Già đến thành Xá Vệ với năm trăm cỗ xe. Ông Cấp Cô Ðộc bèn
kêu con gái, cô Cullà Subhaddà, đến dặn dò:
- Này con, cha con -
ông Úc Già - đến viếng nhà, con hãy săn sóc ông thật đầy đủ.
- Thưa cha, vâng.
Và khi ông Úc Già
đến, cô đích thân sửa soạn thức ăn với đầy đủ hương liệu, chuẩn bị phấn, kem,
nước thơm, dầu xức... tất cả tiện nghi cho ông. Sau khi ông dùng bữa, cô chăm
sóc phòng tắm một cách chu đáo làm tròn phận sự mình.
Trưởng giả Úc Già
nhận thấy cô hoàn toàn, nên hả dạ lắm. Trong một buổi nói chuyện tương đắc, ông
nhắc lại với Cấp Cô Ðộc lời hứa ngày xưa, và xin cưới cô Cullà cho con trai
mình. Trưởng giả Úc Già theo ngoại đạo, nên ông Cấp Cô Ðộc đến hỏi ý kiến Phật.
Thế Tôn biết Úc Già có duyên chứng Thánh quả nên khuyên ông nhận lời; và Cấp Cô
Ðộc sau khi bàn với vợ, đã đồng ý với Úc Già, rồi định ngày hôn lễ.
Như Trưởng giả
Dhananiaya khi gả cô Visàkha, Trưởng giả Cấp Cô Ðộc cũng cho con thật nhiều của
hồi môn. Ông cũng khuyên con mười điều: "Này con, khi sống trong nhà cha
mẹ chồng, chớ đem lửa trong nhà ra ngoài... ” Ông cũng cho tám người theo đỡ
đầu cho cô Cullà.
- Nếu con gái ta có
lỗi lầm gì với cha mẹ chồng, các ông hãy chỉ dạy nó.
Ngày hôn lễ, ông cúng
dường Phật và Tăng chúng trọng thể, và để chứng tỏ những quả báo tốt đẹp của cô
trong quá khứ, ông đưa cô về nhà chồng trong nghi lễ hết sức huy hoàng.
Cô Cullà đến thành
của Úc Già, gia đình chồng cùng tất cả thân quyến ra đón. Giống như Visàkha, cô
ngồi trên chiếc xe ngựa, đi chào khắp thành trong vẻ lộng lẫy của một cô dâu.
Cô nhận quà của mọi người và đáp lại tương xứng theo sở thích mỗi người, khiến
cho tất cả thành phố ca ngợi vẻ đẹp và công hạnh của cô.
Cha chồng cô thường
mời các đạo sĩ lõa thể đến nhà trong các dịp lễ lớn, dịp này các Thầy ấy cũng
có mặt. Cha chồng cô ra lệnh:
- Hãy đến ra mắt và
làm lễ tôn kính với các bậc Thầy của ta.
Nhưng cô Subhaddà
không thể nhìn vào các đạo sĩ lõa thể, cô từ chối không đến chào. Lần thứ hai,
lần thứ ba, cô cũng không đến chào, ông cha chồng của cô nổi giận:
- Hãy đuổi con bé ấy
ra khỏi nhà.
Cô trả lời:
- Không thể kết tội con
mà không có nguyên nhân.
Cô mời các vị bảo hộ
đến, trình bày mọi việc, và họ công nhận cô vô tội.
Ông Trưởng giả thuật
chuyện với vợ và bảo:
- Con dâu ta từ chối
không làm lễ các đạo sĩ vì nó cho rằng các Thầy ấy khiếm nhã.
Bà hỏi:
- Tư cách của các Thầy
nó thế nào mà nó tôn kính đến vậy?
Bà gọi con dâu đến
hỏi:
Các Thầy con khen
ngợi
Tư cách họ ra sao?
Giới luật gì họ giữ?
Tu tập những hạnh
nào?
Ðể trả lời, cô
Subhaddà ca tụng ân đức của Phật và các đệ tử Phật:
Căn các Thầy thanh
tịnh,
Tâm các Thầy thanh
tịnh.
Thanh tịnh khi Thầy
đi,
Khi đứng cũng an
định.
Mắt Thầy luôn nhìn
xuống,
Miệng ít khi nói
năng,
Các Sa môn Thầy con,
Thân khẩu ý tịch
lặng,
Như hạt ngọc không
tỳ,
Trong lẫn ngoài đều
sáng.
Phẩm hạnh luôn xứng
đáng
Các Thầy con như vậy.
Thế gian buồn khi
mất,
Khi được thì vui
mừng.
Các Thầy con không
thế,
Ðược mất đều dửng
dưng.
Vinh danh thế gian
vui,
Hổ danh thế gian sầu.
Các Thầy con không
vậy,
Vinh nhục tâm chẳng
màng.
Thế gian mừng được
khen
Thế gian buồn bị chê.
Các Thầy con không
thế,
Ðiềm nhiên dù khen
chê.
Thế gian khóc cười
theo,
Khổ vui trong cuộc
sống.
Các Thầy con thanh
thản,
Vui khổ chẳng động
lòng.
Với các câu trả lời
như thế, Subhaddà làm mẹ chồng hài lòng. Bà hỏi:
- Chúng ta có thể gặp
các Thầy của con?
- Thưa, được.
- Tốt lắm, hãy sắp
đặt để chúng ta được gặp.
Subhaddăa liền chuẩn
bị nhiều phẩm vật cho Phật và chúng Tăng. Cô leo lên lầu cao, hướng về phía Thế
Tôn, đảnh lễ năm vóc sát đất, tưởng niệm ân đức Phật Đà, tôn kính Phật bằng
hương thơm, hoa và nhang trầm, cô tung lên hư không một vốc hoa lài và thốt
lên:
- Bạch đức Thế Tôn,
con thỉnh Ngài và chư Tăng ngày mai đến nhà con. Xin để cho Ngài biết rằng con
đã cung thỉnh.
Hoa lài bay qua hư
không, kết lại thành tràng, dừng trước đức Phật, khi Ngài đang giảng pháp cho
chúng hội.
Vào lúc ấy, Trưởng
giả Cấp Cô Ðộc cũng thỉnh Phật đến nhà ngày mai. Phật trả lời:
- Này Trưởng giả, Ta
đã nhận lời mời của người khác.
- Nhưng, đâu có ai
đến trước con, Ngài đã nhận lời ai?
- Cullà Subhaddà mời
Ta.
- Con gái con ở cách
xa đây hơn một trăm hai mươi dặm, làm sao mời được?
- Ðúng thế, nhưng
người lành dù ở xa, vẫn hiện rõ như ở gần.
Ngài nói kệ:
(304) Người lành dù ở
xa,
Sáng tỏ như núi
tuyết.
Người ác dầu ở gần,
Như tên bắn đêm đen.
Vua trời Ðế Thích
biết đức Phật nhận lời thỉnh của Subhaddà, ra lệnh cho thần Vissakamma:
- Hãy hóa hiện năm
trăm ngôi tháp, ngày mai đưa Phật và chúng Tăng đến thành của Úc Già.
Ngày hôm sau,
Vissakamma biến đủ năm trăm ngôi tháp và đứng đợi ở cổng Kỳ Viên. Ðức Phật đem
theo năm trăm vị A la hán, và Ngài cùng chúng Tăng ngồi vào tháp, bay đến thành
Úc Già. Trưởng giả Úc Già cùng gia quyến theo sự chỉ dẫn của Subhaddà đứng đợi
ở con đường Phật sẽ đến. Ông thấy đức Phật và chúng Tăng đi đến trong vẻ trang
nghiêm siêu phàm, lòng tràn đầy hoan hỷ. Ông tỏ lòng cung kính rất mực, rước
Phật và chúng Tăng vào nhà, tung hương rải hoa, cúng dường long trọng, thỉnh
Phật ở lại bảy hôm. Phật thuyết pháp, và sau đó Trưởng giả Úc Già cùng tám mươi
bốn ngàn người đều đắc Pháp nhãn. Ðặc biệt ban ân cho Subhaddà, Phật chỉ định
Tôn giả A Nậu Lâu Đà ở lại. Từ đó, dân thành Úc Già trở nên thần thành, giàu
tâm đạo.
9. Vị Sa Môn Ðộc Cư
Ai ngồi, nằm một
mình...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến Tôn giả Ðộc Cư.
Tôn giả Ðộc Cư nổi
tiếng trong bốn bộ chúng rằng Ngài là người đi một mình, đứng một mình và ngồi
một mình. Các Tỳ kheo đến bạch Phật về Tôn giả:
- Bạch Thế Tôn,
Trưởng lão ấy làm như thế, như thế.
Ðức Phật khen ngợi:
- Lành thay! Lành
thay! Tỳ kheo ấy có thể sống độc cư:
Và khen ngợi đời sống
viễn ly, đơn độc, Ngài nói kệ:
(305) Ai ngồi nằm một
mình,
Ðộc hành không buồn
chán.
Tự điều phục một
mình,
Sống thoải mái rừng
sâu.
PHẨM XXII: ÐỊA NGỤC
1. Cái Chết Của Tôn Ðà Lỵ
Nói láo đọa Địa
ngục...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến một nữ du sĩ ngoại đạo tên Tôn Đà Lỵ.
Khi đức Thế Tôn cùng
Tăng đoàn ở tại Kỳ Viên, Ngài nhận được sự cúng dường trọng vọng của dân chúng
nhiều ngang bằng một trận lũ lụt do nước các sông Ngũ Hà dâng cùng một lượt
(five great rivers), và các giáo phái ngoại đạo trước sự hiện diện của Ngài,
trở nên lu mờ như ngọn đèn trước ánh sáng mặt trời. Họ mất hết cả lợi lộc và
danh tiếng. Ngày nọ, họ họp nhau bàn tán:
- Từ khi Sa môn Cồ
Đàm xuất hiện, chúng ta bị mất hết lợi lộc và danh dự, trước kia chúng ta còn
được dâng cúng, bây giờ chẳng ai thèm biết đến chúng ta. Chúng ta phải tìm cách
phá vỡ danh tiếng và lợi lộc mà y đang có. Ai sẽ là người có thể làm được việc
này?
Họ bàn tán du sĩ một
hồi và bảo nhau:
- Có nữ du sĩ Tôn Đà
Lỵ, cô ấy sẽ làm được việc.
Và khi Tôn Đà Lỵ đến
tu viện của họ, chẳng ai nói với cô một lời. Cô hỏi đến hai, ba lần mà họ vẫn
lặng thinh. Cô bèn hỏi:
- Thưa các vị, có ai
đã gây tổn thương các vị?
- Chị không thấy Sa
môn Cồ Đàm đã làm thiệt hại chúng ta, tước đoạt mọi lợi lộc, danh tiếng, mà
chúng ta có từ trước?
- Con có thể làm gì
đây?
- Chị có nhan sắc
tuyệt vời, khả ái, hãy làm mất danh dự Sa môn Cồ Đàm, hãy khiến dân chúng đồn
đại không tốt và làm mất thanh danh quyền lợi của ông ấy.
- Ðược thôi.
Tôn Đà Lỵ chấp nhận.
Sau đó, mỗi buổi
chiều, khi dân chúng đi nghe pháp trở về thành, họ lại thấy Tôn Đà Lỵ trang
điểm lộng lẫy đi về hướng Kỳ Viên, với hương hoa, dầu thơm, kem, phấn, long
não, trái cây. Và khi họ hỏi:
- Cô đi đâu?
Cô trả lời:
- Ðến chỗ Ngài Cồ
Đàm, tôi có thói quen ở lại một mình trong hương thất suốt đêm.
Và sau đó, cô đến một
tu viện ngoại đạo ở lại. Sáng hôm sau, lại ngược đường trở về thành. Nếu có ai
hỏi:
- Tôn Đà Lỵ, cô đi
đâu thế?
Cô ta trả lời:
- Tôi đã ở lại đêm
trong hương thất của Cồ Đàm, chỉ một mình và bây giờ trở về.
Vài ngày sau, nhóm
ngoại đạo đưa tiền cho một số du đãng và bảo:
- Hãy giết Tôn Đà Lỵ,
rồi ném thi hài cô ta nơi đống rác gần hương thất của Cồ Đàm.
Bọn du đãng làm theo
mệnh lệnh. Và các ngoại đạo bắt đầu rêu rao:
- Tôn Đà Lỵ bị mất
tích.
Họ tâu sự việc lên nhà
vua. Vua hỏi:
- Các người có nghi
ngờ ai không?
- Vài ngày trước, cô
ta hãy còn ở đêm tại Tinh xá Kỳ Viên, từ đó xảy ra chuyện gì, chúng tôi không
biết.
- Như thế, hãy đi
tìm.
Ðược lệnh nhà vua, họ
tập hợp đồ đệ kéo vào Kỳ Viên lục lọi, và thấy thi hài Tôn Đà Lỵ nằm ở đống rác
trong Tinh xá. Họ khiêng tử thi về thành, tâu lên nhà vua:
- Ðám đệ tử của Sa
môn Cồ Đàm đã tự nhủ: "Chúng ta sẽ che đậy được việc xấu Thế Tôn đã làm.”
Do đó họ giết Tôn Đà Lỵ và vất thi thể vào đống rác.
Vua phán:
- Hãy báo cho dân
chúng biết.
Các ngoại đạo đi rêu
rao khắp thành:
- Hãy nhìn xem hành
động của đám Sa môn đệ tử dòng họ Thích.
Với những câu phỉ
báng tương tự, họ truyền tín khắp thành, rồi trở về cung vua. Nhà vua ra lệnh
đặt thi hài Tôn Đà Lỵ trên đất hỏa thiêu, cắt người canh gác. Phần đông dân cư
thành Xá Vệ, trừ các Thánh đệ tử, đều la ó:
- Coi kìa, đám đệ tử
dòng họ Thích đã làm nên chuyện này.
Trong thành, ngoài
thành, trong rừng, trong xóm, họ đều chửi mắng các Sa môn. Các Thầy đến bạch
Phật, Phật dạy:
- Các ông chê trách
họ làm gì. Ngài nói kệ:
(306) Nói láo, đọa
Địa ngục,
Có làm nói không làm,
Cả hai chết đồng
đẳng,
Làm người, nghiệp hạ
liệt.
Nhà vua ngầm cho thám
tử điều tra về cái chết của Tôn Đà Lỵ. Khi ấy, bọn du đãng nhận tiền rồi nhậu
nhẹt say sưa, gây gổ. Chúng lảm nhảm với nhau:
- Mầy đã giết Tôn Đà
Lỵ, mầy ném xác ả vào đống rác. Mầy được tiền nhiều tha hồ uống. Ðược lắm! Ðược
lắm!
Thám tử liền trói họ,
giải đến trước vua. Vua hỏi:
- Các người giết Tôn
Đà Lỵ?
- Tâu vâng.
- Ai mướn các người?
- Các Thầy ngoại đạo.
Nhà vua cho đòi các
ngoại đạo đến, bắt phải rao lên trong thành như sau:
- Chúng ta giết Tôn
Đà Lỵ vì muốn hạ nhục Sa môn Cồ Đàm. Sa môn và đệ tử không có lỗi gì.
Họ phải thi hành lệnh
trên, đám đông dân chúng ngờ nghệch lại nghe theo. Các ngoại đạo bị trừng phạt
nặng nề, và từ đó, danh dự của Phật lại tăng thêm.
2. Con Quỷ Xương Khô
Nhiều người khoác cà
sa...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Trúc Lâm, liên hệ đến những chúng sanh bị quả báo xấu do ác
nghiệp.
Một ngày nọ, khi
xuống núi với Trưởng lão Lakkhana, Tôn giả Mục Kiền Liên nhìn thấy những con
quỷ hình thù chỉ có bộ xương khô, Ngài bèn mỉm cười. Khi được hỏi, Tôn giả chỉ
bảo:
- Này huynh, chớ hỏi
điều ấy ở đây. Khi nào đến trước đức Thế Tôn chúng ta sẽ thảo luận.
Và khi về đến Tinh xá,
trước đức Phật, Trưởng lão Lakkhana hỏi lại chuyện ấy. Tôn giả Mục Kiền Liên
trả lời rằng Ngài thấy những con quỷ xương khô. Ngài còn kể tiếp:
- Khi tôi xuống núi,
tôi còn thấy một Sa môn bay qua toàn thân bốc cháy.
Và còn thêm vài lần,
Tôn giả thấy những con quỷ hình dáng Sa môn với y bát, tất cả đều bốc cháy.
Nhân đó, thời Phật dạy các Tỳ kheo rằng: "Những Tu sĩ ấy, thời Phật Ca
Diếp đã xuất gia nhưng không làm tròn bổn phận của mình.”
Ngài nhấn mạnh đến
quả báo ác nghiệp cho các Tỳ kheo đáng hiện diện được rõ, và nói kệ:
(307) Nhiều người
khoác áo cà sa,
Ác hạnh không nhiếp
phục.
Người ác, do ác hạnh,
Phải sanh cõi Địa
ngục.
3. Xảo Thuật Tìm Thức Ăn
Tốt hơn nuốt hòn
sắt...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở Tinh xá Ðại Lâm (Mahàvana) gần thành Tỳ Xá Ly, liên hệ đến các Tỳ
kheo Vaggumudàtiriya.
Các Tỳ kheo
Vaggumudàtiriya thường khen ngợi lẫn nhau rằng người này chứng quả, người kia
chứng quả khi có mặt Cư sĩ, để họ dâng cúng thức ăn ngon. Ðức Phật biết chuyện,
bèn hỏi các Thầy:
- Này các ông! Có
thật phải là chỉ vì cái bao tử mà các ông ca tụng lẫn nhau trước mặt Cư sĩ để
họ dâng cúng thức ăn ngon?
- Thưa vâng, bạch Thế
Tôn!
Phật bèn quở trách
các Thầy, và nói kệ:
(308) Tốt hơn nuốt
hòn sắt,
Cháy đỏ như lửa bừng,
Hơn ác giới, buông
lung,
Ăn đồ ăn quốc độ.
4. Kẻ Ðào Hoa
Bốn nạn chờ đợi
người...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến Khema, con trai Trưởng giả, cháu Cấp Cô
Ðộc.
Khema là một chàng
trai tuấn tú khôi ngô. Các bà các cô khi gặp mặt chàng đều yêu mến mê mệt.
Khema thì lại đeo đuổi vợ người. Một đêm nọ, người của nhà vua bắt chàng ta,
giải đến trước mặt vua. Nhà vua cảm thấy ái ngại thay cho danh tiếng của Trưởng
giả nên không nói gì, thả chàng ra. Khema vẫn cứ chứng nào tật nấy.
Lần thứ hai, lần thứ
ba, chàng vẫn bị bắt, và nhà vua cũng trả tự do cho. Chuyện đến tai Trưởng giả,
ông đem con đến gặp đức Thế Tôn, trình bày câu chuyện và bạch:
- Xin đức Thế Tôn
giảng dạy cho nó.
Ðức Phật khơi dậy
lương tri của Khema và chỉ cho chàng Thầy lỗi lầm khi theo đuổi vợ người bằng
Pháp Cú:
(309) Bốn nạn chờ đợi
người,
Phóng dật theo vợ
người,
Mắc họa, ngủ không
yên,
Bị chê là thứ ba,
Ðọa Địa ngục, thứ
bốn.
(310) Mang họa, đọa
ác thú,
Bị hoảng sợ, ít vui,
Quốc vương phạt trọng
hình,
Vậy chớ theo vợ
người.
Chuyện quá khứ:
A. Lời Nguyền Của
Khema
Thời đức Phật Ca
Diếp, Khema là một tay đô vật quán quân, ngày kia chàng treo hai cây cờ giải
thưởng của mình bên ngôi tháp vàng của đức Phật, và nguyện: "Xin cho tất
cả mọi phụ nữ, trừ các nữ nhân thân quyến và bà con ruột thịt của tôi, khi nhìn
thấy tôi đều say mê.” Vì thế, dù tái sanh ở đâu, chàng cũng được tất cả các bà
yêu mến.
5. Thầy Sa Môn Tự Phụ
Như cỏ sa vụng nắm...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến một Thầy Tỳ kheo tự phụ.
Chuyện kể rằng, có
một vị Tỳ kheo lỡ tay làm đứt một cọng cỏ. Lương tâm Thầy áy náy bèn tìm đến
một huynh đệ, thuật lại câu chuyện và hỏi:
- Thưa huynh, Tỳ kheo
làm đứt cỏ, có sao không?
Thầy kia trả lời:
- Ðừng quan trọng khi
cho rằng làm đứt cỏ cây sẽ bị hậu quả. Chỉ cần xưng tội ra là được khỏi tội
thôi.
Nói xong, Thầy nhổ
luôn một bụi cỏ, vứt đi. Các Tỳ kheo đến bạch Phật. Phật quở trách Thầy Tỳ kheo
tự phụ nặng nề, và nói Pháp Cú:
(311) Như cỏ Sa
(Kusa) vụng nắm,
Tất bị họa đứt tay.
Hạnh Sa môn tà vạy,
Tất bị đọa Địa ngục.
(312) Sống phóng đãng
buông lung,
Theo giới cấm ô
nhiễm,
Sống Phạm hạnh đáng
nghi,
Sao chứng được quả
lớn.
(313) Cần phải làm,
nên làm,
Làm cùng tận khả
năng.
Xuất gia sống phóng
đãng,
Chỉ tăng loạn bụi
đời.
6. Người Vợ Ghen Tuông
Ác hạnh không nên
làm...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến một bà vợ ghen.
Một ông chồng dan díu
với một nữ tỳ giúp việc nhà. Vợ ông biết được, bèn trói người nữ tỳ, cắt tai,
cắt mũi, nhốt vào phòng kín đóng cửa lại. Ðể che giấu tội ác, bà rủ chồng đi
nghe pháp. Hai vợ chồng đến Tinh xá, ngồi vào hội chúng. Khi ấy, có vài người
bà con bên vợ đến nhà thăm. Họ mở cửa, chứng kiến cảnh tàn nhẫn trong nhà, bèn
mở trói cho cô tớ gái. Cô này đến Tinh xá, tố cáo mọi việc với Phật và Tăng
chúng. Nghe xong, Phật dạy:
- Không nên làm việc
ác dù nhỏ, nghĩ rằng chẳng ai biết. Với việc lành, dù không người biết vẫn nên
làm. Hành động ác dù che giấu ân hận về sau. Còn hành động tốt sẽ khiến ta an
vui.
Ngài nói kệ:
(314) Ác hạnh, không
nên làm,
Làm xong chịu khổ
lụy,
Thiện hạnh, ắt nên
làm,
Làm xong, không ăn
năn.
Cuối bài pháp, hai vợ
chồng chứng quả Dự lưu. Họ trả tự do cho cô tớ gái và hướng dẫn cô theo chánh
pháp.
7. Tự Canh Phòng Như Giữ Thành
Như thành ở biên
thùy...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan tới một số Tỳ kheo.
Một số các Tỳ kheo
đến an cư ở một thị trấn biên giới. Tháng đầu trôi qua hết sức an ổn. Nhưng
tháng thứ hai, bọn trộm cướp tấn công thị trấn và bắt một số người làm con tin.
Từ lúc ấy, mọi người phải bận rộn phòng thủ, chống lại trộm cướp, và không còn
thì giờ chăm sóc đến thức ăn vật dụng cho các Thầy. Các Thầy trải qua những
tháng thật bất an.
An cư xong, các Thầy
trở về Tinh xá Kỳ Viên, đảnh lễ Phật, lui ngồi một bên. Ðức Phật hỏi thăm thân
mật:
- Các ông có được an
ổn không?
- Bạch Thế Tôn, tháng
đầu thật an ổn. Nhưng những tháng sau trộm cướp hoành hành, dân chúng chẳng còn
thì giờ đâu lo lắng cho chúng con. Thời gian đó thật khốn đốn.
Phật dạy:
- Không sao. Các ông
đừng phiền muộn. Không dễ gì lúc nào cũng tìm được nơi an cư hoàn toàn như ý.
Nhưng hãy như dân cư phòng thủ trị trấn của họ, mỗi Thầy Tỳ kheo phải tự canh
phòng mình.
Ngài nói kệ:
(315) Như thành ở
biên thùy,
Trong ngoài đều phòng
hộ,
Cũng vậy, phòng hộ
mình,
Sát na chớ buông
lung,
Giây phút qua, sầu
muộn,
Khi rơi vào Địa ngục.
8. Các Ðạo Sĩ Lõa Thể
Không đáng hổ lại
hổ...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến các đạo sĩ phái Kỳ Na, lõa hình ngoại
đạo Ni Kiền Tử. Một hôm các Thầy Tỳ kheo nhìn thấy các đạo sĩ phái Ni Kiền Tử,
đã bàn tán với nhau.
- Này chư huynh, các
Ni Kiền Tử này dễ nhìn hơn các đạo sĩ phái Acelaka (Lộ già na). Mấy ông kia
hoàn toàn trần trụi, còn ác Ni Kiền Tử này ít ra cũng có một tí vải che thân,
nhìn đỡ xấu hổ.
Các Ni Kiền Tử nghe
chuyện đã nói:
- Không phải vì xấu
hổ mà chúng tôi che thân. Chỉ vì bụi đất cũng là những hữu tình chúng sanh có
sự sống, vì sợ chúng rơi vào thức ăn mà chúng tôi mang một mảnh vải.
Các Thầy Tỳ kheo, một
số đồng ý với lý do trên, số khác không đồng ý, cứ bàn tán mãi. Sau cùng, tất
cả đi đến chỗ Phật, thưa ra câu chuyện, Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
người nào hổ thẹn khi không đáng hổ thẹn, và không cảm thấy hổ thẹn khi cần
phải hổ thẹn, sẽ chịu khổ về sau.
Ngài nói kệ:
(316) Không đáng hổ,
lại hổ,
Việc đáng hổ, lại
không,
Do chấp nhận tà kiến,
Chúng sanh đi ác thú.
(317) Không đáng sợ,
lại sợ,
Ðáng sợ, lại thấy
không,
Do chấp nhận tà kiến,
Chúng sanh đi ác thú.
9. Trẻ Con Quy Y Phật
Không lỗi, lại thấy
lỗi...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến một số Cư sĩ ngoại đạo.
Có một đám trẻ chơi
chung với nhau, con nhà ngoại đạo và con các Phật tử. Khi các trẻ em ngoại đạo
về nhà, cha mẹ chúng cấm không cho chào hỏi các Sa môn đệ tử Phật và không được
vào Tinh xá. Họ bắt chúng phải giữ lời thề. Và sang ngày khác, khi bọn trẻ chơi
đùa gần Tinh xá Kỳ Viên, chúng bị khát nước. Các trẻ con ngoại đạo phải nhờ một
bạn Phật tử vào Tinh xá xin nước uống. Em này vào Tinh xá, gặp đức Thế Tôn và
kể lại câu chuyện cho Ngài nghe
Phật dạy:
- Uống nước xong, các
em ra kêu các bạn vào đây uống.
Tất cả bọn vào gặp
Phật. Ngài kể cho các em nghe một câu chuyện dễ hiểu, giảng pháp, khiến các em
có niềm tin vững mạnh rồi khiến các em quy y và giữ giới. Các trẻ em ngoại đạo
về nhà, kể lại chuyện ba má. Họ giận dữ, khóc lóc rên rỉ:
- Con chúng ta đã
theo Thầy tà.
Khi ấy, một vài người
láng giềng có Trí tuệ ở gần đó, sang an ủi họ, giảng giải cho họ nghe. Chừng
đó, họ nhận thấy Phật pháp lợi ích bèn quyết định:
- Chúng ta chỉ cho
các con đi theo sự hướng dẫn của Ngài Cồ Đàm.
Với bà con dòng họ
đông đảo, họ đưa nhau đến Tinh xá lễ Phật, nghe pháp. Phật quan sát tâm tư của
họ bèn giảng kệ:
(318) Không lỗi, lại
thấy lỗi,
Có lỗi lại thấy
không,
Do chấp nhận tà kiến,
Chúng sanh đi ác thú.
(319) Có lỗi, biết có
lỗi,
Không lỗi, biết là
không,
Do chấp nhận chánh
kiến,
Chúng sanh đi cõi
lành.
PHẨM XXIII: VOI
1. Phật Bị Lăng Nhục
Ta như voi giữa
trận...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở Kỳ Viên, trong trường hợp của chính Ngài.
Trong truyện tích
Pháp Cú (179) đã đề cập đến trường hợp Màgandiyà bị Phật từ chối, và cô bị chạm
tự ái nặng. Khi trở thành Hoàng hậu, nàng quyết tâm trả thù Phật. Nàng tung
tiền mướn cư dân thành, bảo họ rằng:
- Khi Sa môn Cồ Đàm
đến đây khất thực, các ngươi hãy tụ tập những người hạ tiện đi theo chửi mắng
ông ta, đuổi ông ta đi.
Khi đức Phật và A Nan
đi đến thành, dân cư không tin Tam bảo đã đi theo Ngài, la hét.
- Ông là kẻ giặc
cướp, ngu dốt, khùng, ông là lạc đà, bò, lừa, quỷ ở Địa ngục, là súc sanh,
không có hy vọng được cứu rồi, ông chỉ có nước chờ bị đọa thôi...
Như vậy, họ dùng mười
cách mắng chửi để mắng chửi Phật. Nghe các câu mạ nhục, Tôn giả A Nan bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, dân
cư nơi này chửi mắng chúng ta, xin hãy đi nơi khác.
- Chúng ta sẽ đi đâu,
A Nan?
- Ði đến thành phố
khác, bạch Thế Tôn.
- Nếu như dân ở thành
phố đó cũng chửi mắng ta?
- Thì chúng ta lại đi
đến thành phố khác, bạch Thế Tôn.
- Nếu như đến nơi kia
cũng bị mắng chửi?
- Ði đến chỗ khác
nữa, bạch Thế Tôn.
- Này A Nan!
Chúng ta không nên làm như thế. Bất cứ nơi nào có rắc rối, phiền não nổi lên,
chúng ta nên ở lại đó cho đến khi chúng lắng dịu hẳn, và chỉ khi đó chúng ta
mới nên đi nơi khác. Nhưng ai đã chửi mắng chúng ta?
- Bạch Thế Tôn, những
kẻ hạ tiện, nô tỳ, tất cả đều chửi mắng.
- Này A Nan! Ta
như con voi đã ra trận. Và như con voi giữa trận hứng chịu tên bay từ bốn phía,
bổn phận ta phải nhẫn nại nghe những lời ác độc thốt ra.
Và Ngài lấy mình làm
tiêu đề giảng pháp với các câu:
(320) Ta như voi giữa
trận,
Hứng chịu cung tên
rơi,
Chịu đựng mọi phỉ
báng,
Ác giới rất nhiều
người.
(321) Voi luyện, đưa
dự hội,
Ngựa luyện, được vua
cưỡi,
Người luyện, bậc tối
thượng,
Chịu đựng mọi phỉ
báng.
(322) Tốt thay, con
la thuần,
Thuần chủng loài ngựa
Sindh [- ]
Ðại tượng, voi có
ngà,
Tự điều mới tối
thượng.
[- ] loài ngựa đẹp ở
vùng sông Sindha, Ấn Ðộ
Nghe xong, quần chúng
ở hai bên đường, ở ngã ba, ngã tư, những kẻ ăn tiền chửi mướn Phật đều chứng từ
Sơ quả đến Tam quả.
2. Thầy Sa Môn Luyện Voi
Chẳng phải loài cưỡi
ấy...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên hệ đến một Tỳ kheo từng là quản tượng.
Một ngày nọ, một vị
Tỳ kheo trước kia từng là quản tượng, đứng bên bờ sông Acirvatì thấy một người
quản tượng đang cố gắng huấn luyện một con voi. Thấy người ấy không đạt kết
quả, Thầy muốn mách nước, bèn nói với các Thầy Tỳ kheo đứng gần:
- Nếu đánh con voi ở
chỗ này, chỗ này... nó sẽ nghe lời ngay thôi.
Người quản tượng nghe
được, làm theo lời, và chẳng bao lâu con voi tuân theo ý ông...
Các Tỳ kheo bạch Phật
câu chuyện. Phật cho gọi Thầy Tỳ kheo ấy lên hỏi:
- Có phải thật ông
nói như thế?
- Bạch Thế Tôn, vâng!
Phật quở:
- Ngươi vô tích sự,
ngươi thi thố tài nghệ với người luyện voi, luyện thú để làm gì? Không phải leo
lên lưng những con thú đó là có thể đi đến nơi muốn đến mà chưa đến được. Chỉ
có trong sự tự huấn luyện bản thân mới có thể đến được nơi khó đến. Từ đây
ngươi hãy tự điều phục chính mình, đừng làm trò huấn luyện thú như thế nữa:
Ngài nói kệ:
(323) Chẳng phải loài
cưỡi ấy,
Ðưa người đến Niết
bàn,
Chỉ có người tự điều,
Ðến đích, nhờ điều
phục.
3. Lão Bà La Môn Và Các Con
Con voi tên Tài Hộ...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở Xá Vệ, trong trường hợp một Bà la môn già bị các con hất hủi.
Tại thành Xá Vệ, một
Bà- là- môn có bốn người con trai và gia tài tám trăm ngàn đồng tiền vàng. Khi
các con đến tuổi trưởng thành, ông cưới vợ cho chúng và cho mỗi đứa một trăm
ngàn tiền vàng. Sau đó, vợ ông chết, các người con họp nhau lại bàn tán:
- Nếu cha ta cưới vợ
khác, gia tài sẽ bị chia cho mấy đứa con sau và không còn gì cả. Chi bằng chúng
ta săn sóc ông già để hưởng gia tài của ông.
Chúng bu quanh hầu hạ
ông chu đáo, lo thức ăn ngon, quần áo đẹp, tắm rửa cho ông, mọi bổn phận đều
làm tròn.
Một ngày nọ, chúng
đến hầu thấy ông vẫn còn ngủ. Ngay khi ông thức giấc, chúng rửa tay chân cho
ông, và nói về sự bất lợi của một gia đình chia hai dòng con. Chúng hứa:
- Chúng con sẽ săn
sóc cha cho tới khi cha chết, cha hãy chia cho chúng con số tiền còn lại.
Ông già chiều theo
lời yêu cầu, chia luôn bốn trăm ngàn tiền còn lại làm bốn phần, cho mỗi đứa một
phần, riêng ông chẳng còn gì, ngoài bộ quần áo dính da.
Vài ngày đầu, đứa con
trưởng hầu hạ ông. Một hôm, khi ông đến nhà người này như thường lệ, mụ con dâu
đứng ở cửa vừa gặp ông liền nói:
- Ông có cho thêm con
trai ông một trăm hay một ngàn đồng không? Rõ ràng ông cho mỗi con trai ông hai
trăm ngàn đồng mà. Ông không biết đường đi tới nhà mấy ông con kia à?
Ông Bà la môn giận
dữ, mắng:
- Im đi, con đàn bà
đê tiện.
Ông đến nhà đứa con
thứ hai. Nhưng chỉ vài hôm, ông lại bị đuổi ra khỏi nhà theo cách của đứa thứ
nhất, và cảnh ấy cũng diễn ra ở tại nhà đứa út. Rốt cuộc ông không có nhà để
nương thân.
Do đó, ông từ bỏ đời
thế gian, đi tu theo giáo đoàn Pandaranga, xin ăn từ nhà này sang nhà khác.
Theo thời gian, ông trở nên gầy ốm vì tuổi già, thân thể suy sụp vì thức ăn tồi
tệ và chỗ ngủ không đủ ấm. Một ngày nọ, sau khi đi xin ăn về, ông nằm dài tại
chỗ và ngủ thiếp đi. Mở mắt ra ông mệt mỏi nhìn quanh chẳng thấy có đứa con nào
để nhờ cậy. Ông nghĩ thầm: "Họ nói rằng Sa môn Cồ Đàm có một dáng dấp từ
hòa, vẻ mặt chân thật cởi mở, rằng thái độ của Ngài hoan hỷ, rằng Ngài tiếp
khách lạ với tất cả vẻ thân thiện. Có lẽ ta nên đến với Sa môn Cồ Đàm, để được
tiếp đãi ấm áp.”
Ông khoác áo, ôm bát,
chống gậy đi đến chỗ Thế Tôn. Ðến nơi ông ngồi qua một bên thật cung kính. Ðức
Thế Tôn chào đón ông vui vẻ và hỏi:
- Này Bà la môn, vì
sao ông đến nơi này với vẻ tiều tụy, áo rách tả tơi thế kia?
- Thưa Cồ Đàm, tôi có
bốn đứa con trai, nhưng chúng bị mê hoặc bởi mấy con vợ, rồi đuổi tôi ra khỏi nhà.
- Ðược rồi, ông hãy
học thuộc bài kệ này. Và khi mọi người và các con ông đến nhà họp, ông đọc lên
trước chúng.
Ngài dạy:
Chúng là những đứa
con khi sanh ra tôi vui mừng, mong mỏi.
Vậy mà chúng nghe lời
vợ xúi giục, đuổi tôi như xua chó.
Chúng gọi tôi
"Cha thân yêu!.." thật ác độc và rỗng tuếch.
Quỷ đội lốt con trai,
chúng bỏ rơi tôi khi tuổi già, như bỏ đói con ngựa già vô dụng.
Làm cha một lũ ngu,
phải xin ăn lang thang từng nhà.
Một cây gậy còn tốt
hơn lũ con bất hiếu.
Gậy còn đuổi được bò
rừng chó dữ.
Gậy dẫn đường trong
đêm tối, đỡ chân qua vũng nước bùn lầy.
Ông Bà la môn học
thuộc lòng bài dạy trên.
Một ngày nọ, dòng Bà
la môn họp mặt, các con trai ông cũng đến họp. Chúng ăn mặc sang trọng, trang
sức quí giá và ngồi vào chỗ danh dự giữa những người Bà la môn. Ông già nhủ
thầm: "Ðây là cơ hội tốt cho ta.” Ông đi vào phòng họp, giữa mọi người ông
đưa tay lên nói:
- Tôi muốn đọc một
bài thơ, xin các Ngài hãy nghe cho.
- Ông đọc đi, chúng
tôi nghe.
Ông đứng giữa hội
chúng, đọc lên bài kệ đức Phật dạy.
Luật pháp thời ấy ấn
định rằng: "Nếu người nào hưởng gia tài của cha mẹ, mà không nuôi dưỡng
cha mẹ, sẽ bị tử hình.” Các con ông đã hoảng sợ, quỳ xuống dưới chân ông van
xin:
- Cha ơi! Xin cứu
chúng con.
Trái tim người cha
mềm yếu, ông bèn bảo lãnh cho chúng.
- Xin các vị đừng xử
tội chúng. Chúng sẽ nuôi nấng tôi.
Hội chúng hăm đám con
ông:
- Từ nay, nếu các anh
không săn sóc ông cụ tử tế, chúng tôi sẽ đưa ra pháp luật đấy.
Bốn người con trai
hoảng sợ, vội khiêng ông cụ về nhà, tắm rửa kỳ cọ, xoa dầu, bôi kem, ướp
phấn... cho ông cụ, rồi gọi vợ đến bảo:
- Từ nay bổn phận của
các bà phải săn sóc cha cho chu đáo. Nếu thiếu sót coi chừng ăn đòn.
Chúng dọn thức ăn
thượng vị cho ông.
Từ đó được bồi dưỡng,
nghỉ ngơi êm ấm tiện nghi, ông cụ phục hồi sức khỏe, thân thể tươi tốt. Ông tự
nhủ: "Ta được như vầy là nhờ Sa môn Cồ Đàm.” Ông bèn chọn một cặp vải tốt,
đi đến chỗ đức Phật, chào Ngài và lui ngồi một bên, đặt vải dưới chân Phật,
thưa:
- Kính bạch Cồ Đàm,
dòng Bà la môn chúng tôi mong ước rằng một vị Thầy nhận lễ vật, xin đức Cồ Đàm
tôn kính là Thầy của tôi, nhận lễ vật này.
Phật nhận xấp vải, và
giảng pháp cho ông cụ nghe. Nghe xong, ông quy y Phật và thưa:
- Bạch Cồ Đàm, các
con tôi thường cung cấp cho tôi một ngày bốn bữa ăn, tôi xin cúng dường Ngài
hai bữa.
- Rất tốt đó ông lão,
nhưng chúng ta chỉ đi đến nhà nào được chọn.
Ông cụ về nhà bảo các
con:
- Này các con, Sa môn
Cồ Đàm là bạn của ta, ta dâng Ngài hai bữa ăn. Khi Ngài đến hãy tiếp đãi đừng
thiếu sót.
Các con đều hứa nghe
lời. Ngày hôm sau, đức Phật đi khất thực, Ngài đứng trước cửa nhà của người con
trưởng. Người này vội đỡ lấy bình bát của Ngài, mời vào nhà, soạn ghế nệm gấm
thỉnh Phật ngồi, và cúng dường thức ăn thượng vị. Những ngày sau, đức Thế Tôn
đến các người con kế, họ đều tiếp đón Ngài nồng hậu.
Ngày nọ sắp đến lễ
hội, người con trưởng hỏi ông:
- Thưa cha, ai là ân
nhân danh dự của chúng ta?
- Chỉ có Sa môn Cồ
Đàm thôi, không ai khác.
- Như thế, ngày mai
xin mời Ngài và năm trăm vị Sa môn.
Ông cụ thỉnh Phật và
năm trăm Tăng chúng. Ngày hôm sau, Phật cùng chúng Tăng đến nhà ông. Ngôi nhà
trang hoàng theo nghi thức lễ hội, ông Bà la môn dọn chỗ ngồi cho Phật và chúng
Tăng, dâng cúng các thức ăn thượng vị loại cứng, loại mềm. Bốn người con ngồi
trước Phật, bạch rằng:
- Thưa Ngài Cồ Đàm,
chúng tôi săn sóc ông già chu đáo, không dám lơ là. Ngài hãy nhìn ông cụ xem.
Phật dạy:
- Các ngươi làm như
thế tốt lắm. Người khôn ngoan bao giờ cũng nuôi dưỡng cha mẹ chu đáo.
Ngài nói kệ:
(324) Con voi tên Tài
Hộ,
Phát dục, khó điều
phục,
Trói buộc không ăn
uống,
Voi nhớ đến rừng voi.
Ðức Phật kể chuyện
con voi Tài Hộ (Dhanapàla) dù được vua săn sóc, cho ăn ngon, ở nơi đẹp, vẫn nhớ
mẹ nơi rừng voi. Không chịu ăn uống vì nghĩ đến bổn phận làm con đối với cha
mẹ. Nghe xong, mấy người con đều rơi lệ. Ðức Phật biết rằng họ đã thấm nhuần
bèn giảng pháp. Cuối cùng, cả ông cụ, các con trai, con dâu, đều chứng Sơ quả.
4. Ăn Uống Ðiều Ðộ
Người ưa ngủ, ăn
lớn...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, liên quan đến vua Ba Tư Nặc.
Có một lúc, vua Ba Tư
Nặc thường ăn rất nhiều cơm nấu với cà ri, nước sốt gia vị. Ngày kia, sau bữa
điểm tâm dồi dào quá độ, cơ thể và tâm tư ngầy ngật, nhà vua đến chỗ Phật, đi
tới đi lui trước mặt Ngài với vẻ thật mệt mỏi. Nhà vua chỉ muốn nằm lăn ra ngủ
mà không được nên đến ngồi xuống một bên Phật. Ðức Phật thấy thế bèn hỏi:
- Ðại vương, trước
khi đến đây Ngài chưa được ngủ nghĩ chăng?
- Bạch Thế Tôn, không
phải. Con luôn khó chịu sau khi ăn no.
- Này Ðại vương! Ăn
uống vô độ thường đưa đến sự mệt mỏi.
Ngài nói kệ:
(325) Người ưa ngủ,
ăn lớn,
Nằm lăn lóc qua lại,
Chẳng khác heo no
bụng,
Kẻ ngu nhập thai mãi.
Muốn giúp nhà vua,
Phật dạy thêm:
Người khôn ăn uống
vừa chừng
Thân tâm nhẹ nhỏm,
lâu già, sống vui.
Phật bảo Hoàng tử
Uttara (Uất Đà):
- Con hãy học thuộc
bài kệ này, và mỗi khi nhà vua ngự yến, con đọc lên theo cách sau và nhà vua sẽ
tự ngừng.
Xong, đức Phật bày
cho Hoàng tử cách làm. Hoàng tử tuân theo lời Phật dạy. Và sau một thời gian
nhà vua ăn uống nhỏ nhẹ, giảm bớt trọng lượng và trở nên dễ chịu. Nhà vua
thường xuyên đến thăm Phật, tổ chức lễ hội dâng cúng phẩm vật tối thắng trong
bảy ngày. Khi đức Thế Tôn nói lên lời hồi hướng, cả hội chúng triều đình đều
được ích lợi lớn.
5. Chú Tiểu Và Dạ Xoa
Trước tâm này buông
lung...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan tới chú tiểu Sànu.
Sànu là con trai duy
nhất của một gia đình mộ đạo, chú được nhận vào Tăng đoàn khi còn rất bé. Hồi
ấy chú rất nhiệt tâm và đạo hạnh. Chú làm tròn bổn phận một cách trung hậu với
Thầy Tế độ, với Giáo thọ và các khách tăng. Mỗi tháng, vào ngày mùng 8, chú dậy
sớm, xách nước đổ đầy các chum vại, quét dọn giảng đường, lau chùi bàn ghế,
thắp đèn, và dùng tiếng trong thanh kêu gọi thiện tín đến nghe pháp.
Các Thầy Tỳ kheo thấy
chú ngoan ngoãn và cần mẫn, lại thích thú giọng chú đọc tụng kinh nên thường
yêu cầu chú tụng đọc. Chú không bao giờ từ chối, nói rằng: "Con mệt tim...
" hay "Con nhức mình... " hay tỏ ra miễn cưỡng tuân lời. Chú
ngồi trên ghế, cao tiếng tụng đọc như dòng hải triều tuôn từ cõi chư thiên. Mỗi
khi tụng đọc xong, chú tụt xuốnng ghế và hồi hướng: "Tất cả phước báo do
việc tụng đọc kinh này, xin hồi hướng cho cha mẹ tôi.”
Song thân hiện tại
chú không biết gì về sự hồi hướng ấy, nhưng bà mẹ kiếp trước của chú, tái sanh
làm quỷ Dạ xoa. Bà thường cùng đến nghe kinh với các vị thần. Và bà nói:
"Con yêu quí, ta cảm tạ sự hồi hướng của con.” Thường có câu: "Một vị
Sa môn giữ giới trong sạch được trời và người quý mến.” Vì thế, chư thiên kính
trọng chú Sa di, xem ngang bằng trời Ðại Phạm, hoặc như ngọn đuốc sáng. Cũng
thế, họ tôn kính và ca ngợi bà Dạ xoa, mẹ kiếp trước của chú. Khi các Dạ xoa
hợp đến nghe kinh, bà được ngồi ghế thứ nhất, uống nước trước nhất, có thức ăn
trước nhất. Ngay cả các Dạ xoa đầy uy lực, cũng nhường bước và nhường chỗ ngồi
cho bà.
Khi Sànu đến tuổi
trưởng thành, tâm sinh lý chú phát tirển, chú trở nên lười chán. Và không tự
thắng được chính mình, ngày kia, chú không nói với ai, để râu tóc mọc dài, y áo
nhớp nhúa, chú mang y bát trở về nhà. Bà nữ thí chủ thấy con trở về, bà chào chú:
- Ủa này con, lúc
trước con thường về nhà với Thầy con hoặc một sư huynh hay vài Sa di nhỏ, sao
hôm nay con về một mình?
Chú bày tỏ với mẹ nỗi
khổ về sự bất mãn của mình. Nữ Cư sĩ là người mộ đạo, giảng giải cho chú những
bất lợi của cuộc sống thế tục, nhưng chú không nghe. Rốt cuộc, mẹ chú nghĩ
thầm: "Có lẽ không cần sự khuyên bảo của ta, chú ấy sẽ nghĩ lại.” Bà nói:
- Thôi con ngồi đây,
đợi mẹ làm cơm cho con ăn. Ăn xong, mẹ đem áo quần tốt ra cho con mặc.
Bà lo sắp chỗ ngồi,
đem bánh trái ra thết đãi chú, và dọn bánh xèo, rồi mới lo nấu cơm. Bà ngồi vo
gạo cách đấy không xa.
Lúc ấy, bà Dạ xoa tự
hỏi: "Chú Sa di đi đâu? Chú có khất thực được không?” Bà quan sát thấy chú
muốn hoàn tục, đang trở về ngồi tại nhà mẹ ruột.
Bà nghĩ: "Nếu ta
khuất phục được chú Sa di, ta sẽ được chư thiên kính trọng. Ta sẽ ngăn cản chú
ấy.” Lập tức bà nhập vào chú, khống chế tay chân, vặn cổ chú và xô té xuống
đất, chú Sa di mắt trợn ngược, sùi bọt mép, giãy giụa. Bà mẹ đang vo gạo, thấy
thế vội ẵm chú lên, mọi người chung quanh chạy đến, mang đồ cấp cứu.
Bà mẹ khóc, đọc bài
kệ:
Tôi nghe chư A la hán
Dạy: "Người mỗi
nửa tháng
Giữ giới Bát quan
trai
Và giới Bố tát ngày
Mồng tám, rằm, mười
bốn
Giữ phạm hạnh như thế
Dạ xoa không xâm
hại"
Nhưng hôm nay tôi lại
Thấy họ phá Sànu.
Quỷ Dạ xoa nghe bà
đọc bài kệ, bèn đáp:
Chư A la hán nói
trúng
Ai cứ mỗi nửa tháng
Giữ giới Bát quan
trai
Và giới Bố tát ngày
Mồng tám, rằm, mười
bốn
Giữ phạm hạnh như thế
Dạ xoa không xâm hại.
Rồi Dạ xoa đọc kệ
khuyên Sànu:
Sànu,
Hãy nghe Dạ xoa nói
Ðừng xa Phật, làm ác
Lén lút hay công
khai.
Nếu làm ác đời nay
Hoặc sau này, ngươi
sẽ
Chẳng bao giờ thoát
khổ
Dù có cánh để bay
Lên trời tìm đường
ẩn.
Nói xong, quỷ xuất
ra. Sànu mở mắt, thấy mẹ mình tóc tai rối bù, khóc than kể lể, mọi người chung
quanh. Không biết mình mới bị quỷ nhập, chú hỏi:
- Vừa mới đây con còn
ngồi trên ghế, mẹ vo gạo gần con. Sao bây giờ con lại nằm dưới đất?
Và chú nói tiếp:
Người ta khóc kẻ chết
Hoặc người đi không
về
Con ngồi đây sao mẹ
Lại khóc con tỉ tê?
Bà mẹ muốn chỉ rõ cho
chú thấy hậu quả xấu của việc đã xuất gia từ bỏ mọi thú vui thế gian, mọi lạc
thú nhục dục, lại muốn hoàn tục. Bà đáp:
Con à, người ta khóc
Người chết, hoặc
người đi
Ði mãi chẳng trở về.
Họ cũng khóc nữa khi
Người tu lại ra đời
Những người như thế
ấy
Sống chết đâu khác
gì.
Bà tiếp tục so sánh
đời sống thế tục như lò than, như hỏa ngục, nhấn mạnh sự nguy hại của đời sống
tại gia.
Than hừng cả hai bên.
Con có muốn ngã nào?
Ðịa ngục từ bốn phía,
Con có muốn rơi vào?
Bà nói thêm:
- Con ơi! Cầu con
được may mắn! Con đã được mẹ cứu như giựt củi khỏi đống lửa, con đã từ bỏ thế
gian đi theo Phật nay lại muốn trở lui thiêu đốt trong nhà thế gian. Con hãy
mau ra khỏi và che chở cho chúng ta!
Nói xong, bà tự nhủ:
"Không có cách nào để ta đánh thức sự chán ghét, ghê tởm của chú hơn nữa
sao?"
Ðể chú rõ thêm, bà
đọc kệ:
Hãy tinh tấn con ơi!
Cầu con đi đường may
Bằng cách nào mẹ
khiến
Con gớm đời được đây?
Ðã giựt ra khỏi lửa,
Con là thanh củi say,
Muốn cháy thiêu lần
nữa,
Làm sao, làm sao đây?
Chú Sànu nghe mẹ nói
xong, tri giác tự tỉnh và nói:
- Con không hoàn tục.
- Tốt lắm! Con yêu
quý!
Bà mẹ rất hoan hỷ, bà
dọn đủ món ngon cho chú. Ăn xong, bà hỏi tuổi chú và được biết chú đủ tuổi để
thọ Tỳ kheo chánh thức gia nhập Tăng đoàn, bà cúng dường chú ba y. Với y và bát
đầy đủ, chú được chính thức là vị Tỳ kheo của Tăng đoàn.
Ðức Thế Tôn, ngay lúc
ấy đã khuyên chú nên kiểm soát tư tưởng:
- Nếu một người để tư
tưởng mình rong ruổi xa xôi, lâu dài, suy nghĩ đủ mọi chuyện mà không cố gắng
kiểm soát, người ấy không thể đạt được Giải Thoát. Vì thế phải nỗ lực kiểm soát
tư tưởng, như người nài voi kiềm thúc con voi trong thời phát dục bằng móc sắt.
Ngài nói kệ:
(326) Trước tâm này
buông lung,
Chạy theo ái, dục,
lạc,
Nay ta chánh chế ngự,
Như cầm móc điều voi.
Nghe xong, chư thiên
cùng đến nghe pháp với Sànu, đã chứng Pháp nhãn. Sau này, Thượng toạ Sànu thông
suốt Tam tạng, Ngài trở nên một vị giảng sư uyên bác, sống một trăm hai chục
tuổi, giáo hóa toàn cõi Diêm phù đề, và sau cùng nhập Niết bàn.
6. Con Voi Sa Lầy
Hãy vui không phóng
dật...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Phật ở tại Kỳ Viên, liên quan đến voi Pàveyyaka.
Vua Ba Tư Nặc có một
con voi tên Pàveyyaka. Khi còn nhỏ nó rất mạnh, nhưng trở về già sức lực yếu
đi. Một ngày nọ, nó lội ngang các hồ lớn, bị lún chân xuống bùn không bước
được. Dân chúng kháo nhau:
- Xem kìa! Con voi
hồi nhỏ mạnh như thế, bây giờ yếu như thế.
Nhà vua nghe tin, lập
tức ra lệnh cho người quản tượng:
- Hãy kéo con voi ra
khỏi đám bùn,
Người quản tượng đi
đến bờ hồ, giả cách để cho voi thấy như mình sắp ra trận, đầu đội mũ sắt, trống
đánh vang lừng.
Kiêu khí của con voi
trỗi dậy. Nó đứng lên mau mắn, và rút chân ra khỏi sình, bước liền lên đất khô.
Các vị Tỳ kheo chứng kiến sự việc, về bạch Phật, Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
con voi đã tự kéo mình ra khỏi sình lầy. Nhưng các ông bị đắm nhiễm trong bãi
lầy dục vọng, hãy cố gắng với tất cả sức lực của mình để thoát ra.
Ngài nói kệ:
(327) Hãy vui không
phóng dật,
Khéo phòng hộ tâm ý,
Kéo mình khỏi ác đạo,
Như voi bị sa lầy.
7. Voi Làm Thị giả Phật
Nếu được bạn hiền
trí...
Câu chuyện xảy ra khi
Phật ở trong một khu rừng với voi Pàveyyaka, liên quan đến một nhóm Tỳ kheo.
Khi Phật ở Kosambi,
các Thầy Tỳ kheo ở đấy đã chia phe tranh cãi nhau không dứt. Phật dạy bảo cũng
không ai nghe, Ngài bèn vào rừng nhập hạ một mình. Ở đấy, một con voi chúa đã
hầu hạ Ngài chu đáo. Ðiều này mọi người tăng tục đều hay tin. Nơi thành Xá Vệ,
ông Cấp Cô Ðộc, bà Tỳ Xá Khư, các nhà đại phú hộ khác đến thỉnh cầu Tôn giả A
Nan:
- Bạch Tôn giả, xin
cho chúng con được gặp Phật.
Và năm trăm Thầy Tỳ
kheo ở xứ khác, sau khi an cư, đã đến thỉnh cầu A Nan:
- Thưa Tôn giả, đã
lâu chúng tôi không được nghe pháp âm của đức Thế Tôn. Xin Tôn giả vui lòng cho
chúng tôi được gặp Thế Tôn và nghe Ngài giảng pháp.
Tôn giả A Nan liền
dắt năm trăm Tỳ kheo đi đến khu rừng nơi Phật ở. Ðến cửa rừng, Ngài nghĩ thầm:
"Ðức Như Lai đã sống cô tịch trong ba tháng. Bây giờ thật không thích hợp,
nếu ta đột ngột mang hết mấy trăm người này cùng vào với ta.” Nghĩ thế, Ngài
bèn đi một mình đến chỗ Phật. Khi voi chúa Pàveyyaka thấy Tôn giả, bèn tung vòi
tiến tới. Ðức Phật bảo:
- Hãy lui, Pàveyyaka,
đừng xua đuổi người ấy. Ðó là Thị giả của Như Lai.
Voi chúa bèn cuốn vòi
lại, và ngỏ ý muốn đỡ y bát của Tôn giả, nhưng Ngài từ chối. Voi nghĩ:
"Nếu người biết lễ phép, sẽ không đặt vật dụng của mình lên phiến đá của
Như Lai ngồi.” Tôn giả đặt y bát của mình xuống đất (Theo lễ nghi không được để
vật dụng của mình nơi giường hoặc ghế của Thầy). Sau khi lễ Phật, Tôn giả lui
ngồi một bên. Phật hỏi:
- Ông đến một mình?
A Nan thưa
rằng mình đến với năm trăm Tỳ kheo.
- Họ ở đâu?
- Con không biết ý
của Thế Tôn nên để họ ở ngoài rừng.
- Hãy gọi họ vào.
Tôn giả trở ra gọi
năm trăm Tỳ kheo vào. Thế Tôn hoan hỷ tiếp đón các Thầy. Và các Tỳ kheo đã bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, Ngài
là một vị Phật tôn quý, một ông hoàng quý phái. Vậy mà Ngài phải ở một mình ba
tháng tại nơi này, thật vất vả khi đứng, khi ngồi. Không có ai giúp đỡ Ngài
trong các việc quan trọng cũng như lặt vặt, chẳng ai múc nước cho Ngài súc
miệng...
Phật trả lời:
- Này các Tỳ kheo,
voi chúa Pàveyyaka đã làm giúp ta tất cả mọi việc. Ðược một người bạn như thế,
sống độc cư cũng tốt. Và nếu không có bạn như thế, tốt hơn là nên sống một
mình.
Ngài nói kệ:
(328) Nếu được bạn
hiền trí,
Ðáng sống chung, hạnh
lành,
Nhiếp phục mọi hiểm
nguy,
Hoan hỷ sống chánh
niệm.
(329) Không gặp bạn
hiền trí,
Ðáng sống chung, hạnh
lành,
Như vua bỏ nước bại,
Hãy sống riêng cô
độc,
Như voi sống rừng
voi.
(330) Tốt hơn sống
một mình,
Không người ngu kết
bạn,
Ðộc thân, không ác
hạnh,
Sống vô tư vô lự,
Như voi sống rừng
voi.
8. Ma vương Cám Dỗ Phật
Vui thay, bạn lúc
cần!...
Khi đức Bồ tát còn ở
trong thời kỳ tu ẩn dật ở trong dãy núi Tuyết (Himàlaya), chế độ cai trị của
các quốc vương khắc nghiệt. Và đức Thế Tôn trông thấy dân chúng bị nhiều hình
phạt độc ác, Ngài động lòng thương xót. Ngài tự nhủ: "Tại sao không thực
hành một chế độ công bình, chính trực, không có giết chóc, chinh phạt và đau
khổ.”
Khi ấy Ma vương bắt
gặp tư tưởng trên thoáng qua trong đầu đức Phật, hắn nghĩ: "Sa môn Cồ Đàm
vừa nghĩ đến việc cai trị. Có lẽ bây giờ ông ấy muốn làm vua, đó là một dịp cho
ông ấy tán tâm. Nếu ông ấy ra nắm quyền cai trị, ta có thể cám dỗ ông ấy. ta sẽ
đến để gợi lòng tham ấy."
Ma vương đến chỗ Phật
và bảo:
- Thưa Ngài, hãy để
đức Thế Tôn cai trị, hãy để bậc Tối Thắng cai trị, sẽ không có giết chóc, chinh
phạt và khổ đau, mà chỉ có công bằng và chính trực.
- Này Ma vương! Ông
thấy ta thế nào mà nói như vậy?
- Thưa Ngài, một vị
Phật có thể thi triển bốn phép mầu. Chỉ cần Ngài ra lệnh: "Ngọn núi
Himàlaya hãy biến thành vàng", lập tức nó sẽ biến thành vàng. Tôi cũng sẽ
lấy tài lực này để thực hiện tất cả những việc có thể thực hiện bằng tài lực.
Như thế, Ngài sẽ cai trị công bằng chánh trực.
Phật bảo:
Lòng tham người không
thỏa
Dù có núi tử kim
Biết vậy, người khôn
tìm
Ðường thẳng ngay tiến
bước.
Người đã sớm vẽ trước
Người nhân của khổ
đau,
Ðâu có thể nào giao
Ðời mình cho lạc thú?
Hãy để người đã thấu
Nhân sanh tử luân hồi
Tự tu tập điều phục
"Lưỡi ái"
buộc bao đời
Phật cảnh cáo Ma
vương:
- Này Ma vương, ta
khuyên ông một lần nữa, Ta không giống ông. Ðó là điều Ta muốn nói.
Ngài nói kệ:
(331) Vui thay, bạn
lúc cần!
Vui thay, sống biết
đủ!
Vui thay, chết có
đức!
Vui thay, mọi khổ
đoạn!
(332) Vui thay, hiếu
kính mẹ!
Vui thay, hiếu kính
cha!
Vui thay, kính Sa
môn!
Vui thay, kính Hiền Thánh!
(333) Vui thay, già
có giới!
Vui thay, tín an trú!
Vui thay, được trú
tuệ!
Vui thay, ác không
làm!
PHẨM XXIV: THAM ÁI
1. Con Cá Vàng
Người sống đời phóng
dật...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Kỳ Viên, trong trường hợp của cá vàng Kapilamaccha.
Chuyện quá khứ
A. Thầy Tỳ Kheo Tự
Phụ - Ðảng Cướp
Thuở xưa, thời đức
Phật Ca Diếp nhập Niết bàn, có hai anh em một gia đình quý tộc xuất gia làm Sa
môn. Người anh tên Sodhana và người em tên Kapila. Cả người mẹ Sàdhinì và cô em
gái Tàpanà cũng xuất gia làm Tỳ kheo ni. Khi xuất gia, cả hai anh em đều làm
tròn bổn phận với bậc Thầy thế độ và các vị Giáo thọ một cách thành kính. Một
ngày nọ, họ hỏi Thầy:
- Bạch Thầy, trong
Tôn giáo này có bao nhiêu bổn phận chánh yếu?
- Có hai bổn phận:
học và Thiền định.
Nghe thế, người anh
cả nghĩ thầm: "Ta sẽ hoàn thành bổn phận Thiền định.” Và Thầy ở lại bên vị
Bổn sư năm năm. Nhận một đề mục Thiền định dẫn đến quả Tuệ giác, Thầy vào rừng
và sau khi nỗ lực hết sức mình, Thầy chứng A la hán.
Người em nói:
"Ta còn trẻ, khi nào già, ta sẽ Thiền định.” Thầy chọn bổn phận học tập.
Thầy học thông Tam tạng, do đó Thầy có đông đồ chúng và được nhiều lợi dưỡng.
Say sưa với kiến thức đa văn của mình và bị ma tham danh chi phối, Thầy trở nên
tự phụ. Thầy hay sửa lưng người khác. Khi người ta nói đúng Thầy bảo sai, khi
người ta nói sai Thầy bảo đúng, việc có tội Thầy nói là vô tội, việc vô tội cho
là có tội.
Các vị Sa môn hiền
đức vẫn hay khuyên Thầy:
- Này huynh Kapila,
đừng nói như vậy.
Các vị nhắc Thầy về
điều luật, về Phật pháp. Nhưng Kapila trả lời:
- Các ông biết được
gì? Hỡi những con cá rỗng?
Thầy lại tiếp tục
nhục mạ người.
Các vị Sa môn kể lại
với Thầy Sodhana. Thầy Sodhana khuyên em:
- Này Kapila, với
cương vị Tỳ kheo, em nên cư xử đúng đắn. Em đừng khinh thường, bác bỏ các lời
khuyên chân thật, và nói năng theo cách của em như thế.
Nhưng Thầy Kapila
chẳng màng gì đến lời khuyên của anh. Thầy Sodhana kiên nhẫn khuyên hai, ba lần
Thầy Kapila cũng không đếm xỉa gì đến. Thầy chỉ còn biết nói:
- Này sư đệ, em sẽ
mang tiếng xấu vì những hành động Thầy nữa.
Thầy Kapila cư xử xấu
và kết hợp một số đồ chúng cũng tệ như Thầy. Ngày nọ, Thầy tự nói: "Ta sẽ
trùng tuyên Luật tạng tại Pháp đường.” Thầy cầm quạt, lên tòa ngồi, tuyên đọc
Luật với câu hỏi thường lệ.
- Thưa các Đại đức,
chúng đã nhóm, có ai cần phát lồ?
Các vị Tỳ kheo nghĩ
thầm: "Trả lời ông ấy chẳng ích lợi gì.” Tất cả yên lặng. Kapila tiếp:
- Này chư huynh, ở
đây không có Giáo lý cũng không có Giáo luật, các vị có nghe đọc luật cũng như
không nghe thôi.
Nói rồi Kapila xuống
tòa. Như thế, Thầy đã làm chậm trễ việc giảng dạy giáo pháp của đức Phật Ca
Diếp.
Trong đời ấy, Trưởng
lão Sodhana vào Niết bàn. Kapila với thái độ như thế đã vào ngục A tỳ. Cả mẹ và
em gái Thầy theo chế nhạo các vị Sa môn hiền đức, cũng rơi vào Địa ngục.
Thời ấy, có năm trăm
tên cướp, một ngày kia chúng bị rượt bắt, phải vào rừng ẩn náu. Chúng không tìm
được nơi nương thân, và khi gặp một vị ẩn sĩ, chúng vái chào và thưa:
- Bạch Ngài, hãy cho
chúng con nương tựa.
Vị ấy trả lời:
- Không có nơi nương
tựa nào bằng đạo đức. Tất cả các anh có thể giữ năm giới được không?
- Thưa được.
Chúng bằng lòng thọ
năm giới cấm.
Tôn giả ẩn sĩ khuyên
họ:
- Hôm nay các anh đã
thọ giới, cho dù mạng sống bị đe dọa đi nữa, các anh cũng không được phạm giới
hay có tư tưởng ác.
- Ðược thôi.
Các tên cướp hứa sẽ
giữ giới luật đã thọ.
Dân làng đuổi theo
tận nơi bọn cướp ẩn náu, và giết chết hết tất cả. Chúng được tái sinh lên cõi
trời, tên cầm đầu bọn cướp thành vị thiên chủ cai quản các vị kia. Sau khi tái
sinh nhiều lần nơi các cõi trời, lúc ở cõi cao lúc cõi thấp suốt vô số kiếp
trôi qua trong thời kỳ giữa hai vị Phật, chúng lại tái sinh trong đời Phật hiện
tại vào một làng chài lưới có năm trăm gia đình gần thành Xá Vệ.
Vị Thiên chủ đầu thai
vào nhà ông xã trưởng làng, những vị còn lại đầu thai trong các nhà kia. Như
thế cùng một ngày tất cả năm trăm vị đầu thai và đều sanh ra một lượt. Ông xã
trưởng nghĩ thầm: "Không biết hôm nay trong làng có các cậu bé khác chào
đời hay không?” Cho người kiểm tra khắp làng ông được biết tất cả đều tái sinh
vào một nơi. "Các cậu này sẽ là bạn của con trai ta.” Ông nghĩ vậy rồi gởi
thực phẩm đến nhà nuôi hết các cậu bé. Chúng lớn lên, chơi đùa với nhau, kết
bạn thân cho đến lúc cùng trưởng thành. Chàng trai lớn nhất trở nên một người
danh tiếng, được trọng vọng, làm thủ lãnh cả nhóm.
Kapila thọ khổ trong
ngục A tỳ suốt vô số kiếp trôi qua trong thời gian giữa hai vị Phật, và do dư
báo của nghiệp ác, lúc ấy tái sinh làm con cá nơi dòng sông Aciravatì. Mình cá
màu vàng óng nhưng hơi thở hôi thối vô cùng.
Chuyện hiện tại:
B. Nhóm Dân Chài Và
Con Cá Hôi
Một ngày kia, đám bạn
thanh niên ấy bảo nhau:
- Ta hãy tung lưới
kiếm ít cá.
Họ lấy lưới quăng
xuống sông, xui khiến thế nào con cá vàng lọt vào lưới. Khi dân làng trông thấy
cá, họ mừng rỡ kêu lên:
- Các con chúng ta
lần đầu bủa lưới, đã tóm được chú cá vàng. Thế nào đức vua cũng ban thưởng một
cách hậu hỷ.
Ðám bạn thanh niên
ném con cá lên thuyền, đi yết kiến đức vua. Thấy con cá, vua hỏi:
- Cái gì đấy?
Ðám thanh niên tâu:
- Tâu đại vương, đây là
một con cá.
Nhận ra đó là một con
cá vàng, vua nghĩ thầm: "Ðức Thế Tôn sẽ biết vì sao con cá này màu vàng.”
Vua liền ra lệnh mang cá đi đến ra mắt đức Thế Tôn. Cá vừa mở miệng ngáp, cả
Tinh xá Kỳ Viên tràn ngập mùi hôi thối. Vua bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, vì
duyên cớ gì con cá này có màu vàng? Và tại sao hơi thở nó hôi thối đến thế?
- Ðại vương, vào thời
Phật Ca Diếp, con cá ấy là một vị Tỳ kheo tên Kapila, đa văn, được đồ chúng
theo đông đảo. Do vì buông lung theo lợi dưỡng, ông ấy đã chửi mắng, lăng mạc
các Tỳ kheo không theo mình. Ông gây chậm trễ việc truyền bá giáo pháp đức Phật
Ca Diếp và bị đọa vào ngục A tỳ. Sau, từ dư báo nghiệp ác, lại đầu thai làm con
cá. Do nhân duyên giảng dạy giáo pháp Phật, đọc tụng kinh điển tán thán Phật
trong thời gian khá lâu, mình cá mới có màu vàng ấy. Còn hơi thở thối vì ông đã
chửi mắng lăng mạ các Tỳ kheo. Ðại vương, Như Lai sẽ khiến ông ấy kể về chính
mình đây.
- Bạch Thế Tôn, xin
Ngài dùng mọi cách để ông ấy tự kể về mình.
Ðức Phật hỏi con cá:
- Ngươi có phải là Kapila?
- Bạch Thế Tôn vâng,
con là Kapila.
- Ngươi từ đâu đến?
- Bạch Thế Tôn, con
từ ngục A tỳ đến.
- Còn anh ngươi,
Sodhana, ra sao rồi?
- Bạch Thế Tôn, anh
ấy đã nhập Niết bàn.
- Mẹ ngươi, bà
Sàdhini đâu?
- Bạch Thế Tôn, người
bị đọa Địa ngục.
- Còn em gái ngươi,
Tàpanà, thì sao?
- Cô ấy cũng đọa Địa
ngục, Bạch Thế Tôn!
- Giờ ngươi đi đâu?
- Bạch Thế Tôn, ngục
A tỳ.
Nói xong, lòng đầy ăn
năn, cá đập đầu chết ngay tại chỗ, bị tái sanh trong ngục A tỳ. Thính chúng vây
quanh đều xúc động, lông tóc dựng ngược cả lên. Ðức Thế Tôn thấy tâm họ thuần
phục, bèn giảng bài pháp thích hợp:
Hằng sống trong chánh
kiến,
Hằng tu hạnh thanh
tịnh,
Ðấy hạt ngọc sang
đẹp,
Quý hơn trong tất cả.
Nói kệ rồi, đức Phật
giảng tỉ mỉ toàn bài kinh "Kapila"; sau này được chép trong tập Suta
Nipàta. Ngài nói kệ tiếp:
(334) Người sống đời
phóng dật,
Ái tăng như dây leo,
Nhảy đời này đời
khác,
Như vượn tham quả
rừng.
(335) Ai sống trong
đời này,
Bị ái dục buộc ràng,
Sầu khổ sẽ tăng
trưởng,
Như cỏ bị gặp mưa.
(336) Ai sống trong
đời này,
Ái dục được hàng
phục,
Sầu rơi khỏi người
ấy,
Như giọt nước lá sen.
(337) Ðây điều lành
Ta dạy,
Các người tụ họp đây,
Hãy nhổ tận gốc ái,
Như thổ gốc cỏ bỉ,
Chớ để ma phái hoại,
Như dòng nước cỏ lau.
2. Con Heo Nái Tơ
Như cây bị chặt
đốn...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Tinh xá Trúc Lâm, liên quan đến chị heo nái tơ nọ sống lăn
lóc trong đống phân.
Chuyện kể rằng, một
hôm đức Thế Tôn vào thành Vương Xá khất thực, gặp một con heo nái tơ. Ngài mỉm
cười, Trưởng lão A Nan trông thấy vầng hào quang chói sáng từ răng Ngài, liền
hỏi lý do:
- Bạch Thế Tôn, tại
sao Ngài cười?
Ðức Phật bảo:
- Này A Nan, hãy nhìn
con heo nái tơ kia.
- Con có thấy nó,
bạch Thế Tôn!
- Vào thời đức Phật
Kakusandha, con heo tơ này là một chị gà ở gần Thiền đường nọ. Chị thường chăm
chú nghe một Thầy Tỳ kheo niệm đề mục Thiền tu chứng Tuệ giác. Chỉ nghe những
âm thanh thiêng liêng kia thôi, cũng khiến chị thoát kiếp được tái sinh vào
cung vua, làm công chúa tên Ubbari.
Một hôm công chúa đi
vào nhà xí, thấy đống dòi. Liền tại chỗ ấy, chăm chú quan sát đám dòi, tâm định
tĩnh, cô nhập Sơ Thiền. Sau khi mãn kiếp làm công chúa, cô được sanh vào dòng
dõi Bà la môn. Từ giai cấp Bà la môn, do nghiệp tạo trong kiếp ấy, bây giờ cô
lại tái sinh làm con heo nái tơ này. Ta biết những cảnh huống ấy nên cười.
Các Tỳ kheo đi sau
Trưởng lão A Nan lắng nghe đức Thế Tôn nói, rất xúc cảm. Sau khi tác
động tâm tư họ, đức Phật liền giảng giải sự ngu si của tham ái, và vẫn đứng
giữa đường đi, Ngài nói kệ tiếp:
(338) Như cây bị chặt
đốn,
Gốc chưa hại vẫn bền,
Ái tùy miên chưa nhổ,
Khổ này vẫn sanh
hoài.
(339) Ba mươi sáu
dòng ái,
Trôi người đến khả
ái,
Các tư tưởng tham ái,
Cuốn trôi người tà
kiến.
(340) Dòng ái dục
chảy khắp,
Như dây leo mọc tràn,
Thấy dây leo vừa
sanh,
Với tuệ, hãy đoạn
gốc.
(341) Người đời nhớ
ái dục,
Ưa thích các hỷ lạc,
Tuy mong cầu an lạc,
Họ vẫn phải sanh,
già.
(342) Người bị ái
buộc ràng,
Vùng vẫy và hoảng sợ,
Như thỏ bị sa lưới,
Chúng sanh ái trói
buộc,
Chịu khổ đau dài dài.
(343) Người bị ái
buộc ràng,
Vùng vẫy và hoảng sợ,
Như thỏ bị sa lưới,
Do vậy vị Tỳ kheo,
Mong cầu mình ly
tham,
Nên nhiếp phục ái
dục.
Sau kiếp ấy, chị heo
nái tơ tái sinh vào cung vua ở Suvannabhùmi. Hết kiếp, cô tái sanh ở Ba La Nại,
kiếp sau cô tái sanh ở cảng Supàraka trong nhà một người lái ngựa, rồi sanh vào
nhà một thủy thủ cảng Kavìra. Kế tiếp, cô sanh vào nhà một gia đình quý tộc cao
sang ở Anuràdhapura. Cuối cùng, cô tái sanh làm con gái ông Sumanà làng
Bhokkkanta thuộc vùng phía Nam, được đặt tên theo cha là Sumanà.
Khi dân chúng bỏ làng
đi hết, cha cô đến vương quốc Dìghavàpi, lập nghiệp tại làng Mahàmuni.
Lakuntaka Atimbara, Tể tướng vua Dutthagàmanì, có việc đến đấy gặp cô, liền
cưới làm vợ, đưa về sống tại làng Mahàpunna. Một hôm, Trưởng lão Anula trú tại
Tinh xá Kotipabbata đi khất thực ngang qua nhà trông thấy cô bèn bảo các Thầy
Tỳ kheo:
- Này chư huynh, con
heo nái tơ đã trở thành phu nhân Ngài Lakuntaka Atimbara, Tể tướng của đức vua,
thật lý thú biết bao!
Nghe những lời này cô
bỗng nhớ hết các tiền kiếp của mình và chứng Túc mạng thông. Xúc dộng sâu xa,
cô xin phép chồng từ bỏ đời thế tục xuất gia theo Tăng đoàn Tỳ kheo ni
Pancabalaca. Sau khi nghe giảng bài pháp Mahà satipatthàna tại Tinh xá Tissa,
cô đắc qủa Dự lưu. Rồi khi người Damilas bị tiêu diệt, cô trở về làng Bhokkanta
sống với cha mẹ. Tiếp đó, nghe bài pháp Asìvisopama tại Tinh xá Kallaka, cô đắc
qủa A la hán. Ngày cô nhập Niết bàn, đáp lời hỏi của các Tỳ kheo và Tỳ kheo ni,
cô kể hết câu chuyện cho các Tỳ kheo Ni nghe. Giữa một buổi nhóm chúng của các
Thầy Tỳ kheo, với sự giúp đỡ của Trưởng lão Maha Tissa, vị Tỳ kheo thường giảng
nói Pháp Cú đang trú tại Mandalàràma, cô kể như sau;
- Vào thời xa xưa,
con đánh mất thân người, sanh làm gà mái. Bị diều hâu xớt, và tái sanh ở thành
Vương xá, từ bỏ cuộc đời thế tục, làm một Tỳ kheo ni hành khước đây đó và tu
đạt đến Sơ Thiền. Hết kiếp ấy, con tái sanh vào nhà một Trưởng giả. Nhưng chỉ
sống ít lâu, con đã bị đọa làm heo nái. Hết kiếp, con tái sanh ở Suvannabhùmi,
rồi ở Ba La Nại, ở cảng Suppàraka, ở cảng Kavìra, ở Anuràdhapura và sau cùng tại
làng Bhokkanta. Sau khi trải qua mười ba kiếp thăng trầm như vậy, kiếp này con
cảm nhận được sự bất như ý của cuộc sống nên từ bỏ thế tục, xuất gia, và chứng
quả A la hán. Xin chư vị mỗi người hãy tự mình chánh niệm tinh tấn tiến đến
giải thoát.
Lời cô làm tứ chúng
vô cùng xúc động. Sau đó cô nhập Niết bàn.
3. Thầy Tỳ Kheo Bỏ Ðạo
Ðược thoát khỏi buộc
ràng...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ở tại Tinh xá Trúc lâm, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo hoàn tục.
Thầy Tỳ kheo kia vốn
là đồ đệ Trưởng lão Ðại Ca Diếp, tuy đã đạt Tứ Thiền nhưng một hôm đến chơi nhà
ông chú làm thợ vàng, trông thấy nhiều đồ trang sức đẹp mắt, Thầy sanh lòng
tham luyến, bèn hoàn tục. Thầy lại làm biếng chẳng chịu mó tay vào việc gì nên bị
đuổi ra khỏi nhà. Từ đấy Thầy kết bạn với kẻ xấu, chuyên sống bằng nghề cướp
bóc. Một hôm người ta bắt Thầy, trói chặt hai tay sau lưng, mang đi hành hình,
trên đường cứ gặp mỗi ngã tư lại dùng roi da đánh đập Thầy.
Trưởng lão Ðại Ca
Diếp vào thành khất thực, thấy Thầy Tỳ kheo bỏ đạo bị dẫn ra cửa Nam liền làm
cho dây trói lỏng đi, và bảo Thầy.
- Ông hãy quán tưởng
lại đề mục định như đã từng làm.
Vâng lời dạy, Thầy Tỳ
kheo bắt đầu Thiền định, và nhập Tứ Thiền. Lính áp tải đưa Thầy đến chỗ hành
hình, bảo:
- Bọn ta sẽ cho ngươi
chết.
Rồi chúng nung đỏ
chông sắt lên. Nhưng tên cướp chẳng hề lo sợ mảy may. Lính xử tội vây tứ phía
đưa cao gươm giáo, lao phóng sáng lòa.
Thấy tên cướp không
tỏ dấu sợ hãi chi cả, chúng phải kêu:
- Thưa các Ngài, hãy
nhìn người này xem. Ðứng giữa trăm người lăm lăm vũ khí, ông ta chẳng run chẳng
sợ. Thật là điều lạ lùng.
Quá kinh ngạc và thán
phục, chúng reo hò ầm ĩ, rồi đến tâu lên vua. Nghe hết chuyện, vua phán:
- Hãy thả người ấy
ra.
Họ đến bạch Phật câu
chuyện. Ðức Thế Tôn phóng hào quang, phân thân đến pháp trường nói kệ:
(344) Lìa rừng lại
hướng rừng,
Thoát rừng chạy theo
rừng,
Nên xem người như
vậy,
Ðược thoát khỏi buộc
ràng,
Lại chạy theo ràng
buộc.
Nghe pháp âm mầu
nhiệm, Thầy Tỳ kheo bỏ đạo đang nằm trên bàn chông lính vây quanh kín đặc, liền
quán tưởng đề mục sanh tử, quán tam pháp ấn, thấu rõ ngã không và đắc quả Dự
lưu. Trong niềm an lạc của đạo quả vừa đắc, Thầy bay lên không đến chỗ đức Thế
Tôn, đảnh lễ Ngài. Ngay giữa chúng hội, trong đó có cả nhà vua, Thầy đắc quả A
la hán.
4. Ngôi Nhà Tù
Người trí xem chưa
bền...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến ngôi nhà tù.
Một hôm, các tội phạm
bị dẫn đến trước vua Ba Tư Nặc, nào trộm đạo, cướp đường, nào những kẻ giết
người. Vua ra lệnh dùng gông cùm, dây thừng và dây xích trói họ lại. Lúc ấy, có
ba mươi Thầy Tỳ kheo ở vùng quê đến thăm đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài rồi lui. Hôm
sau, đi quanh thành Xá Vệ khất thực, các Thầy qua chỗ nhà tù và thấy bọn tội
phạm. Chiều lại, khất thực xong các Thầy đến yết kiến Phật và bạch:
- Bạch Thế Tôn, hôm
nay đi khất thực chúng con thấy các tội nhân ở trong nhà tù. Họ bị trói bằng
gông cùm, dây thừng, dây xích, vô cùng đau khổ. Họ chẳng cởi nổi các gông cùm
này để trốn thoát được. Bạch Thế Tôn, có thứ gì trói buộc bền chắc hơn nữa
không?
Ðức Phật đáp:
- Này các Tỳ kheo,
những thứ đó đâu đã lấy gì làm bền chắc. Hãy xem sự trói buộc của si mê, gông
xiềng có tên là tham ái, sự ràng rịt của lòng tham luyến của cải, lúa thóc, vợ
con. Dây trói buộc này còn bền chắc gấp trăm, nói cho đúng, gấp nghìn lần hơn
những thứ các ông đã thấy. Nhưng dầu nó bền chắc như vậy và khó cởi bỏ đến thế
mà xưa kia người có trí vẫn cởi bỏ được, ra đi vào Hy Mã Lạp Sơn, xa lìa thế
tục.
Rồi Ngài kể chuyện
tiền thân:
Chuyện quá khứ:
A. Chồng Và Vợ
Vào thuở xa xưa, khi
vua Brahmadatta đang trị vì ở Ba La Nại, Ngài là con trai một gia đình nhà
nghèo nọ. Khi đến tuổi trưởng thành thì cha chết, chàng phải đi làm mướn nuôi
mẹ. Bà mẹ chọn cưới cho chàng một cô gái con nhà tử tế, mặc những lời phản đối
của chàng. Thời gian sau, mẹ già qua đời, vợ chàng hoài thai đứa con đầu lòng.
Chẳng biết vợ đang
mang thai, chàng bảo:
- Này em, hãy tự kiếm
sống nhé. Anh sẽ đi tu.
Vợ chàng đáp:
- Em đang có thai.
Xin đợi đến ngày em sinh nở, chàng thấy mặt con rồi đi tu cũng không muộn.
- Thôi được.
Khi cô vợ sanh đứa bé
xong, chàng từ giã vợ:
- Em thân yêu, em đã
sanh nở mẹ tròn con vuông. Anh có thể đi tu được rồi chứ.
Nhưng cô vợ nói:
- Xin chàng chờ đến
lúc con dứt sữa hãy đi.
Trong khi chàng chờ,
cô vợ có thai đứa con thứ hai.
Chàng tự nghĩ:
"Nếu ta làm theo lời yêu cầu của nàng thì chẳng bao giờ đi được. Ta sẽ bỏ
trốn và xuất gia, đừng cho nàng hay gì cả.” Thế là không nói một lời về dự định
của mình, giữa đêm chàng trở dậy trốn đi. Lính gác thành bắt chàng. Nhưng chàng
thuyết phục được họ thả ra:
- Thưa các ông, tôi
phải săn sóc mẹ già. Xin các ông tha cho tôi.
Ở lại quanh đấy một
thời gian, chàng lên đường về vùng Hy Mã Lạp Sơn sống đời ẩn sĩ. Sau khi đắc
thần thông và tu chứng được những quả vị cao hơn, chàng tiếp tục sống ở đấy,
vui hưởng Thiền duyệt. Chàng thầm nghĩ: "Ta đã bứt tung được sợi dây trói
thật quá ư bền chắc, sợi dây tham dục xấu xa, sợi dây của lòng luyến ái vợ
con.”
Nghĩ rồi, chàng đọc
một bài kệ.
(Kết Thúc Chuyện Quá
Khứ)
Kể xong chuyện quá
khứ, đức Thế Tôn nói kệ làm rõ nghĩa bài kệ của nhà ẩn sĩ:
(345) Sắt, cây, gai
trói buộc,
Người trí xem chưa
bền,
Tham châu báu, trang
sức,
Tham vọng vợ và con.
(346) Người có trí
nói rằng:
"Trói buộc này
thật bền,
Trì kéo xuống, lún
xuống,
Và thật sự khó thoát.
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ dục lạc không
màng.”
5. Sắc Ðẹp Phù Du
Người đắm say ái
dục...
Câu chuyện xảy ra khi
đức Thế Tôn ngụ tại Trúc Lâm, liên quan đến Hoàng hậu Khema, vợ vua
Tần Bà Sa La.
Người ta nói rằng bà
Khema, do phước báu lời nguyện dưới chân Phật Padumuttara, nhan sắc vô cùng
lộng lẫy. Nghe đồn đức Thế Tôn thường chê trách sắc đẹp thể chất, bà tránh
không gặp Phật. Vua Tần Bà Sa La biết bà rất tự kiêu về sắc đẹp của mình nên
cho người làm những bài ca tán thán Trúc Lâm, rồi ra lịnh cho các nghệ sĩ hát
các bài ca ấy khắp nơi.
Nghe các bài ca, Trúc
Lâm đối với bà thật là một nơi xa xôi nào chưa từng biết. Bà hỏi các nghệ sĩ:
- Các ngươi hát về
khu rừng nào thế?
- Tâu Hoàng hậu,
chúng con hát về rừng Trúc Lâm của lệnh bà đấy.
Tức thì Hoàng hậu
muốn xem Trúc Lâm. Lúc ấy, đức Thế Tôn đang ngự trên tòa giảng pháp cho tứ
chúng, biết bà đến bèn hóa phép cho một cô gái tuyệt đẹp cầm quạt đứng quạt hầu
Phật.
Hoàng hậu Khema bước
vào Pháp đường, thấy cô gái bà nghĩ thầm: "Ta vẫn nghe nói đấng Ðại Giác
chê trách sắc đẹp thể chất. Mà đây lại có cô gái này đứng quạt hầu Ngài. Ta
chẳng sánh được một góc sắc đẹp cô ấy. Quả thực ta chưa bao giờ thấy ai đẹp như
vầy. Chắc chắn người ta nói về đức Thế Tôn không được đúng lắm.”
Hoàng hậu cứ dán mắt
vào người đẹp, lời giảng pháp của đứa Thế Tôn chẳng lọt một tiếng vào tai bà.
Phật biết bà đang chú tâm vào cô gái, liền biến người đẹp trẻ trung diễm lệ kia
thành bà già lụ khụ, rồi cuối cùng chỉ còn là một túi da bọc xương. Thấy thế,
Hoàng hậu Khema suy nghĩ: "Chỉ trong phút chốc thôi, một hình hài tuyệt mỹ
như thế đã đi đến chết chóc, hoại diệt. Quả nhiên hình hài vật chất này không
thật chút nào!"
Ðức Thế Tôn đọc được
tư tưởng bà, liền bảo:
- Khema, bà nghĩ một
cách sai lầm rằng sắc đẹp thể chất là có thật. Bà hãy xem cái không thật của nó
kìa.
Ngài nói kệ:
Bà Khema có thấy
Mớ duyên hợp kia
không?
Ðầy bệnh hoạn thối
ung
Ðồ bất tịnh dơ xấu
Từng phút giây rỉ
chảy
Chỉ những kẻ ngu si
Mới đắm say thứ ấy.
Nghe xong, Hoàng hậu
Khema đắc quả Dự lưu. Ðức Thế Tôn bảo bà:
- Này Khema, chúng
sanh trong thế gian này đắm say ái dục, bị lòng sân hận làm hư hỏng, bị ngu si
đánh lừa, do đó dính chặt trong dòng sông tham ái, không thể vượt thoát ra nổi.
Và Ngài nói kệ giảng
pháp:
(347) Người đắm say
ái dục,
Tự lao mình xuống
dòng,
Như nhện sa lưới dệt,
Người trí cắt trừ nó,
Bỏ mọi khổ, không
màng.
Khi bài pháp kết
thúc, Hoàng hậu Khema đắc quả A la hán. Hội chúng cũng được lợi lạc.
Ðức Phật bảo vua Tần
Bà Sa La:
- Ðại vương, bà Khema
giờ hoặc phải xa rời thế tục, hoặc phải nhập Niết bàn.
Vua bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, xin
Thế Tôn hãy nhận bà ấy vào Tăng đoàn, khoan nhập Niết bàn.
Bà Khema xuất gia và
trở thành một trong những Trưởng lão ni xuất sắc của Tăng đoàn đức Phật.
6. Chàng Trai Có Cô Vợ Diễn Viên Nhào Lộn
Bỏ quá, hiện, vị
lai...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Uggasena.
Thuở ấy tại thành
Vương Xá, mỗi năm một hoặc hai lần, năm trăm diễn viên xiếc nhào lộn lại đến
biểu diễn cho nhà vua xem suốt bảy ngày. Họ kiếm được nhiều tiền và vàng: quả thực,
người ta tung quà thưởng tới tấp vào họ. Khán giả chồng chất giường ngủ lên
nhau thật cao, trèo lên xem cho rõ những màn xiếc hấp dẫn.
Hôm ấy, một nữ diễn
viên leo lên cây cột cao, quay lộn một vòng rồi cô nhẹ nhàng đặt chân lấy thăng
bằng trên đầu cột, cứ lơ lửng trên không như thế cô vừa khiêu vũ vừa hát. Trong
đám khán giả có con trai quan Chưởng khố cũng đứng trên đống giường với bạn
chàng, xem cô biểu diễn. Tay chân cô cử động mềm mại duyên dáng quá
làm chàng nhìn say sưa, và chàng yêu cô gái luôn. Tan hát về nhà chàng nói:
"Nếu cưới được nàng ấy ta mới sống, còn không ta chết quách cho xong.”
Chàng gieo mình xuống giường, chẳng chịu ăn uống gì nữa.
Bố mẹ chàng hỏi:
- Con ơi, con bịnh
làm sao?
Chàng đáp:
- Nếu con cưới được
con gái người hát xiếc con mới sống. Còn không, con sẽ chết thôi.
Bố mẹ chàng khuyên:
- Con ơi, đừng làm
vậy. Cha mẹ sẽ cưới cho con một cô vợ khác mới là môn đăng hộ đối chứ.
Chàng vẫn một mực nói
câu ấy và nằm lỳ trên giường. Cha chàng kiên nhẫn giảng cho chàng hiểu, rốt
cuộc cũng không làm cho chàng tỉnh trí được chút nào. Cuối cùng ông cho gọi
người bạn của chàng đến đưa một ngàn tiền vàng và bảo:
- Cậu hãy trao số
tiền này cho người hát xiếc và bảo ông ấy đưa con gái về cho con trai ta.
Người hát xiếc nói:
- Tôi đâu bán con lấy
tiền. Nếu cậu ấy không thể sống thiếu con gái tôi thì hãy để cậu ấy đi với bọn
tôi. Chịu như vậy tôi mới gả con gái.
Bố mẹ chàng cho chàng
hay tin. Chàng liền bảo:
- Tất nhiên,con sẽ đi
với họ thôi.
Bố mẹ chàng năn nỉ,
khuyên lơn. Chàng chẳng màng đến những lời họ nói, bỏ theo đoàn hát xiếc.
Chàng cưới cô gái
diễn viên và cùng đoàn hát đi biểu diễn qua khắp làng mạc, thành thị, kinh đô.
Chẳng bao lâu, cô vợ sanh một đứa con trai. Mỗi khi chơi đùa với con, cô gọi
con là "con bác đánh xe" hoặc "con chú loong toong", hay
"con gã chẳng biết gì ráo.” Anh chồng quả cũng có đảm nhiệm việc chăm sóc
cỗ xe gánh xiếc. Mỗi khi đoàn biểu diễn, chàng sửa soạn dụng cụ, dàn dựng lên
hoặc dọn dẹp khi tan hát.
Chính muốn ám chỉ các
việc làm ấy mà vợ khi nựng con đã dùng những từ trên. Chàng đi đến kết luận là
cô muốn nói bóng gió mình, bèn hỏi:
- Nàng muốn ám chỉ ta
ư?
- Ðúng thế, tôi nói
anh đấy.
- Ðã vậy, ta sẽ bỏ
nàng.
- Anh đi hay ở đâu
việc gì đến tôi.
Cô vẫn dùng những từ
ngữ ấy đùa với con. Sắc đẹp và số lợi tức khổng lồ cô kiếm được làm cô bất cần
chồng.
Chàng nghĩ: "Sao
cô ta kiêu ngạo thế?" Ngay sau khi ấy chàng hiểu ra: "Chính vì cô ta
là một diễn viên tài năng.” Chàng quyết định: "Ðược! Ta sẽ học làm xiếc.”
Chàng học tất cả các
ngón biểu diễn với cha vợ. Chàng đi trình diễn khắp làng mạc, thành thị, kinh
đô, hết chỗ này đến chỗ kia, cuối cùng lại trở về Vương Xá, chàng truyền rao
khắp thành: "Bảy ngày nữa, Uggasena con trai Ngài Chưởng khố sẽ biểu diễn
nghệ thuật cho dân thành Vương Xá xem.” Dân chúng rộn rịp dựng khán đài thật
cao, và đúng ngày thứ bảy, họ kéo nhau đến. Uggasena leo lên cây cột cao ba
chục mét và đứng lơ lửng trên đầu sào.
Hôm ấy, từ sớm đức
Thế Tôn quan sát thế gian và Uggasena xuất hiện trong tầm quán sát của Ngài.
Thế Tôn tự nghĩ: "Người thanh niên ấy sẽ ra sao?” Ngay sau đó, Ngài biết
được: "Con trai quan Chưởng khố sẽ đứng lơ lửng trên đầu sào kia để biểu
diễn màn xiếc của chàng và đông đảo khán giả sẽ tụ tập xem. Vào thời điển ấy ta
sẽ đọc bài kệ bốn câu. Nghe xong tám vạn bốn ngàn người sẽ được Pháp nhãn thanh
tịnh, còn Uggasena thì đắc quả A la hán.”
Ngày hôm sau, lựa
đúng giờ thích hợp, đức Thế Tôn cùng các Tỳ kheo lên đường vào thành Vương Xá
khất thực.
Trước khi Phật đặt
chân vào thành, tại chỗ biểu diễn, Uggasena đưa tay ra dấu chào trả tiếng vỗ
tay của khán giả. Và giữ thăng bằng trên đầu cột, chàng bay lộn bảy vòng trong
không, đặt chân trở lại trên đầu cột và đứng giữ thăng bằng ở đấy. Ðúng lúc
này, đức Thế Tôn vào thành, và do sự xếp đặt của Ngài, khán giả quay nhìn Ngài
thay vì nhìn Uggasena biễn diễn. Thấy khán giả không còn quan tâm đến mình nữa,
Uggasena vô cùng thất vọng. Chàng nghĩ: "Ta phải mất một năm mới luyện
được màn biểu diễn này. Thế mà đức Thế Tôn vừa đặt chân đến thành, khán giả đã
bỏ ta quay lại chiêm ngưỡng Ngài. Buổi biểu diễn của ta thế là hoàn toàn thất
bại. "Phật đọc được tư tưởng của chàng liền bảo Trưởng lão Mục- kiền liên:
- Ông hãy đến bảo con
viên Chưởng khố ta muốn xem chàng biểu diễn tài nghệ.
Tôn giả đến bên cây
cột nói với chàng diễn viên:
Này, Uggasena
Diễn viên xiếc tài
ba!
Hãy phô trương tài
nghệ,
Cống hiến dân thành
ta.
Uggasena nghe vậy vô
cùng hoan hỉ: "Chắc đức Thế Tôn muốn xem tài năng của ta.” Nghĩ vậy, chàng
liền đáp, trong lúc vẫn đứng lơ lửng trên đầu cột:
Hãy xem tôi, Mục Kiền
Liên Tôn giả!
Bậc đại trí, bậc đại
thần thông!
Tôi trổ tài cống hiến
đám đông
Và làm họ cười reo
thỏa thích
Từ trên đầu cột chàng
tung mình lên không, quay lộn mười bốn vòng rồi đặt chân trở lại, giữ thăng
bằng trên đầu cột.
Ðức Thế Tôn bảo:
- Này Uggasena, người
trí phải biết cởi bỏ buộc ràng của thân ngũ uẩn trong quá khứ, hiện tại và vị
lại. Như vậy, người ấy mới thoát được sanh, già, bệnh, chết.
Ngài nói kệ:
(348) Bỏ quá, hiện,
vị lai,
Ðến bờ kia cuộc đời,
Ý giải thoát tất cả,
Chớ vướng lại sanh
già.
Phật nói xong, tám vạn
bốn ngàn người được pháp nhãn thanh tịnh, con trai quan Chưởng khố đắc quả A la
hán và được thần thông ngay khi chàng còn đứng lơ lửng đầu cột.
Chàng tụt xuống, tiến
tới trước đức Thế Tôn, năm vóc gieo xuống đất đảnh lễ Phật và xin được gia nhập
Tăng đoàn. Phật đưa tay nói: "Hãy đến, Tỳ kheo!" Chàng liền biến
thành một vị Trưởng lão chừng sáu mươi tuổi, với đầy đủ tám vật dụng tùy thân.
Các Thầy Tỳ kheo hỏi Trưởng lão:
- Này huynh Uggasena,
huynh leo từ cây cột ba chục thước xuống mà không sợ sao?
Uggasena đáp:
- Chư huynh
đệ, tôi chẳng sợ chút nào. Chúng Tỳ kheo bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn,
Uggasena nói "Tôi chẳng sợ chút nào" là nói điều không thật. Ông ấy
phạm việc dối trá.
Phật bảo:
- Này các Tỳ kheo, Tỳ
kheo như Uggasena đã diệt trừ tham ái, không còn lo âu sợ hãi gì nữa.
Ngài nói kệ:
(397) Ðoạn hết các
kiết sử,
Không còn gì lo sợ,
Không đắm trước buộc
ràng,
Ta gọi Bà la môn
Một hôm, chúng Tỳ
kheo bàn luận với nhau trong Pháp đường: "Chư huynh đệ, vì sao một vị
Tỳ kheo có khả năng chứng A la hán như vị này lại lưu lạc theo đoàn xiếc chỉ vì
cô con gái của người hát xiệc? và làm thế nào ông ấy có khả năng chứng A la
hán?"
Ðức Thế Tôn đến gần,
hỏi:
- Này các Tỳ kheo,
các ông tụ tập luận bàn gì thế?
Khi nghe họ bạch,
Phật bảo:
- Này các Tỳ kheo,
hai việc này xảy ra trong cùng một trường hợp thôi.
Ðể làm sáng tỏ câu
chuyện, Phật kể:
Chuyện quá khứ:
A. Lời Nói Ðùa Và Qủa
Báo
Thuở xa xưa, khi ngôi
tháp bằng vàng thờ Xá Lợi Phật Ca Diếp đang được xây cất, con cái một số Phật
tử thuần thành ở Ba La Nại đến chỗ xây tháp công quả bằng cách đích thân bắt
tay vào việc xây cất công trình ấy, và họ mang theo những cỗ xe chất đầy thực
phẩm. Trên đường đi, họ gặp nột Trưởng lão đang đi vào thành khất thực. Trong
những người đi công quả có một phụ nữ trẻ thấy Trưởng lão bèn nói với chồng cô:
- Này anh, vị Trưởng
lão tôn kính của chúng ta đang vào thành khất thực. Xe ta chứa vô số thực phẩm
cả cứng lẫn mềm. Anh hãy đến đỡ bình bát của Ngài và cúng dường đi.
Người chồng đến đỡ
bình bát Trưởng lão và họ múc đầy bát thức ăn vừa cứng vừa mềm. Xong hai vợ
chồng phát nguyện:
- Bạch Ðại đức, chúng
con nguyện được dự phần với Ngài chân lý mà Ngài đã sáng tỏ.
Vị Trưởng lão đã đắc
A la hán. Ngài quan sát xem thử đời vị lai lời nguyện họ được thành không. Khi
biết lời nguyện sẽ thành, Ngài mỉm cười. Cô vợ nhìn thấy nụ cười ấy bảo chồng:
- Anh à, vị Trưởng
lảo tôn quý của chúng ta cười. Chắc Ngài cũng là diễn viên.
Anh chồng đáp:
- Ừ phải, chắc Ngài
là diễn viên thật em ạ!
Họ tiếp tục đi lo
công việc của mình. Ðây là nghiệp họ tạo trong quá khứ.
(Chấm Dứt Chuyện Quá
Khứ)
Khi mãn kiếp, hai vợ
chồng được tái sinh lên cõi trời. Vào thời đức Phật hiện tại, người vợ thọ sanh
trong nhà một diễn viên xiếc, người chồng thì làm con trai quan Chưởng khố. Do
chàng nói: "Ừ phải, chắc Ngài là diễn viên thật em ạ", kiếp này chàng
phải phiêu bạt theo đoàn xiếc. Do chàng cúng dường một bữa ăn cho vị Trưởng lão
A la hán, nên chàng đắc quả A la hán.
Cô gái con người hát
xiếc tự bảo: "Chồng ta chứng đắc quả vị gì thì ta cũng sẽ chứng đắc như
chàng"
Cô bèn xuất gia và
cũng đắc quả A la hán.
7. Xạ Thủ Trẻ Tài Ba
Người tà ý nhiếp
phục...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang trú tại Kỳ Viên, liên quan đến Thầy Tỳ kheo trẻ tên Culla
dhanuggaha Pandita, có nghĩa là chàng xạ thủ tài ba.
Một hôm, một Thầy Tỳ kheo
trẻ đến lượt đi nhận thức ăn cúng dường, cầm bát cháo về đến trai đường thấy
hết nước uống. Thầy vào nhà đàn việt xin. Trong nhà lại có côn gái trẻ vừa
trông thấy Thầy Tỳ kheo liền đem lòng luyến ái, cô nói:
- Bạch Ðại đức, khi
nào cần nước uống, xin Ngài trở lại đây chớ đừng đi nơi khác.
Từ đấy, mỗi khi không
có nước uống, Thầy chỉ đến nhà cô gái xin. Cô đích thân đỡ bình bát đổ đầy nước
cho Thầy. Dần dà, cô cúng dường cả cháo. Một hôm, cô đem ghế mời Thầy ngồi và
cúng dường cơm. Cô ngồi kề bên, gợi chuyện:
- Bạch Ðại Ðức, nhà
đây thật là cô quạnh. Chúng con suốt ngày chẳng có bóng người khách viếng thăm.
Sau khi nghe cô trò
chuyện vài lần, Thầy Tỳ kheo bắt đầu thấy chán đời tu.
Bữa kia, có vài Thầy
Tỳ kheo khác đến thăm Thầy, hỏi:
- Huynh sao trông vàng
vọt thế?
- Thưa chư huynh, tôi
đang phiền muộn.
Các Thầy Tỳ kheo bèn
đem Thầy đến gặp Thầy tế độ và Giáo thọ của Thầy. Hai vị lại đưa Thầy đi gặp
Phật và bạch lên sự việc, Phật bảo:
- Này Tỳ kheo, có
đúng là ông đang phiền não?
- Thưa đúng, Bạch Thế
Tôn!
Nghe Thầy Tỳ kheo trả
lời, đức Thế Tôn nghiêm nghị trách:
- Này Tỳ kheo làm sao
mà sau khi xuất gia được nhập vào Tăng đoàn của Như Lai đại hùng đại lực, thay
vì khiến mọi người phải nói rằng ông đã đắc quả Tu đà hoàn, hoặc quả Tư đà hàm,
ông lại để họ nói rằng ông bị phiền não? Ông thật là có lỗi lớn.
Rồi đức Thế Tôn hỏi
tiếp:
- Tại sao ông phiền
não?
- Bạch Thế Tôn, có cô
nọ nói với con như vầy, như vầy.
- Này Tỳ kheo, cô ta
làm như thế chẳng có gì lạ lùng. Trong khiếp trước cô ta đã bỏ rơi Dhanuggaha,
người bắn cung giỏi nhất trên toàn cõi Ấn độ. Chỉ vì sự đam mê bồng bột nhất
thời với một tướng cướp, cô đã sát hại chồng.
Các Thầy Tỳ kheo xin
Phật kể rõ câu chuyện. Ngài nói:
Chuyện quá khứ:
A. Xạ Thủ Trẻ Tài Ba
Thuở xa xưa, có chàng
trai tên Xạ Thủ Tài Ba, Culla Dhanuggaha. Chàng theo học bắn cung với một vị
Thầy rất danh tiếng ở Takkasilà. Chàng tiến bộ thật nhanh chóng khiến thấy hài
lòng vô cùng, bèn gả con gái cho chàng. Cưới hỏi xong, chàng đưa vợ về Ba La
Nại. Ðến một khu rừng, chàng giết được năm mươi tên cướp, chỉ dùng năm mươi mũi
tên. Khi tên cạn, chàng túm lấy tên cầm đầu bọn cướp, quất xuống đất rồi kêu cô
vợ:
- Nàng ơi! Hãy đưa
kiếm cho ta.
Nhưng vừa thấy tên
cướp, cô vợ bỗng đem lòng say mê, bèn trao kiếm cho hắn. Gã lập tức giết chàng
xạ thủ rồi dẫn cô đi theo.
Vừa đi gã vừa nghĩ:
- Nếu cô ta thấy tên
đàn ông khác cũng sẽ giết ta như đã giết chồng, ta giữ nàng phỏng có ích gì?
Ðến con sông, gã để
cô ở lại bên này, mang hết đồ trang sức sang sông và nói:
- Nàng ở lại đây, ta
đem đồ qua trước đã.
Rồi gã bỏ mặc cô đấy.
Cô kêu:
- Hỡi chàng Bà la
môn!
Chàng mang hết sang
sông
Ðồ trang sức em đó
Xin chàng mau trở
lại,
Ðem em theo qua cùng.
Tên tướng cướp đáp:
- Cô nàng ơi!
Cô đổi người chồng
bao năm kề vai sát cánh
Ðể lấy ta, kẻ chưa hề
quen.
Cô đem anh chồng từng
ngọt bùi chia xẻ,
Ðổi một người cô
chẳng biết ra sao.
Cô ạ, cô sẽ lại bỏ ta
theo kẻ khác
Thôi chào cô, ta lo
tránh xa đây.
Ðể làm người đàn bà
phải xấu hổ, Ðế Thích liền hiện xuống mang theo người đánh xe và viên nhạc
thần. Ðế Thích hóa thành con chó rừng, người đánh xe đội lốt cá, còn nhạc thần
làm con chim. Chó ngậm miếng thịt đứng trước người đàn bà. Con cá nhảy lên nhảy
xuống dưới nước, chó phóng xuống chụp, đánh rơi miếng thịt, chim cắp thịt bay
vù đi. Cá biến dạng xuống dòng sông. Chó mất cả chì lẫn chài. Người đàn bà phá
ra cười. Chó hỏi:
- Ai đứng bên bụi cây
cười đó?
Xin nói đi, vì sao
người đẹp cười
Ðâu phải nơi vũ hội,
hát ca
Ðây đâu phải lúc vỗ
tay đánh nhịp
Chính là lúc phải
khóc, người đẹp ạ!
Người đàn bà đáp:
- Chó ngu ơi, trí
khôn mày thật chỉ bé tẹo,
Mày chỉ có nước khóc
như tên ăn mày,
Mày đánh mất cả cá
lẫn thịt.
Chó đáp:
- Chân mình thì lấm
mê mê,
Mà đi lấy đuốc để rê
chân người,
Cả tình nhân lẫn
chồng, cô mất
Chính cô mới nên khóc
đấy ạ!
Bấy giờ cô ta mới
nói:
- Ðúng vậy, hỡi chó
rừng, vua loài thú,
Thôi từ đây ta ngoan
ngoãn theo chồng.
Chó đáp lại:
- Ăn cắp trứng sẽ ăn
cắp gà nữa
Làm ác rồi, cô sẽ
tiếp tục thôi.
Ðức Thế Tôn kể xong
câu chuyện tiền thân về chàng Culla Dhanuggaha (có trong quyển năm bộ Nipàta,
Ngài nói:
- Kiếp ấy, ông là
chàng xạ thủ trẻ, người đàn bà kia là cô gái cho ông uống nước đó. Vua Ðế Thích
chính là ta. Cô kia chỉ mới thấy tên cướp đã mê mệt, giết mất chàng trai tài
giỏi nhất Ấn Ðộ. Này Tỳ kheo, ông hãy nhổ hết gốc rễ lòng tham ái trong ông đối
với người đàn bà này.
Khuyên răn Thầy xong,
Phật giảng pháp thêm cho Thầy nghe, Ngài nói kệ:
(349) Niệm xấu làm
não loạn
Dục lạc nhiều thường
cầu
Rèn thêm xiền tham ái
Dây ràng xiết càng
sâu.
(350) Ai vui, an tịnh
ý,
Quán bất tịnh, thường
niệm
Người ấy sẽ diệt ái,
Cắt đứt ma trói buộc.
8. Ma vương Chẳng Nhát Ðược La Hầu La
Ai tới đích, không
sợ...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Ma vương.
Một hôm, nhiều Trưởng
lão Tỳ kheo đến Tinh xá Kỳ Viên không phải thời. Các Thầy vào thất Trưởng lão.
La Hầu La, đánh thức Tôn giả dậy. Thấy chẳng còn chỗ nào để ngủ, Tôn giả bèn
đến nằm trước hương thất Phật. Vị Trưởng lão tôn kính này tuy mới tám tuổi
nhưng đã đắc quả A la hán. Ma vương Vasavattì thấy vậy bèn nghĩ: "Con của
Sa môn đang nằm trước cửa hương thất, còn Sa môn Cồ Đàm thì nghỉ ở trong. Nếu
ngón tay người con bị kẹp đau, vị Sa môn cũng sẽ thấy đau như mình bị kẹp vậy.”
Rồi hắn biến thành
voi chúa khổng lồ tiến đến bên vị Trưởng lão, dùng vòi quấn đầu Tôn giả và gầm
lên thật to. Trong hương thất, đức Thế Tôn thấy hết, bèn nói:
- Này Ma vương, trăm
ngàn kẻ như ngươi cũng không làm La Hầu La sợ hãi được. Người này không còn
kinh sợ vì đã diệt trừ tham ái, mạnh mẽ hùng tráng, đại trí đại huệ.
Ngài nói kệ:
(351) Ai tới đích, không
sợ,
Ly ái, không nhiễm ô,
Nhổ mũi tên sanh tử,
Thân này thân cuối
cùng.
(352) Ái lìa, không
chấp thủ,
Cú pháp khéo biện
tài,
Thấu suốt từ vô ngại,
Hiểu thử lớp trước
sau,
Thân này thân cuối
cùng,
Vị như vậy được gọi,
Bậc đại trí, đại
nhân.
Phật nói xong, rất
nhiều người đắc quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm và A na hàm. Ma vương tự bảo:
"Sa môn Cồ Đàm thấy ta", hắn bèn biến mất.
9. Nhà Tu Khổ Hạnh Hoài Nghi
Ta hàng phục tất
cả...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này kiên quan đến đạo sĩ khổ hạnh Ngài tình cờ gặp tên là Upaka, thuộc giáo
phái Ajìvaka.
Sau khi thành đạo
dưới cội Bồ đề, Phật lưu lại bảy tuần tại đó. Rồi Ngài mang y, cầm bát lên
đường đi mười tám dặm về Ba La Nại để chuyển bánh xe pháp. Trên đường đi, Ngài
gặp đạo sĩ thuộc giáo phái khổ hạnh Ajìvaka. Ðạo sĩ hỏi:
- Huynh đệ, các căn
Ngài thật tịch tịnh, da Ngài sáng đẹp quá. Ngài theo ai xuất gia? Ai là Thầy
Ngài? Ngài tu theo giáo lý của ai?
Phật đáp:
- Như Lai không có
Thầy tế độ, cũng không có giáo thọ.
Ngài nói kệ:
(353) Ta hàng phục
tất cả,
Ta rõ biết tất cả,
Không bị nhiễm pháp
nào,
Ta từ bỏ tất cả,
Ái diệt, tự giải
thoát,
Ðã tự mình thắng trí,
Ta gọi ai Thầy Ta?
Upaka chẳng lộ vẻ
đồng ý hay bất bình trước những lời của Ðức Như Lai. Ðạo sĩ chỉ lắc đầu, chép
miện rồi rẽ vào đường tẻ, đi đến lều một thợ săn.
10. Pháp Thí Thắng Mọi Thí
Pháp thí thắng mọi
thí...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang trú ở Kỳ Viên, liên quan đến vua trời Ðế Thích.
Một hôm, chư thiên
cõi trời Ba mươi ba tụ họp lại đưa ra bốn câu hỏi:
- Vật gì bố thí cao
quý nhất?
- Vị ngon nào trên
tất cả?
- Hạnh phúc nào cao
tột đỉnh?
- Tại sao diệt trừ
tham ái là việc làm tối hệ trọng?
Chư thiên không
ai trả lời được, vị này hỏi vị kia, vị kia hỏi vị nọ, cho đến lúc mỗi vị đã hỏi
đủ các vị khác. Suốt mười hai năm, chư thiên đi khắp mười ngàn thế giới cũng
không tìm ra được kẻ đáp được các câu hỏi trên.
Cuối cùng, tất cả chư
thiên mười ngàn thế giới họp lại và cùng nhau đến gặp Tứ thiên vương. Các Ngài
hỏi:
- Có việc gì mà chư
vị tụ họp đông đảo thế này?
Chư thiên đáp:
- Chúng thần có bốn
câu hỏi không ai trả lời được, nên kéo nhau đến hầu các đại vương.
- Những câu hỏi gì
thế?
Nghe xong các câu
hỏi, Tứ thiên vương đáp:
- Chư vị,
chúng tôi cũng chịu thua. Có đức vua thường suy tư về các câu hỏi mà cả ngàn
người khác cũng suy tư, và Ngài biết ngay câu trả lời. Phước đức Trí tuệ Ngài
hơn hẳn chúng tôi. Ta hãy đến hầu Ngài.
Tứ thiên vương kéo
đoàn chư thiên đông đảo kia đến gặp Ðế Thích. Vua hỏi:
- Chư vị có
việc gì tụ họp đông đúc thế?
Họ tâu lên Ðế Thích
mục đích cuộc viếng thăm. Vua nói:
- Chư vị,
không ai có thể trả lời, trừ đức Phật. Các vấn đề này nằm trong phạm vi hiểu
biết của chư Phật. Hiện giờ đức Thế Tôn đang ở đâu?
- Thưa tại Kỳ Viên.
- Ta hãy đến hầu đức
Thế Tôn.
Vua Ðế Thích cùng
đoàn chư thiên đông đảo đang đêm bay đến Kỳ Viên, hào quang sáng cả Tinh xá.
Vua đảnh lễ Phật rồi lui ra một bên. Phật hỏi:
- Ðại vương, có việc
gì mà đại vương cùng đông đảo chư thiên đến viếng hôm nay?
- Bạch Thế Tôn, các
vị này nêu bốn câu hỏi không ai trả lời được, ngoại trừ Thế Tôn. Xin Ngài giảng
giải cho chúng con rõ.
- Ðại vương, lành
thay! Chính vì để dứt trừ nghi hối cho các chúng sanh như chư vị mà Như Lai
hoàn thành mười Ba la mật, hành năm pháp đại xả, và chứng quả Chánh giác. Về
câu hỏi của đại vương ư? Pháp thí thắng mọi thí. Pháp vị thắng mọi vị, pháp hỉ
thắng mọi hỉ. Có diệt trừ tham ái mới đắc quả A la hán, cho nên đó là việc làm
tối hệ trọng.
Ngài nói kệ:
(354) Pháp thí, thắng
mọi thí!
Pháp vị, thắng mọi
vị!
Pháp hỉ, thắng mọi
hỉ!
Ái diệt, thắng mọi
khổ.
Chú Giải Trong Nguyên
Bản:
Pháp thí thắng mọi
thí: dù cúng dường pháp y đúng màu đài hoa chuối cho tất cả các vị Phật, Các vị
Bích Chi Phật, các vị A la hán nhiều đến nỗi họp lại thành một hàng dọc nối từ
dưới đất lên đến cõi trời Phạm thiên cũng không bằng đọc một bài kệ hồi hướng
công đức ở giữa hồi chứng. Bởi vì công đức cúng dường y này không bằng một phần
mười sáu của việc đọc lên bài kệ. Do vậy mới biết tầm quan trọng của việc giảng
pháp, đọc tụng pháp và nghe pháp.
Kẻ nào giúp chúng
sanh được nghe pháp sẽ nhận được phước báo lớn hơn phước báo cúng dường vật
thực, cho dù người múc đầy bình bát tất cả các vị Phật, Bích Chi Phật, A la hán
nói trên với những thức ăn thượng vị. Phước báo do cúng dường pháp cũng lớn hơn
cúng dường các thứ thuốc men bổ dưỡng như bơ, sữa... cũng lớn hơn cùng dường
nhà ở, cho dù người ấy xây dựng không kể xiết cả trăm ngàn Tinh xá lớn như Maha
Vihàra, những Tinh xá tiện nghi như Loha Pàsadà. Phước báo ấy cũng lớn hơn cả
phước báo ông Cấp Cô Ðộc và các vị khác được hưởng do công cúng dường kho báu
xây dựng các Tinh xá. Bố thí pháp dù chỉ đọc lên một bài kệ hồi hướng bốn câu,
được phước báo vô lượng vô biên nhiều hơn cacù thứ bố thí ấy.
Tại sao thế? Tất cả
những kẻ bố thí nó trên sở dĩ cúng dường do có nghe pháp. Nếu chưa được nghe,
không bao giờ họ thực hiện những việc cúng dường ấy. Chúng sanh trong cõi Ta bà
này nếu không từng nghe pháp chẳng ai bố thí một vá cháo, hoặc chỉ một muỗng
cơm. Vì lý do ấy, pháp thí thắng mọi thí.
- Thực thế, trừ
trường hợp ngoại lệ của chư Phật và các vị Bích Chi Phật, những vị như Tôn giả
Xá Lợi phất và bạn bè Ngài dù có thần thông đếm được hết những giọt mưa của tất
cả những trận mưa trong suốt một kiếp, cũng không thể tự mình đắc quả Tu đà
hoàn và các quả vị khác mà phải nhờ đến bài pháp của Trưởng lão Ác bệ, của các
vị khác. Và sau cùng, khi nghe pháp của đức Thế Tôn, Tôn giả mới hành trì được
các Ba la mật Ðại Vương, vì lý do ấy, pháp thí thắng mọi thí.
Nói về các vị ngon,
từ đường mật... cho đến sơn hào hải vị quý hiếm như thức ăn của chư thiên đều
lôi cuốn người ham thích phải trôi lăn trong sanh tử luân hồi, cho nên nó là
gốc khổ của chúng sanh. Chỉ có hương vị của Giáo pháp, hiểu thấu ba mươi bảy
phần trợ đạo đưa đến Chánh giác và chín bậc Thiền định là thượng vị. Cho nên
nói: Pháp vị thắng mọi vị.
Những lạc thú của
người đời như con cái, dục lạc, ca nhạc, hát múa... cũng chỉ lôi cuốn người ham
thích trôi lăn trong sinh tử luân hồi, nó cũng là gốc khổ của chúng sanh. Nhưng
pháp hỉ sanh trong tâm kẻ nói pháp, hoặc nghe pháp, khiến họ được hưởng trạng
thái an lạc vô biên, khiến nước mắt phải chảy, tóc lông phải dựng ngược. Sự an
lạc này lại chấm dứt sanh tử luân hồi, cứu cánh đạt đến quả vị A la hán. An lạc
này mới là tối thắng? Cho nên nói: Pháp hỉ thắng mọi hỉ.
Cuối cùng đến vấn đề
tham ái. Khi tham ái diệt, hành giả chứng đắc A la hán. Do ái diệt nên dứt sạch
hết đau sanh tử luân hồi, cho nên nói: Ái diệt thắng mọi khổ.
Phật nói pháp xong,
vua Ðế Thích đảnh lễ Phật và nói:
- Bạch Thế Tôn, nếu
pháp thí tôn quý như vậy sao Ngài không dạy hồi hướng công đức ấy cho chúng
con? Từ đây mỗi khi Thế Tôn nói pháp cho chúng hội Tỳ kheo, cúi xin Ngài khiến
họ hồi hướng công đức cho chúng con.
Phật nghe lời thỉnh
cầu ấy liền họp chúng Tỳ kheo bảo:
- Này các Tỳ kheo từ
đây trở đi mỗi khi có thuyết pháp, dù trong chúng hội lớn hay chỉ một buổi
giảng pháp bình thường, hoặc một bài pháp vắn tắt, hoặc khi nói lời cảm tạ, các
ông hãy nhờ hồi hướng lại công đức cho tất cả chúng sanh.
11. Quan Chưởng Khố Không Con
Tài sản hại người
ngu...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang trú tại Kỳ Viên, liên quan đến quan Chưởng khố không con
tên Aputtaka.
Chuyện kể rằng khi
quan Chưởng khố chết, vua Ba Tư Nặc hỏi:
- Người không con khi
chết tài sản thuộc về ai?
- Muôn tâu, thuộc về
bệ hạ.
Vua cho chở tài sản
người quá cố về cung suốt bảy ngày mới hết. Rồi vua đến hầu Phật, Phật hỏi:
- Kìa Ðại vương, do
đâu giữa trưa đại vương đến dây?
- Bạch Thế Tôn, tại
thành Xá Vệ này có quan Chưởng khố không con chết ngày hôm kia. Con vừa cho chở
xong tài sản về cung rồi liền đến đây.
Vua bạch tiếp:
- Con nghe mỗi khi thức
ăn thượng vị đựng trong dĩa vàng đem đến cho quan Chưởng khố, ông ấy nói:
"Người ta ăn thức ăn này à? Tại sao bọn ngươi dám đùa cợt với ta ngay tại
nhà ta?" Nếu các người hầu đánh bạo dọn cho ổng ăn, ổn sẽ ném đất đá hoặc
lấy gậy đánh đuổi họ đi. Ông chỉ ăn cháo cám hoặc cháo chua, nói rằng:
"Người ta chỉ ăn những thức ăn này thôi.” Người hầu đem đến những quần áo
đẹp, xe cộ tốt, ô dù, đều bị ông đánh đuổi bằng đất đá, gậy gộc như trên. Ông
chỉ mặc áo quần vải gai thô, đi cỗ xe cũ kỹ cọc sạch, đầu thì hái lá che.
Phật bèn kể chuyện
kiếp trước của quan Chưởng khố:
Chuyện quá khứ:
A. Quan Chưởng khố
Bỏn Xẻn
Ðại vương, vào thời
quá khứ, quan Chưởng khố này đã cúng dường thức ăn cho một vị Bích Chi Phật tên
Tagarasikhi.
- Hãy đem thức ăn cho
Thầy Tỳ kheo.
Ông bảo vợ vậy, rồi
đứng lên đi làm việc khác. Bà vợ mộ đạo nghe lời chồng, nghĩ thầm: "Thực
lâu lắm ta mới nghe miệng ông ấy thốt ra chữ "đem cho.” Hôm nay, niềm nở
mơ ước được cúng dường của ta biến thành sự thật.” Bà đỡ lấy bình bát của vị Bích
Chi Phật, múc đầy những thức ăn ngon lành nhất.
Quan Chưởng khố quay
lại, thấy vị Bích Chi Phật liền hỏi:
- Thầy đã nhận thức
ăn chưa?
Ông cầm bát Thầy và
trông thấy các thức ăn thượng vị, bất giác tiếc rẻ nghĩ thầm: "Phải chi
các thứ này để bọn người hầu ta ăn thì tốt hơn biết mấy! Chúng ăn xong sẽ làm
việc tích cực. Còn Thầy Tỳ kheo chỉ ăn rồi nằm ngủ. Thực phẩm này cho đi thật
chẳng được gì"
Quan Chưởng khố lại
còn giết chết con trai độc nhất của anh mình để đoạt gia tài. Người cháu thường
nắm tay chú dẫn đi chỗ này, chỗ nọ, miệng liến thoắng:
- Cỗ xe này thuộc tài
sản cha cháu đấy! Bò này cũng là bò của người.
Quan Chưởng khố nghĩ:
"Lúc này hắn còn nói thế. Hắn khôn lớn rồi còn có thể thấy được của cải
hắn trong nhà này?” Một hôm, ông dắt cháu vô rừng, xiết cổ cho chết như người
ta bẻ một củ cải vậy, rồi quăng xác vào bụi rậm. Ðấy là tội ác của ông trong
kiếp trước nữa.
(Chấm Dứt Chuyện Quá
Khứ)
Ðại vương, do quan
Chưởng khố kêu người vợ đem thức ăn cúng dường vị Bích Chi Phật, suốt bảy kiếp
liền ông thọ phước lành rồi tái sanh trên cõi trời. Do dư báo của việc thiện
ấy, suốt bảy kiếp ông giữ độc quyền chức Chưởng khố thành Xá Vệ. Ðại vương,
trái lại do tiếc rẻ việc thiện mình đã làm và thốt lời báng bổ, khi quả báo đến
ông không thể dùng thức ăn ngon, mặc đồ đẹp, đi xe tốt, không thể thưởng thức
ngũ dục thế gian.
Hơn thế, do giết cháu
để đoạt gia tài, ông bị đọa Địa ngục hàng trăm ngàn kiếp. Và do một phần của dư
báo ác ấy, suốt bảy kiếp liền ông chết không con, tài sản bị tịch biên sung vào
kho vua. Ðây là kiếp thứ bảy của ông. Ðại vương, do ông ta đã cạn phước báo mà
không tạo nên phước mới, quan Chưởng khố giờ bị dọa tại Địa ngục Roruva.
Phật kể xong, vua Ba
Tư Nặc thưa:
- Bạch Thế Tôn, quan
Chưởng khố này tội thật quá lớn. Gia tài đồ sộ thế kia hắn chẳng chi dùng cho
hắn hoặc phát tâm cúng dường đức Thế Tôn, vị Phật đang trú tại Tinh xá gần sát
ngay nhà hắn.
Phật dạy:
- Ðúng vậy đại vương.
Quả có thế, khi kẻ ngu được giàu sang họ chẳng tìm cầu Niết bàn. Trái lại, của
cải chỉ khiến tham ái nổi lên trong tâm họ làm khỏ họ lâu dài thôi. Ngài nói
kệ:
(355) Tài sản hại
người ngu,
Không người tìm về bờ
kia,
Kẻ ngu vì tham giàu,
Hại mình và hại
người.
12. Bố Thí Nhiều Và Bố Thí Ít
Cỏ làm hại ruộng
vườn...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Yellowstone Rock, Pandukambala Silà, liên quan đến
Ankura. Câu chuyện đã được kể đầy đủ chi tiết trong phần chú giải câu kệ
"Người chuyên tâm thiên định" truyện liên quan đến Indaka.
Một hôm, Trưổng lão A
Na Luật vào làng khất thực. Indaka cúng dường Tôn giả một muỗng thức ăn của
phần mình. Ðây là việc thiện ông làm trong đời trước. Còn Ankura thì cung cấp
lò sưởi trên khắp năm mươi cây số suốt mười ngàn năm và bố thí cúng dường rất
nhiều vật thực. Indaka được phước báo lớn hơn.
Phật dạy:
- Này Ankura, khi bố
thí nên suy xét kỹ càng. Làm vậy sẽ giống như hạt giống gieo trên đất lành, đơm
hoa kết trái sum suê. Nhưng ông đã không làm thế. Do đó, việc bố thí của ông
chẳng đưa đến phước báo lớn.
Ðể làm sáng tỏ vấn
đề, Phật bảo:
Bố thí nên suy xét,
Mới gặt nên quả tốt.
Bố thí có suy xét,
Ðược người trí ngợi
khen.
Vật thực dâng cúng
trước
Người xứng đáng cúng
dường,
Sẽ được vô lượng
phước,
Như hạt giống đem
gieo,
Trên mảnh đất lành
tốt.
Ngài nói kệ tiếp:
(356) Cỏ làm hại
ruộng vườn,
Tham làm hại người
đời.
Bố thí người ly tham,
Do vậy được quả lớn.
(357) Cỏ làm hại
ruộng vườn,
Sân làm hại người
đời.
Bố thí người ly sân,
Do vậy được quả lớn.
(358) Cỏ làm hại
ruộng vườn,
Si làm hại người đời.
Bố thí người ly si,
Do vậy được quả lớn.
(359) Cỏ làm hại
ruộng vườn,
Dục làm hại người
đời.
Bố thí người ly dục,
Do vậy được quả lớn.
PHẨM XXV: TỲ KHEO
1. Giữ Gìn Ngũ Căn
Lành thay phòng hộ
mắt...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài trú tại Kỳ Viên, liên quan đến năm Thầy Tỳ kheo.
Khi Phật ở tại Kỳ
Viên có năm Thầy Tỳ kheo, mỗi Thầy tự điều phục một trong năm giác quan. Một
hôm, các Thầy gặp nhau bàn cãi. Thầy thì nói:
- Chỉ có giác quan
của tôi khó điều phục.
Thầy khác cũng nói:
- Chỉ có tôi là người
tự chế ngự giác quan khó nhất.
Rốt cuộc các Thầy
cùng nhau đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, mỗi
người trong chúng con tự chế ngự một giác quan, và cứ tưởng giác quan mình chế
ngự khó hơn hết. Hôm nay chúng con xin Ngài xác định người nào trong chúng con
điều phục giác quan khó nhất.
Ðức Phật thận trọng
tránh không cho biết Thầy Tỳ kheo nào kém hơn các huynh đệ mình. Ngài dạy:
- Này các Tỳ kheo,
tất cả các căn đều khó canh phòng. Nhưng không phải đây là lần đầu các ông thất
bại trong việc canh phòng ngũ căn. Trong một kiếp quá khứ, các ông cũng thất
bại trong việc kềm chế ngũ căn. Vì các ông không nghe lời khuyên của bậc thiện
tri thức nên đã bị hại.
Chuyện quá khứ:
A. Thành Hoa Thị
Theo lời yêu cầu của
năm Thầy Tỳ kheo, đức Phật kể rằng trong một kiếp quá khứ, Ngài là vị lãnh đạo
năm ông quan cận thần đi đến thành Hoa Thị để nhận ngôi báu, sau khi toàn thể
hoàng tộc vua bị quỷ Dạ xoa hại sạch. Trên đường đi, bọn quỷ Dạ xoa quyến rũ họ
bằng đủ mọi âm thanh, hình ảnh, mùi hương, thức ăn ngon và gái đẹp. Bồ tát lúc
ấy khôn ngoan không để bị đắm trước và căn dặn năm ông quan chớ bị để quyến rũ.
Nhưng họ đều bỏ rơi khí giới đầu hàng trước sức cám dỗ của Dạ xoa, và rốt cuộc
bị ám hại. Chỉ riêng Ngài kềm chế được mình, không mềm lòng trước cạm bẫy,
không màng đến con quỷ Dạ xoa với vẻ đẹp sắc nước hương trời đeo theo Ngài bén
gót, và thẳng tiến an toàn đến thành Hoa Thị, trở thành một vị quốc vương.
Khi nhận lễ đăng
quang, ngồi trên ngai vàng dưới chiếc lọng trắng, nhìn lại vẻ uy nghiêm và sự
vinh hiển của mình, Ngài tự mình: "Người ta nên sử dụng sức mạnh của ý chí
mình.” Ngài nói kệ:
Kiên trì tuân phục
Hiền Trí,
Lòng can đảm chẳng
lung lay,
Khỏi bị Dạ xoa khống
chế,
Vì ta không sợ không
lo.
Qua cơn hiểm nguy
gian khó,
Ðến nơi ta được an
toàn.
Phật kết luận:
"Năm ông quan thuở ấy là các ông, người đến được thành Hoa Thị an toàn và
làm vua chính là Ta.”
Ngài nói thêm:
- Một Tỳ kheo cần
phải canh phòng cẩn mật tất cả các căn, vì chủ thu hút căn mới thoát được khổ
não.
Ngài nói kệ:
(360) Lành thay,
phòng hộ mắt!
Lành thay, phòng hộ
tai!
Lành thay, phòng hộ
mũi!
Lành thay, phòng hộ
lưỡi!
(361) Lành thay, phòng
hộ thân!
Lành thay, phòng hộ
lời!
Lành thay, phòng hộ
ý!
Lành thay, phòng tất
cả!
Tỳ kheo phòng tất cả,
Thoát được mọi khổ
đau.
2. Thầy Tỳ Kheo Giết Ngỗng
Người chế ngự tay
chân...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ngụ tại Kỳ Viên, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo giết
ngỗng.
Thuở ấy, tại Xá Vệ có
hai thanh niên xuất gia, cùng ở trong tăng đoàn và trở thành bạn thân, thường
đi chung với nhau. Một ngày nọ, hai Thầy ra bờ sông Aciravati tắm, và lên bờ
đứng phơi nắng nói chuyện chơi. Lúc ấy có hai con ngỗng bay ngang. Thầy Tỳ kheo
trẻ bèn nhặt hòn đá cuội nói:
- Tôi sẽ chọi trúng
mắt một con ngỗng.
Thầy Tỳ kheo kia nói:
- Huynh chọi không
trúng đâu.
- Rồi huynh coi, tôi
sẽ chọi trúng cả hai mắt nó.
- Huynh chẳng làm
được.
- Vậy thì huynh coi
đây.
Thầy thứ nhất lượm
hòn đá ném theo con ngỗng. Nghe tiếng viên đá bay rít trên không trung, con
ngỗng quay đầu lại nhìn. Thầy thứ hai nhặt tiếp hòn đá và ném ngay mắt con
ngỗng. Hòn đá chọi nhằm mắt bên này, xuyên qua mắt bên kia của ngỗng. Nó kêu
lên đau đớn, lộn nhào xuống đất và rơi dưới chân hai Thầy Tỳ kheo.
Một số Thầy Tỳ kheo
khác đứng gần đấy thấy vậy bèn nói:
- Này các huynh, sau
khi từ bỏ thế gian vào cửa Phật, các huynh đã làm việc không đúng khi sát hại
sinh vật như thế.
Các Tỳ kheo bèn đem
hai Thầy đến chỗ đức Phật. Phật hỏi Thầy Tỳ kheo giết ngỗng:
- Có phải ông đã sát
sanh?
- Thưa vâng, bạch Thế
Tôn!
Phật quở:
- Này Tỳ kheo, sao đã
xuất gia từ bỏ gia đình theo Ta để cầu đạo giải thoát mà ông lại làm như thế?
Người trí thời Phật chưa ra đời, dù sống ở thế gian, cũng còn e dè thận trọng
từng việc nhỏ nhặt. Các ông đã xuất gia theo Phật, lại không lo dè dặt chút nào
vậy.
Rồi Ngài kể chuyện
tiền thân.
Chuyện quá khứ:
A. Chuyện Tiền Thân
Kuradhamma.
Vào thuở lâu xa, dưới
triều vua Dhananjaya của vương quốc Kuru, Ngài là Thái tử con vua. Ðến tuổi
trưởng thành, thái học tử học nghề bắn tên tại thành Hoa Thị. Khi thành nghề,
Thái tử trở về vương quốc, được vua cha phong làm phó vương. Khi vua cha băng
hà, Thái tử lên nối ngôi. Nhà vua nghiêm trì năm giới cấm và tuân theo mười đức
của một vị vua. Ngay cả những người trong Hoàng cung như hoàng thái hậu, Hoàng
hậu, hoàng đệ, phó vương, Thầy tử tế, quan cận thần, người đánh xe, quan Chưởng
khố, quan coi kho, người canh cổng và cả thứ phi nữa, mười một người đều giữ
ngũ giới nghiêm túc.
Lúc ấy, tại thành
Dantapura của vương quốc Kalinga, trời hạn hán nhiều năm không một giọt mưa.
Dân chúng ở vương quốc này biết nhà vua xứ Kuru có một thớt tượng tên
Anjanasannibha thật đầy đủ ân đức. Họ tin rằng xin được Anjanasannibha về nước,
chắc sẽ mưa. Vì thế, vua Kalinga cho gởi các vị Bà la môn sang Kuru để xin thớt
tượng ấy. Họ sang yết kiến vua xứ Kuru và trình bày lời yêu cầu, xưng tụng đức
hạnh của nhà vua. Nhưng dù có tượng Anjanasannibha, trong xứ kalinga vẫn không có
mưa. Vua kalinga thầm nghĩ: Vua Kuru đã giữ năm giới nên trong nước thường được
mưa. Vua bèn ra lệnh cho các Thầy Bà la môn và các quan cận thần sang Kuru khắc
năm giới cấm lên một dĩa vàng về nước.
Khi những người này
sang Kuru một lần nữa, cả triều đình từ vua trở xuống đều tự do, chối rằng:
- Chúng tôi không giữ
được năm giới cấm toàn vẹn.
- Các vị đã không làm
điều gì xâm phạm đến năm giới cấm đâu.
Họ năn nỉ mãi, cuối
cùng nhà vua Kuru dạy họ năm giới. Khi mang về vương quốc Kalinga cũng tuân giữ
thành kính năm điều cấm, và lập tức trời mưa. Trong nước lại thịnh vượng, ấm
no.
Ðức Phật kết luận:
"Lúc ấy thứ phi là Liên Hoa Sắc, người canh cổng là Punna, người giữ ngựa
là Kaccàna, quan giữ kho là Kolita, quan Chưởng khố là Xá Lợi Phất, người đánh
xe là A Na Luật, Thầy Bà la môn là Trưởng lão Ca Diếp, hoàng đệ phó vương là
Nan Ðà, Hoàng hậu là mẹ của La Hầu La, hoàng thái hậu là bà Ma Da và vua Kuru
là Ta.”
Ðức Phật nói tiếp:
- Này các Tỳ kheo,
người trí thời xưa, dù một lỗi nhỏ họ cũng cảm thấy ái ngại. Còn các ông, đã
xuất gia vào đạo của Phật đà lại chấp nhận một lỗi lơn là sát hại sanh vật. Một
Tỳ kheo phải hằng kiểm soát được tay chân, và ngôn ngữ của mình.
Ngài nói kệ:
(363) Người chế ngự
tay chân,
Chế ngự lời và đầu,
Vui thích nội Thiền
định,
Ðộc thân, biết vừa
đủ,
Thật xứng gọi Tỳ
kheo.
3. Thầy Tỳ Kheo Không Giữ Gìn Mồm Miệng
Tỳ kheo chế ngự
miệng...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang trú tại Kỳ Viên, liên quan đến Kokàlika. Trong bài kinh
Kokàlika, câu chuyện bắt đầu với dòng chữ: "Lúc bấy giờ Thầy Tỳ kheo
Kokãlika đến gần đức Ðạo Sư", ý nghĩa câu chuyện được giải thích trong tập
chú giải liên quan đến bài kinh.
Thuở Phật còn ở Kỳ
Viên, có Thầy Tỳ kheo tên Kokàlika vì đã phỉ báng hai đại đệ tử Phật là Tôn giả
Xá Lợi Phất và Tôn giả Mục Kiền Liên nên bị đọa Địa ngục. Câu chuyện bắt đầu
khi các vị Tỳ kheo tụ họp ở Pháp đường, bàn tán:
- Trời ơi! Thầy Tỳ
kheo Kokàlika bị trầm luân vĩnh kiếp vì đã không giữ gìn miệng mồm. Ngay khi
Thầy chửi rủa hai vị Tôn giả lãnh chúng, đã bị đất chôn xuống Địa ngục.
Lúc ấy đức Phật đến
và hỏi:
- Các ông tụ họp ở
đây bàn tán chuyện gì?
Khi các Thầy thuật
lại, Phật bảo:
Không phải lần đầu
Kokàlika bị đọa vì không giữ gìn khẩu nghiệp. Trong quá khứ cũng đã xảy ra
chuyện ấy.
Các Tỳ kheo muốn nghe
Phật thuật lại câu chuyện. Phật kể:
Chuyện quá khứ:
A. Con Rùa Ham Nói
Hồi xưa, có con rùa
kia ở tại cái hồ nước trên vùng núi Hy Mã. Một ngày nọ có đôi ngỗng đi lang
thang tìm thức ăn, gặp rùa ta và vài ngày sau chúng kết tình thân hữu. Có lần
ngỗng khoe với rùa:
- Bác ạ, chúng tôi ở
trên ngọn Cittakuta, trong một động vàng. Thật là một nơi ở thích thú. Bác có
muốn đi với chúng tôi không?
- Làm sao tôi có thể
đi đến đó?
- Nếu bác chịu ngậm
miệng trong lúc chúng tôi đưa đi, thì bác sẽ đến nơi.
- Ðược rồi, tôi sẽ
ngậm chắc miệng mồm. Hãy mang tôi đi với.
- Tốt lắm.
Ðôi ngỗng bảo bác rùa
ngậm một cây gậy, và hai con tha hai đầu gậy, bay lên không trung.
Vài đứa bé ở thôn xóm
dưới đất thấy rùa bay qua với ngỗng, bèn la lên:
- Bay ơi, ra xem hai
con ngỗng mang con rùa trên cây gậy.
Rùa nghĩ thầm: Tụi
nhóc con du đãng này, bạn ta tha ta đi đâu thì có dính dánh gì tới tụi bây mà
phải la lối!
Ngay khi nó vừa mở
miệng định nói ra ý nghĩ ấy, vì cặp ngỗng bay mau, nó liền rơi xuống đất và bể
làm hai mảnh ngay trong sân của một Hoàng cung ở Ba La Nại.
Rùa tự hại vì ham nói
chuyện,
Gậy ngậm rồi miệng
vẫn thày lay,
Rớt liền xuống đất
tan thây,
Người khôn ngoan thấy
gương đây giữ mình.
Lựa lời nói đúng lúc
đúng chỗ,
Xem gương rùa chịu
khổ thiệt thân.
Ðức Phật kết luận:
- Này các Tỳ kheo, một
Tỳ kheo phải kiểm soát lời nói, sống lặng thinh, không tự kiêu và thoát khỏi
phiền não.
Phật nói kệ:
(363) Tỳ kheo chế ngự
miệng,
Vừa lời, không cống
cao.
Khi trình bày pháp
nghĩa,
Lời lẽ dịu ngọt ngào.
4. Bằng Sự Tinh Tấn Làm Vinh Dự Cho Phật
Vị Tỳ kheo thích
pháp...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài trú tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Dhammarama.
Khi đức Phật tuyên bố
"Còn bốn tháng nữa, Ta sẽ vào Niết bàn", hằng ngàn vị Tỳ kheo bỏ hết
thì giờ để hầu cận Ngài. Những vị chưa chứng Sơ quả thì khóc lóc, những vị
chứng A la hán cũng cảm động sâu xa, tất cả đều tụ năm họp ba, bàn tán:
"Chúng ta nên làm gì?"
Riêng có một vị Tỳ
kheo tên Dhammarama (Trú Pháp Hỷ) thì không như vậy. Thầy tự nghĩ: "Ðức
Thế Tôn đã tuyên bố bốn tháng nữa nhập Niết bàn, mà ta chưa thoát khỏi ràng
buộc của tham ái. Ngày nào Ngài còn tại thế, ta sẽ cố gắng chứng A la hán.” Và
Thầy tự sống một mình, tư duy, quán tưởng, ôn lại những lời dạy của Phật, chẳng
màng trả lời những câu hỏi tò mò của các Tỳ kheo khác, mà cũng chẳng lui tới
hầu hạ Phật.
Các Tỳ kheo mách đức
Như Lai:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
Dhammarama không có lòng thương kính Thế Tôn. Khi nghe chúng con báo tin
"Phật sắp nhập Niết bàn, chúng ta sẽ làm gì?", Thầy chẳng nói, chẳng
hoạt động chung với chúng con.
Ðức Phật gọi Tỳ kheo
Dhammarama đến hỏi. Thầy thưa thật ý định của mình muốn cố gắng chứng quả A la
hán. Nghe xong, Phật ngợi khen Thầy:
- Lành thay! Lành
thay!
Và Ngài bảo các Tỳ
kheo:
- Này các Tỳ kheo,
mỗi vị nên bày tỏ sự kính mến Ta như Dhammarama đã làm. Chẳng phải dùng hương
hoa, hoặc những thứ cúng dường mà tôn kính ta. Chỉ cò người thực hành theo giáo
lý mới thật sự tôn kính Ta.
Ngài nói kệ:
(364) Vị Tỳ kheo
thích pháp,
Mến pháp, suy tư
pháp,
Tâm tư niệm chánh
pháp,
Không rời bỏ chánh
pháp.
Nghe xong, Thầy Trú
Pháp Hỷ liền chứng quả A la hán, hội chúng cũng được lợi lạc.
5. Thầy Tỳ Kheo Lạc Bầy
Không khinh điều mình
được...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài trú tại Trúc Lâm, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo lạc bầy.
Khi đức Phật ở tại
Trúc Lâm, có một Thầy Tỳ kheo kết bạn thân với một Thầy Tỳ kheo ly khai Tăng
đoàn, thuộc nhóm Ðề Bà Đạt Đa. Một ngày kia, đi khất thực về, gặp Thầy Tỳ kheo
bạn, Thầy nọ hỏi thăm:
- Huynh đi đâu thế?
- Tôi đi thất thực
về.
- Có được ai cúng
dường không?
- Có.
- Nơi chỗ tôi ở, có
nhiều vật thực và tặng phẩm giá trị, Hãy đến chỗ tôi vài hôm.
Thầy Tỳ kheo nhận
lời, lưu lại nhóm của Ðề Bà Đạt Đa vài ngày, và sau đó trở về với Tăng đoàn.
Các vị Tỳ kheo trong Tăng đoàn đến mách Phật:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
Tỳ kheo kia đã thọ lãnh vật thực, tặng phẩm của nhóm Ðề Bà Đạt Đa, Thầy ấy đã
theo Ðề Bà Đạt Đa rồi:
Ðức Phật cho gọi ông
Thầy nọ đến và hỏi:
- Có phải họ mách
Thầy như vậy là đúng?
- Thưa vâng, bạch Thế
Tôn, con ở trong nhóm Tỳ kheo của Ðề Bà Đạt Đa vài ngày, nhưng con không hợp
với quan điểm của Ðề Bà Đạt Đa.
- Ta thừa nhận rằng
ông không theo tà kiến, nhưng ông không có lập trường nhất định nên hay bị lung
lạc bởi ý kiến người khác. Trong thuở quá khứ ông cũng đã làm như vậy.
Theo lời các vị Tỳ
kheo yêu cầu, Phật bèn kể chuyện con Voi Damsel- face:
Voi Damsel - face rất
ngoan, nhưng khi đi đường nghe một nhóm trộm cướp du đãng nói chuyện thô lỗ với
nhau, nó cũng đâm ra hung hăng, bất trị và chạy bậy, giết người. Rồi sau đo,
nghe các vị Bà la môn luận đạo, nó trở lại ngoan ngoãn. Voi Damsel - face thuở
ấy là Thầy Tỳ kheo dễ tin hôm nay.
Ðức Phật kết luận:
- Là một Tỳ kheo, nên
hài lòng với những gì mình nhận được, và không ham muốn những gì người khác có.
Nếu ham muốn như vậy chẳng bao giờ đắc Thiền định, Trí tuệ, hoặc Thánh quả. Nếu
hài lòng với những gì đang có, ông sẽ có tất cả.
Ngài nói kệ:
(365) Không khinh
điều mình được,
Không ganh người khác
được,
Tỳ kheo ganh tỵ người
Không sao chứng Thiền
định.
(366) Tỳ kheo dầu
được ít,
Không khinh điều mình
được,
Sống thanh tịnh không
nhác,
Chư thiên khen
vị này.
6. Người Bà La Môn Cúng Dường Năm Lần Thành Quả Ðầu
Tiên
Hoàn toàn, đối danh
sắc...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến người Bà la môn cúng dường
năm lần thành quả đầu tiên.
Khi Phật ở Kỳ Viên, có
một người Bà la môn làm ruộng. Lúc lúa chín, ông cúng dường những bông lúa cắt
đầu tiên ngoài đồng. Lúa đem về đập, ông cúng dường những hạt lúa đập xong
trước tiên. Khi cất lúa vào bồ, ông lại cúng dường phần lúa đổ trong bồ đầu
tiên. Khi dược nấu thành cơm, ông cúng dường bát cơm đầ tiên bới trong nồi. Khi
dọn ra dĩa, ông lại cúng dường những hạt cơm đầu tiên múc ra dĩa. Cúng dường
năm lần như vậy cho người nào hiện diện lúc ấy, ông không hề nếm một miếng cho
đến lúc cúng xong, do đó được gọi là"người cúng năm ần thành quả đầu
tiên.”
Ðức Phật quan sát căn
cơ biết hai vợ chồng ông có thể chứng A na hàm bèn đi đến nhà ông khất thực.
Lúc ấy, ông Bà la môn ngồi ăn cơm trong nhà, xây lưng ra ngoài cửa, do đó không
thấy đức Thế Tôn. Bà vợ ông ta đang dọn ăn cho chồng, thấy đức Phật bèn nghĩ
thầm:
- Chồng ta sau khi
cúng dường năm lần, bây giờ đang ăn cơm. Nếu thấy Sa môn Cồ Đàm, ông sẽ cúng
hết phần cơm của mình, mà ta thì không thể nấu cơm cho ông được nữa.
Nghĩ vậy bà bèn đứng
sau lưng chồng, muốn che hình ảnh đức Phật không cho chồng thấy, tưởng như lấy
tay che được mặt trăng tròn. Bà đứng vậy rồi liếc mắt trông chừng Thế Tôn, tự
nói thầm: "Ông đã đi hay chưa?" Ðức Thế Tôn vẫn đứng yên một chỗ. Bà
vợ ráng không thốt thành tiếng: "Ông đi đi chứ", sợ chồng mình nghe
được. Nhưng một lát sau, bà bước lui và nói thật khẽ: "Ông đi đi.”
- Ta không đi.
Ðức Phật khởi nghĩ
như thế và lắc đầu. Khi đức Phật, bậc Ðạo sư của trời người, nghĩ thầm:
"Ta không đi" và lắc đầu, bà vợ ông Bà la môn không nén nổi, bật cười
lớn. Ðức Phật liền phóng một đạo hào quang, hiện hình Ngài trong nhà. Người Bà
la môn đang ngồi quay lưng về phía Phật, vừa nghe tiếng cười của vợ, thì cũng
thấy cả đạo hào quang sáu sắc và hình ảnh Phật. Bởi vì chư Phật, dù ở làng mạc
hay rừng sâu, không bao giờ đi khỏi khi chưa hiện thân trước những người có cơ
duyên đắc đạo. Người Bà la môn trông thấy Phật rồi, ông lật đật rầy vợ:
Bà này hại tôi! Khi
Thái tử đứng trước nhà ta, sao bà không báo trước cho tôi biết? Bà có lỗi lớn
đa nghe!
Và ông mang đĩa cơm
đang ăn dở, đem ra trước Phật nói:
- Thưa Sa môn Cù-
đàm, sau khi cúng dường năm thành quả đầu tiên, tôi dùng bữa trưa. Ðây là phần
cơm của tôi, tôi chia làm hai, và ăn một nửa, Ngài có thể nhận phần cơm này
không?
Thay vì trả lời:
- Ta không nhận cơm
ông ăn dư.
Ðức Phật nói:
- Này Bà la môn, dù
là phần còn lại hay đầu tiên cũng được, chúng ta cũng giống như quỷ thần, sống
bằng những thức ăn bố thí.
Ngài nói kệ:
Dù phần đầu, phần
giữa, phần dư,
Người khất thực đều
vui lòng nhận,
Không phiền hà, trách
móc dư thừa,
Người khôn ấy chính
bậc chánh trí.
Ông Bà la môn nghe
Phật nói như vậy trong lòng rất vui mừng, liền xưng tụng:
- Thái tử thật kỳ
diệu, Ngài ở địa vị vua của thế gian, thay vì nói "Ta không ăn cơm thừa
của ông", lại nói như trên.
Và vẫn đứng ở cửa, ông
hỏi tiếp:
- Thưa Ngài, Ngài gọi
các đệ tử là "Tỳ kheo.” Vậy những điều gì làm nên một Tỳ kheo?
Ðức Phật nghĩ thầm:
"Ta sẽ giảng cho người này bằng cách nào đây để được lợi ích nhất? Vào
thời Phật Ca Diếp, Ngài giảng cho hai ông bà này nghe về Thân và Tâm, nay ta
cũng sẽ giảng cho ông như vậy.”
Ngài bảo:
- Này Bà la môn, một
vị Tỳ kheo là người không bị ràng buộc, cột trói bởi những gì thuộc về Danh
(Tâm) hay Sắc (Thân).
Ngài nói kệ:
(367) Hoàn toàn, đối
danh sắc,
Không chấp ta, của
ta,
Không chấp, không sầu
não,
Thật xứng danh Tỳ
kheo.
7. Ðảng Cướp Ði Tu
Tỳ kheo trú từ bi...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một nhóm lớn Tỳ kheo.
Khi Thượng tọa
Kaccana ở trên một ngọn núi gần thành phố Kuraraghara trong nước Avanti, có một
Phật tử tên Sona Kutikanna sau khi thấm nhuần chân lý do Ngài giảng dạy, bèn
xin xuất gia. Ngài hai lần từ chối.
- Sona, thật là một
điều khó khăn khi sống đời tịnh hạnh, phải cư trú đơn độc, ẩm thực đơn độc.
Nhưng Sona quyết chí
xuất gia nên xin đến lần thứ ba, và được phép gia nhập Tăng đoàn. Vì chư Tăng ở
miền nam rất hiếm, Thầy ở lại đó ba năm làm tròn bổn phận của một tăng sĩ. Và
sau đó Thầy xin phép sư phụ lên đường về Kỳ Viên, với ước mong được gặp đức Thế
Tôn. Ðược sư phụ cho phép và kèm theo lời dặn dò, Thầy đến Kỳ Viên, đảnh lễ
Phật, được đức Phật đón tiếp thân mật và cho phép vào hương thất của Ngài một
mình.
Thầy Sona đi kinh
hành ngoài trời hầu như suốt đêm, gần sáng mới vào hương thất nằm nghỉ một
chút. Khi bình minh đến, đức Phật bảo Thầy hãy tụng bài kinh "Mười sáu
đoạn.”
Thầy đọc xong, đức
Phật cám ơn và ngợi khen "Hay thay! Hay thay!" Chư thiên,
trời, rồng, Dạ xoa cho tới cõi trời Phạm thiên đều ca ngợi Thầy vang rền. Lúc
ấy, tại nhà mẹ Thầy ở Avanti cách đấy một trăm hai mươi dặm, vị thần cư ngụ
trong nhà cũng ngợi khen nhiệt liệt. Bà mẹ Thầy hỏi:
- Ai đang ca tụng
vậy?
- Dạ tôi đây, thưa
chị.
- Ông là ai?
- Tôi là vị thần cư
ngụ tại nhà chị đây.
- Từ trước tôi chẳng
được nghe ông ca ngợi, sao hôm nay ông làm thế?
- Không phải tôi ca
ngợi bà chị đâu?
- Vậy ông ca ngợi ai?
- Trưởng lão
Kutikanna Sona, con trai chị đấy.
- Con tôi đã làm được
gì?
- Hôm nay Tôn giả ở
trong hương thất đức Như Lai, tụng kinh cho Ngài, và được Ngài hài lòng ngợi
khen, do đó tôi cũng ngợi khen. Chư thiên các tầng trời từ cõi Ta bà
đến cõi Phạm thiên nghe lời ngợi khen của đức Tối Thắng, cũng ca ngợi Tôn giả.
- Này, có thật ông
nói rằng con tôi đọc kinh cho đức Thế Tôn? Hay đức Thế Tôn đọc cho con tôi
nghe?
- Con chị đọc cho đức
Thế Tôn nghe đó chứ.
Vị thần nói thế làm
bà cảm thấy thâm tâm hoan hỷ, nghĩ thầm:
- Nếu con ta đã đọc
kinh cho đức Thế Tôn tại hương thất của Ngài, chắc cũng sẽ đọc kinh cho ta nghe
được. Khi nào con ta trở về, ta sẽ yêu cầu được nghe giáo lý.
Khi được đức Thế Tôn
khen ngợi, Trưởng lão Sona nghĩ thầm, "Ðây chính là lúc mình bạch lên đức
Phật lời Thầy mình đã đặn dò.” Tôn giả bèn thỉnh cầu đức Phật ban cho năm ân
huệ, điều đầu tiên là xin gia nhập nhóm năm Thầy Tỳ kheo đang ẩn cư trong rừng,
trong nhóm này có một Thầy rành thông Luật tạng. Tôn giả lưu lại bên đức Thế
Tôn ít ngày nữa rồi bái biệt, rời Kỳ Viên trở về với Thầy Tế độ. Ngày hôm sau,
Tôn giả theo Thầy đi khất thực, đến trước cửa nhà thân mẫu. Thấy con, bà hết
sức vui mừng, hỏi han, săn sóc chu đáo, và nói:
- Này con, nghe đâu
con được vào hương thất đức Thế Tôn một mình và đọc kinh cho Ngài nghe phải
không?
- Thưa tín nữ, ai nói
việc ấy?
- Con à, vị thần cư
ngụ tại nhà ta lớn tiếng khen ngợi, mẹ bèn hỏi "Ai khen ngợi đó.” Thần trả
lời "Tôi đây", rồi thần bảo mẹ như vầy như vầy. Sau khi nghe thần
nói, mẹ nghĩ: "Nếu con ta đã đọc kinh cho đức Thế Tôn thì nó sẽ đọc cho ta
nghe được.” Con à, con đã đọc kinh cho đức Thế Tôn thì con đọc cho mẹ nghe được
chứ! Vào ngày ấy tháng ấy mẹ sẽ chuẩn bị mọi thứ để nghe con thuyết giảng pháp
nhé!
Thầy nhận lời. Sau đó
bà cúng dường chư Tăng trọng thể, cho xây cất một Pháp đường rộng lớn, đem tất
cả gia quyến đi nghe Tôn giả Sona thuyết pháp, chỉ chừa lại một người tớ gái
trông nhà.
Lúc ấy, một đảng cướp
chín trăm tên luôn luôn tìm cách lẻn vào nhà bà. Nhưng thật khó mà vào được vì
toàn thể ngôi nhà có bảy lớp tường bao bọc, mỗi cửa thảy đều có chó dữ canh chừng.
Những đường mương dẫn nước đều đổ đầy chì. Ban ngày chúng nóng chảy thành chất
nước sền sệt, ban đêm thì đông cứng lại. Gần các mương ấy người ta đóng từng
hàng cọc sắt kiên cố. Do đó trộm cướp khó có thể vào nhà.
Nhưng vào ngày đặc
biệt đó, biết rằng bà đi nghe giảng pháp, chúng đào một địa đạo xuyên qua đường
mương bằng chì và hàng cọc sắt, vào tận trong nhà. Chúng để tên đầu đảng canh
chừng nữ chủ, bàn bạc rằng nếu thấy bà chủ trở về khi biết có cướp vào nhà thì
tên đầu đảng phải giết bà lập tức.
Hắn bèn đi đến nhà
giảng pháp, đứng kế bên bà chủ nhà. Còn bọn cướp vào nhà được rồi thắp đèn sáng
lên và mở cưa kho tiền đồng. Người tớ gái trông thấy chúng bèn chạy tìm nữ chủ
báo tin:
- Thưa phu nhân, bọn
cướp vào nhà và đang mở kho tiền đồng.
- Thây kệ chúng! Muốn
lấy bao nhiêu thì lấy. Ta đang nghe thuyết pháp, đừng làm rộn ta. Hãy về đi.
Khi bọn cướp hốt sạch
kho tiền đồng, chúng bèn ăn sang kho tiền bạc. Cô tớ gái lại chạy báo tin cho
chủ nhân. Bà cũng trả lời như trên và tiếp tục nghe giảng pháp. Bọn cướp lại
hốt hết kho tiền bạc, sang mở kho tiền vàng. Cô tới gái nóng ruột chạy đến báo
tin lần thứ ba, bà cũng nói:
- Con đã làm rộn ta
hai lần rồi. Ta đã bảo cứ để bọn cướp mang đi những gì chúng muốn, ta đang nghe
pháp, đừng làm ồn, vậy mà con không nghe. Nếu còn nói nữa ta sẽ phạt con đích
đáng đó. Hãy về nhà đi!
Tên đầu đảng nãy giờ
ở cạnh bà canh chừng, nghe thấy vậy bèn nghĩ thầm: "Nếu chúng ta lấy tài
sản của một người như bà này, trời Ðế Thích sẽ đánh vỡ đầu chúng ta.” Hắn trở
về ra lệnh cho đồng bọn trả tất cả tài sản cho bà. Bọn cướp lại để tiền đồng,
tiền bạc, tiền vàng đầy vào kho như cũ. Người ta nói rằng kẻ nào sống chân thật
thì được chính sự chân thật ấy bảo vệ, thật chí lý thay! Bậc Tối Thắng từng
nói:
Chân thật che chở
người ngay,
Người chân thật sống
ngày ngày đều vui.
Người ngay sẽ được
lợi thôi,
Khổ đau phiền não
chẳng lôi bao giờ.
Bọn cướp kéo đến
giảng đường nghe pháp. Ðến sáng, Tôn giả mới chấm dứt thời thuyết pháp và bước
xuống tòa. Lúc đó, tên đầu đảng quỳ dưới chân bà Phật tử mẹ Tôn giả:
- Xin phu nhân tha
thứ cho tôi.
- Chuyện gì vậy, đạo
hữu?
- Tôi ghét bà, và
đứng gần với ý định sẽ giết bà.
- Không sao. Tôi tha
thứ cho anh.
Tất cả bọn cướp cũng
đều đến bày tỏ sự ăn năn, bà đều tha thứ hết. Họ thưa:
- Thưa phu nhân, xin
bà cho chúng tôi được vào Tăng đoàn của vị giảng sư con trai bà.
Bà bèn đến bảo vị
giảng sư:
- Này con, những vị
hảo hán đây cảm động vì lòng tử tế của mẹ và bài thuyết giảng của con, muốn gia
nhập Tăng đoàn. Con hãy độ họ.
- Rất tốt.
Vị giảng sư cho cắt
hết những chiếc váy chúng mặc lót bên trong, còn áo ngoài thì cho nhuộm màu
vàng đất, rồi truyền giới cho chúng.
Khi bọn họ đã hoàn
tất nhiệm vụ của một Tăng sĩ giáo đoàn, Thầy cho mỗi người một đề mục Thiền
quán. Chín trăm Thầy Sa môn nhận chín trăm đề mục, lên trên một ngọn núi và mỗi
người ngồi dưới một cội cây Thiền định.
Lúc ấy, đức Thế Tôn ở
tại giảng đường Kỳ Viên, cách đó một trăm hai mươi dặm, quán sát các Thầy để
chọn bài pháp thích hợp căn cơ. Ngài hiện đến trước các Thầy, nói kệ:
(368) Tỳ kheo trú Từ
bi,
Tín thành giáo pháp
Phật,
Chứng cảnh giới tịch
tịnh,
Cách hạnh an tịnh
lạc.
(369) Tỳ kheo, tát
thuyền này,
Thuyền không, nhẹ đi
mau,
Trừ tham, diệt sân
hận,
Tất chứng đạt Niết
bàn.
(370) Ðoạn năm, từ bỏ
năm,
Tu tập năm tối
thượng,
Tỳ kheo vượt năm ái,
Xứng danh "vượt
bộc lưu.”
(371) Tỳ kheo, hãy tu
Thiền,
Chớ buông lung phóng
dật,
Tâm chớ đắm say dục,
Phóng dật, nuốt sắt
nóng,
Bị đốt, chớ than khổ!
(372) Không Trí tuệ,
không Thiền,
Không Thiền, không
Trí tuệ,
Người có Thiền, có
tuệ,
Nhất định gần Niết
bàn.
(373) Bước vào ngôi
nhà trống,
Tỳ kheo tâm an tịnh,
Thọ hưởng vui siêu
nhân,
Tịnh quán theo chánh
pháp.
(374) Người luôn luôn
chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỷ, hân
hoan,
Chỉ bậc Bất tử biết.
(375) Ðây Tỳ kheo có
trí,
Tu tập pháp căn bản,
Hộ căn, biết vừa đủ,
Gìn giữ căn bản giới,
Thường gần gũi bạn
lành,
Sống thanh tịnh tinh
cần.
(376) Giao thiệp khéo
thân thiện,
Cử chỉ mực đoan
trang,
Do vậy hưởng vui
nhiều,
Sẽ dứt mọi khổ đau.
8. Cỏ Úa, Hoa Phai
Như hoa Vassikà...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài ở tại Kỳ Viên, liên quan đến năm trăm vị Tỳ kheo.
Chuyện kể rằng, các
Thầy Tỳ kheo này sau khi khi được đức Thế Tôn cho đề mục Thiền định rồi, liền
lui vào rừng sâu và bắt đầu hành Thiền. Ðang ngồi Thiền, các Thầy trông thấy
những bông lài mới nở tươi tắn chỉ sáng nay thôi, chiều đã úa tàn rũ cánh gục
đầu. Các Thầy tự nghĩ: "Chúng ta phải diệt trừ được thâm sân si trước khi
những đóa hoa lìa cành.” Và các Thầy càng nỗ lực chuyên chú vào việc hành
Thiền, như vừa được tiếp thêm sức mạnh mới. Ðức Thế Tôn quán sát các Thầy Tỳ
kheo ấy và dạy rằng:
- Này các Tỳ kheo,
cũng như đóa hoa kia thoát khỏi cành, một vị Tỳ kheo cần phải gắng sức thoát
khỏi mối khổ sanh tử.
Vẫn ở tại hương thất,
Ngài phóng một đạo hào quang và nói kệ cho các Thầy Tỳ kheo:
(377) Như hoa
Vassikà,
Quăng bỏ cánh úa tàn,
Cũng vậy vị Tỳ kheo,
Hãy giải thoát tham
sân.
Nghe xong, tất cả năm
trăm Thầy Tỳ kheo đều đắc quả A la hán.
9. Vị Sa Môn Nhàn Tịnh
Thân tịnh, lời an
tịnh...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Santakaya.
Tỳ kheo Santakaya là
một vị Sa môn không bao giời mắc lỗi khiếm nhã trong cách đi đứng và mọi oai
nghi cử chỉ. Thầy không bao giờ ngáp lớn hoặc dang tay đưa chân thô tháo, luôn
luôn có vẻ điềm tĩnh, trang nhã. Chuyện kể rằng Thầy vốn được sanh ra từ bụng
một con sư tử. Loài sư tử mỗi khi kiếm được mồi, chúng thường vào trong những
động vàng bạc châu báu, mã não và nằm ở đấy bảy ngày trên một lớp bột vàng trộn
với bột hoàng thạch. Ngày thứ bảy, khi trỗi dậy, chúng quan sát chỗ nằm, nếu
thấy có dấu vết di chuyển của đuôi, tai, hoặc bốn chân làm bụi bột tung tóe,
chúng liền tự bảo: "Thế này là chưa xứng với dòng dõi của mình.” Và ở lại
nhịn đói thêm bảy ngày nữa, giữ gìn cẩn thận hơn. Cho đến khi không thấy bụi
bột dấy lên, chúng tự nói "Ðây mới xứng với dòng dõi của ta.” Chúng mới
rời ổ, ngáp và duỗi tay chân, quan sát tứ phía, rống lên ba tiếng và đi tìm
mồi. Ðược sanh từ bụng một con sư tử như thế nên Thầy luôn có vẻ điềm tĩnh.
Tư cách trang nhã của
Thầy khiến các Thầy khác chú ý và đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, chúng
con không hề thấy Sa môn nào như Thầy Santakaya. Khi Thầy đi đứng, không bao
giờ Thầy lúc lắc tay chân, không hề ngáp và quơ tay, đá giò...
Ðức Phật bảo:
- Này các Tỳ kheo,
một vị Sa môn nên như Trưởng lão Santakaya, an tịnh trong khi đi đứng, trong
lời nói, tư tưởng.
Ngài nói kệ:
(378) Thân tịnh, lời
an tịnh,
An tịnh, khéo Thiền
tịnh,
Tỳ kheo bỏ thế vật,
Xứng danh "bậc
tịch tịnh.”
10. Vị Sa Môn Và Chiếc Khố Rách
Tự mình chỉ trích
mình...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Trưởng lão Nangalakula.
Thuở ấy, có một người
nghèo khổ chuyên đi làm thuê. Một ngày kia có vị Sa môn thấy anh đang đi trên
đường, trên người chỉ đóng chiếc khố rách, vai vác cái cày. Vị Sa môn hỏi:
- Nếu anh chỉ kiếm
sống bằng cách ấy, sao không đi tu cho khỏe?
- Bạch Ngài, ai mà
chịu cho con, một người làm thuê đi tu?
- Nếu anh muốn, ta sẽ
độ cho.
- Thật là tốt phước
cho con. Nếu Ngài độ con xuất gia, con xin làm Sa môn.
Vị Sa môn đem người
cày thuê về Tinh xá Kỳ Hoàn tự tay tắm rửa cho y. Vị Sa môn bảo chú Sa di mới
hãy treo chiếc khố rách với cái cày trên một nhánh cây gần tịnh thất. Từ đó
Thầy có tên là Nangalakula, Tôn giả "Thợ Cày.”
Sau một thời gian
sống trong tu viện, với những thực phẩm cúng dường sung túc, Tôn giả "Thợ
Cày" trở nên bất mãn. Không chống chọi nổi sự dày vò, Thầy nhủ thầm:
"Ta không muốn đắp chiếc y vàng do đàn việt cúng nữa.” Thầy đến dưới gốc
cây, và tự sỉ nhục mình: "Mi thật xấu xa, không thành tâm chút nào. Bộ mi
muốn mặc chiếc khố rách này, trở về thế tục để làm thuê hay sao?" Sau khi
tự cảnh tỉnh mình, Thầy lại trở về tu viện, hăng hái tu hành. Vài hôm sau, cơn
bất bình lại kéo đến. Thầy cũng ra gốc cây nhìn chiếc khố rách và tự khiển
trách như trước. Cứ thế, mỗi khi buồn bực, Thầy đến gốc cây để lại lấy ý chí.
Các vị Sa môn để ý
Thầy thường lui tới gốc cây, bèn hỏi:
- Này huynh Thợ Cày,
huynh đến đó làm gì thế?
- Thưa chư vị, tôi
đến viếng vị giáo thọ của tôi.
Vài hôm sau, Thầy
chứng A la hán. Các vị Sa môn thấy Thầy không đến gốc cây bèn hỏi đùa:
- Này huynh, lâu nay
không thấy huynh lui tới đường này, chắc huynh không đến vị giáo thọ nữa?
- Thưa vâng, khi tôi
còn vướng bận thế gian, tôi thường lui tới đường này. Nhưng nay tôi chẳng còn
liên hệ gì với thế gian nữa, tôi không cần phải đi.
Các vị Sa môn nghe
thế đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
ấy nói điều không thật, Thầy ấy vọng ngữ.
Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
Thầy ấy nói đúng. Thầy ấy đã tự khuyên răn mình và đã đạt được Thánh quả.
Ngài nói kệ:
(379) Tự mình chỉ
trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỳ kheo tự phòng hộ,
Chánh niệm, trú an
lạc.
(380) Tự mình y chỉ
mình,
Tự mình đi đến mình,
Vậy hãy tự điều phục,
Như khách buôn ngựa
hiền.
11. Người Thấy Chánh Pháp Là Thấy Ta
Tỳ kheo nhiều hân
hoan...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Trưởng lão Vakkali.
Tại thành Xá Vệ, có
một thanh niên dòng Bà la môn. Một ngày nọ, chàng thấy đức Như Lai đi và thành
khất thực. Trông tướng hảo uy nghiêm của đức Phật, chàng rất yêu thích, và chán
ghét hình ảnh của mình, chàng nghĩ thầm: "Ta sẽ tình cách để được nhìn đức
Như Lai suốt ngày.” Chàng bèn theo Phật xuất gia và ở trong Tăng đoàn. Thầy Sa
môn này cứ luôn luôn tìm chỗ đứng có thể chiêm ngưỡng đức Thế Tôn, chẳng màng
đến kinh kệ và Thiền định. Ðức Như Lai biết vậy, và đợi cho Trí tuệ của Thầy
thuần thục, Ngài không nói một lời. Ngày nọ, đức Phật nghĩ:
"Bây giờ Trí tuệ
của Thầy ấy đã thuần thục.” Ngài bèn bảo:
- Này Vakkali, đâu có
gì thích thú khi ngắm một hợp thể bất tịnh gọi là thân Ta? Này Vakkali, ngườì
nào thấy pháp là thấy Ta.
Nhưng mặc lời khuyên
của đức Như Lai, Thầy Vakkali vẫn không thể rời tia mắt khỏi đức Phật, hoặc lìa
khỏi chỗ Phật ngồi. Cuối cùng đức Phật nghĩ:
"Thầy Sa môn này
sẽ không bao giờ tỉnh ngộ, trừ phi gặp một cơn xúc động lớn.” Lúc ấy, mùa an cư
đã đến, đức Như Lai tìm nơi an cư. Ngài về thành Vương Xá, đuổi Thầy Vakkali
trở lại Trúc Lâm. Và suốt ba mùa trăng, Vakkali không được thấy Phật, không
được nghe Ngài nói. Buồn quá, Thầy sinh ra ý tưởng muốn tự tử. Thầy bèn leo lên
ngọn Linh Thứu và định nhảy xuống chết.
Ðức Thế Tôn biết Thầy
quá đau khổ và chán đời, Ngài nghĩ thầm: "Nếu Thầy Vakkali không được sự
an ủi của ta, thấy sẽ làm hỏng cả dịp chứng quả Thánh.” Lập tức Ngài bèn hiện
thân trước Thầy Vakkali, lúc đó đang toan đâm đầu xuống núi. Vừa thấy đức Như
Lai, Thầy liên cảm thấy yêu đời, nỗi buồn khổ tiêu tan. Và như rót đầy nước vào
một đáy hồ khô cạn, đức Như Lai đã làm tuôn dậy mối hoan hỷ trong lòng Thầy.
Ngài nói kệ:
(381) Tỳ kheo nhiều
hân hoan,
Tịnh tín giáo pháp
Phật,
Chứng cảnh giới tịch
tịnh,
Các hạnh an tịnh lạc.
Ðức Như Lai đưa tay
về phía Thầy Vakkali và bảo:
Ðến đây Vakkali!
Nhìn Như Lai chớ sợ.
Ta sẽ đưa tay đỡ
Như kéo voi sa lầy
Vakkali, đến đây!
Nhìn Như Lai chớ sợ.
Ta giúp ngươi giải
thoát,
Như gỡ được mặt trời,
Ra khỏi cơn nhật
thực.
Ðến đây, Vakkali
Nhìn Như Lai chớ sợ.
Ta sẽ giải thoát
người,
Như gỡ vầng trăn tỏ
Cho khỏi bị nguyệt
thực.
Thầy Vakkali nghĩ
thầm: "Ta vừa thấy được đấng Thập Lực, và Ngài bảo ta hãy đến bên
Ngài!" Lòng Thầy tràn ngập hân hoan. "Ta làm sao đến được?",
Thầy tự nghĩ thế. Ðứng trên đỉnh núi cao, dù chẳng thấy có đường đi, Thầy tung
mình nhảy vào không trung đến trước mặt đấng Thập Lực ngay khi vừa nghe những
chữ đầu của câu Pháp Cú. Và trong lúc đang bay, suy niệm bài kệ của đức Thế
Tôn, Thầy chế ngự được cơn hoan lạc và chứng A la hán cùng một lúc với các thần
thông. Và đầy lòng cảm thán đức Như Lai, Thầy hạ xuống đất, đảnh lễ đức Phật.
Thế Tôn xếp Thầy đệ nhất trong hàng đệ tử có lòng tin chân thật.
12. Vị Sa Môn Và Long Vương
Tỳ kheo tuy nhỏ
tuổi...
Thế Tôn dạy những lời
này khi Ngài đang ở tại Pubbarama, liên quan đến Sa di Sumana
Chuyện quá khứ:
A. Chàng Annabhhàra
Nghèo Khổ Và Quan Chưởng khố Sumana Giàu Có
Vào thời Phật
Padumuttara, có một thanh niên gặp Phật vào lúc Ngài đang ở giữa tứ chúng tuyên
bố một Thầy Tỳ kheo nọ là Thiên nhãn đệ nhất. Lòng mong muốn đạt đến địa vị ấy,
chàng thỉnh Phật và chúng Tỳ kheo đến nhà thọ thực suốt bảy ngày, rồi phát
nguyện: "Bạch Thế Tôn, con nguyện xin được thành Thiên nhãn đệ nhất dưới
thời một vị Phật tại thế.”
Ðức Phật Padumuttara
quán sát rồi thọ ký:
- Một trăm ngàn kiếp
nữa, dưới thời Phật Thích Ca, người thanh niên này sẽ được Thiên nhãn đệ nhất,
mang tên A Na Luật.
Sau khi được thọ ký,
mỗi ngày chàng đều cảm thấy như sẽ được đắc thần thông vào ngày mai. Phật nhập
Niết bàn rồi, chàng hỏi các Thầy Tỳ kheo phải tu hành như thế nào để đắc Thiên
nhãn thông. Chàng cho thắp đuốc thành vòng tròn bảy hải lý quang ngôi tháp vàng
thờ Phật, lấy ánh sáng tôn vinh Ngài. Hết kiếp ấy, chàng thọ sanh lên cõi trời.
Sau nhiều kiếp tái sanh suốt một trăm ngàn kiếp, chàng đầu thai vào một nhà
nghèo ở Ba La Nại. Chàng khuân vác cỏ mướn cho quan Chưởng khố Sumana nên có
tên là annabhàra, người khuân vác cỏ ăn. Quan Chưởng khố Sumana thường cúng
dường bố thí rộng rãi tại đôi thị này.
Một hôm, đức Phật Ðộc
Giác Uparittha xuất diệt tận định, và tự quán sát: "Hôm nay ta sẽ độ
ai?" Một tư tưởng liền đến trong đầu Ngài: "Hôm nay ta sẽ độ
annabhara", và Ngài tiếp tục quán sát: "Lúc này Annabhara đang mang
cỏ cắt trong rừng về.” Ngài bèn lấy y bát, dùng thần thông bay đến trước mặt
Annabhara. Chàng thấy bát trống trong tay Ngài, bèn thưa:
- Bạch Ngài, Ngài
chưa được cúng dường ư?
- Ta đang khất thực,
hỡi chàng trai tốt phước.
- Vậy thì, bạch Ngài,
xin Ngài đợi giây lát.
Ném bó cỏ, chàng vội
vã về nhà hỏi vợ:
- Mình ơi, có để dành
phần ăn cho tôi không?
- Dạ có ạ.
Annabhara lại vội
quay về gặp vị Phật Ðộc Giác, đỡ lấy bát của Ngài. Chàng nghĩ thầm: "Lâu
nay mỗi lần muốn cúng dường, mình không có gì để cúng. Còn khi có vật thực để
cúng, mình lại chẳng gặp được vị nào. Hôm nay mình có được cả hai, thật may mắn
làm sao!” Chàng về đến nhà, múc cơm vào bình bát, mang đến cúng dường đức Phật,
phát nguyện:
- Bạch Ngài, xin cho
con được thoát khỏi cuộc sống đọa đày hiện nay của con. Xin cho con đừng bao
giờ phải nghe tiếng "không có.”
Vị Phật Ðộc giác liền
hồi hướng công đức cho chàng:
- Này thiện nam tử,
sẽ được vậy.
Vị thần trú trong
chiếc lọng của quan Chưởng khố Sumana kêu lên:
- Ôi đức Phật
Uparittha được cúng dường món vật thực cao quý biết bao!
Và thần ba lần tán
thán Annabhara.
Quan Chưởng khố hỏi:
- Lâu nay ông không
thấy ta bố thí sao?
Thần đáp:
- Chẳng phải tôi tán
thán ông cúng dường đâu. Tôi đang ca ngợi chàng Annabhara cúng dường Phật
Uparittha đấy.
- Hay thay! Ta đã cúng
dường biết bao nhiêu từ trước đến giờ thần chẳng ca ngợi. Còn chàng Annabhara
làm mướn cho ta chỉ cúng một bữa ăn lại được khen. Ta sẽ trả giá mua phần cúng
dường này về phần ta.
Quan Chưởng khố cho
gọi Annabhara đến hỏi:
- Hôm nay, anh có
cúng dường ai không?
- Thưa ông chủ có ạ.
Tôi đã cúng dường phần cơm tôi cho Phật Ðộc Giác Uparittha.
- Anh cầm đồng xu này
và nhường cho tôi phần cúng dường ấy nhé!
- Thưa ông, không
được đâu.
Quan Chưởng khố tăng
giá lên một ngàn đồng, Annabhara vẫn không chịu. Ông bèn nói:
- Thôi được rồi, nếu
anh không nhường phần cúng dường ấy thì hãy lấy một ngàn đồng này và hồi hướng
cho tôi phần phước vậy.
- Xin ông hãy để tôi
hỏi ý kiến Ngài rồi quyết định ạ.
Chàng chạy đến gặp
đức Phật Ðộc Giác.
- Bạch Ngài, quan
Chưởng khố trao con một ngàn đồng và yêu cầu hồi hướng công đức cho ông ấy. Con
phải làm sao?
Ðức Phật dùng thí dụ
đáp:
- Như trong làng kia
có một trăm nhà, một người chỉ thắp một ngọn đèn nhà mình rồi các nhà khác đến
đó châm đèn mang về. Vậy ánh sáng đó phải của ngọn đèn dầu đầu tiên không?
- Bạch Ngài trong
trường hợp ấy ánh sáng của cây đèn đầu tiên đã gia tăng lên.
- Thiện nam tử, việc
cúng dường của anh cũng thế. Dù một môi cháo, một muỗng cơm, khi ta hồi hướng
phước đức do công cúng dường ấy qua những người khác, phước sẽ gia tăng theo số
người được hồi hướng. Ðây anh chỉ cúng dường một phần ăn. Nhưng khi anh hồi
hướng quan Chưởng khố phước đức ấy thì nó tăng lên gấp đôi, một thuộc về anh và
một thuộc quan Chưởng khố.
- Bạch Ngài, quý hóa
quá.
Annabhàra từ giã vị
Phật Ðộc Giác đến gặp quan Chưởng khố:
- Thưa ông, xin ông
hãy nhận phần phước đức cúng dường của tôi.
- Ðây anh cầm lấy
tiền.
- Tôi không bán đâu
ạ. Tôi tặng ông phần phước đức ấy là từ lòng tin của tôi thôi.
- Vậy cũng tốt. Về
phần tôi, tôi cảm phục nhân cách cao quý của anh lắm. Anh bạn, hãy nhận số tiền
này đi. Từ nay anh khỏi cần cực nhọc làm thuê mướn cho tôi nữa. Anh hãy cất một
căn nhà nơi đường phố lớn mà ở. Lúc nào cần thức gì, anh cứ lại kho tôi lấy.
Aáy là quả hiện báo
do cúng dường bữa ăn cho một vị xuất định diệt thọ tưởng. Nhà Vua nghe chuyện
cũng cho gọi Annabhàra đến, xin chàng một phần phước đức, ban thưởng chàng rất
hậu và cho làm chức Chưởng khố.
Bây giờ Annabhàra là
bạn hữu của quan Chưởng khố Sumana. Chàng tiếp tục làm việc phước thiện cho đến
khi mãn kiếp, được thọ sanh lên cõi trời. Qua nhiều lần tái sinh trong cõi trời
và người, chàng thọ sanh vào một gia dình hoàng tộc dòng Thích Ca, hoàng thân
Amitodana, tại thành Ca Tỳ La Vệ, dưới thời đức Phật hiện tại. Sau mười tháng
cưu mang, phu nhân Amitodana mới sinh chàng, đặt tên A Na Luật. Tôn giả là em
út vương tử Mahanam, anh em chú bác của Phật. Tôn giả được nuôi dưỡng trong sự
chăm sóc cưng chiều, là vị vương tử có phước báo rất lớn.
Chuyện hiện tại:
B. A Na Luật Xuất Gia
Một hôm sáu vị vương
tôn chơi đánh bạc ăn bánh, A Na Luật thua, nhờ người đi xin bánh nơi thân mẫu.
Phu nhân sắp đầy bánh vào một đĩa vàng lớn đem đến. Các vương tôn ăn bánh xong
chơi tiếp. A Na Luật thua, lại xin bánh. Phu nhân ba lần cho mang bánh tới, lần
thứ tư bà nhắn: "Không có bánh nữa.” Chưa bao giờ nghe chữ "không
có" nên nghe mẫu thân nhắn, chàng tưởng tượng: "Chắc có thứ bánh gọi
là "không có" bèn bảo người hầu:
- Ði xin ít bánh
"không có" Phu nhân nghe vậy bèn nghĩ: "Con ta chưa hề nghe
tiếng "không có.” Ta làm sao giảng cho nó hiểu đây?”
Phu nhân rửa sạch một
chiếc bát vàng, lấy chiếc bát vàng khác úp lên, rồi bảo người hầu đem đi nói:
- Ðây, con trao cái
này cho cậu.
Lúc ấy, chư thiên cõi
trời giữ thành tự nghĩ: "Trong kiếp trước, chủ nhân chúng ta là Annabhàra
đã cúng dường phần thức ăn mình cho vị Phật Ðộc Giác Uparittha, và phát nguyện:
"Xin đừng bao giờ nghe tiếng "không có.” Chúng ta biết hết đầu đuôi
câu chuyện mà có thái độ thờ ơ, coi chừng đầu nứt thành bảy miếng. Nghĩ vậy,
chư thiên bèn cho vào chiếc tô ấy đầy những chiếc bánh chư thiên vẫn dùng.
Người hầu mang tô đến, đặt trước mặt sáu vị vương tôn và mở ra. Mùi bánh thơm
ngào ngạt khắp cả kinh thành. Hơn thế, mỗi miếng bánh được cho vào miệng liền
gây cảm giác khoan khoái cho đủ cả bảy ngàn dây thần kinh vị giác.
Vương tử A Na Luật
nghĩ thầm: "Ðúng là lâu nay mẹ không thương mình, chưa bao giờ mẹ làm cho
mình ăn thứ bánh "không có" này.
Chàng đến gặp mẹ,
hỏi:
- Mẹ ơi, mẹ không
thương con phải không?
- Kìa con, nói gì
vậy? Mẹ cưng con hơn mắt mẹ, quý con hơn tim mẹ mà.
- Mẹ thân yêu ơi, nếu
mẹ thương quý con, sao trước giờ mẹ không cho con ăn thứ bánh "không
có" này?
Phu nhân hỏi người
hầu:
- Này con, trong
chiếc bát có gì không?
- Thưa phu nhân, có.
Trong bát đầy những chiếc bánh con chưa từng thấy bao giờ.
Phu nhân suy nghĩ:
"Con ta thường làm việc thiện. Chắc chư thiên đã cho bánh của các vị.”
Vương tử A Na Luật
lại bảo:
- Mẹ thân yêu ơi, con
chưa bao giờ được ăn thứ bánh ấy. Từ rày mẹ chỉ chiên bánh này cho con ăn thôi
nhé.
Về sau mỗi khi cậu đòi
"cho con ăn bánh", phu nhân lại rửa sạch một chiếc bát vàng, lấy
chiếc bát vàng khác úp lên cho mang đến, và chư thiên lại sắp đầy bánh của cõi
trời vào bát. Cậu cứ thế sống trong sự chăm chút nâng niu của gia đình, chẳng
bao giờ biết đến nghĩa chữ "không có", và ăn toàn bánh chư thiên.
Khi nhiều vị vương
tôn công tử thuộc hoàng tộc Thích Ca nối tiếp nhau lần lượt xuất gia, nhập vào
Tăng đoàn đức Thế Tôn, Ngài Mahanam đến gặp cậu em A Na Luật bảo:
- Này em, gia đình ta
chưa có ai xuất gia làm Sa môn. Hai anh em mình phải có một người xuất gia theo
Phật mới được.
Cậu đáp:
- Từ trước tới giờ em
quen sống được chăm sóc chu đáo. Em không thể xuất gia làm Sa môn được đâu anh.
- Thế thì em coi sóc
ruộng vườn đi, anh sẽ xuất gia.
- Coi sóc ruộng vườn
là làm sao?
Cậu không biết đến cả
chuyện thực phẩm từ đâu có, làm sao biết việc trông nom ruộng vườn?
Có lần ba vương tử A
Na Luật, Bạt Đề và Kiếp Tân Na bàn tán về vấn đề: "Cơm từ đâu có?” Kiếp
Tân Na nói trước:
- Cơm lấy từ kho ra.
(Kiếp Tân Na từng
thấy người ta đem gạo chất vào kho nên tưởng rằng cơm từ kho mà có).
Bạt Đề bảo Kiếp Tân
Na:
- Cậu chẳng biết gì
cả. Cơm lấy từ trong nồi cơm. (Một hôm Bạt Đề thấy cơm được bới từ nồi nấu cơm
ra nên bảo cơm từ nồi mà có).
A Na Luật bảo hai
vương tử:
- Các cậu đều không
biết gì. Cơm lấy từ chiếc liễn vàng có quai nạm ngọc kia. (Cậu chưa từng thấy
người ta giã gạo hay nấu cơm, chỉ thấy cơm sau khi đã được múc từ nồi nấu ra,
đặt trước mặt cậu trong chiếc liễn vàng).
Như vậy, làm sao vị
vương tôn có phước báo lớn này lại rành chuyện ruộng vườn?
Vương tử Mahanam bảo:
- Này A Na Luật, anh
sẽ cho em hay một gia chủ phải làm gì nhé! Trước hết em cho cày ruộng..
Ông bắt đầu giảng
giải cho em nghe các thứ công việc. Nghe anh liệt kê một dọc nhiệm vụ công tác
mà một vị chủ nhân phải đảm đương, cậu nói:
- Em chẳng làm xong
vai trò chủ nhân ấy đâu.
Em xin phép mẫu thân
xuất gia làm Sa môn. Cùng với năm ông hoàng khác của dòng Thích Ca, cậu từ giã
thành Ca Tỳ La Vệ, trước hết đến vườn xoài Anupiya gặp Phật xin xuất gia. Tôn
giả tu hành tinh tấn và sau một thời gian chứng Tam minh. Tôn giả có thể dùng
Thiên nhãn thấy suốt ba ngàn đại thiên thế giới dễ dàng như ngắm trái cây trong
lòng bàn tay. Ngồi trên đơn, Tôn giả ngâm kệ:
Ta biết hết đời ta
những kiếp trước
Ta đã đắc thiên nhãn,
đắc thần thông.
Tam thông ta đạt, và
ta thấu triệt.
Giáo pháp nhiệm mầu
của đức Thế Tôn.
Rồi Tôn giả suy nghĩ:
"Ta đã làm những gì để được như vậy?” Liền khi ấy, Tôn giả biết: "Vào
thời Phật Padumuttara, ta đã có lời phát nguyện. Sau thời gian luân hồi qua lại,
ta được tái sanh ở Ba La Nại vào thời nọ và sống bằng nghề làm mướn cho quan
Chưởng khố Sumana. Tên ta là Annabhàra.”
Tôn giả ngâm kệ tiếp:
Trong một kiếp ta là
người cắt cỏ
Tên Annabhàra, kẻ làm
mướn nghèo cùng
Ta đã cúng dường bữa
cơm thật khiêm nhường
Cho vị Phật Uparittha
danh tiếng.
Bỗng Tôn giả chợt
nghĩ: "Quan Chưởng khố Sumana bây giờ ở đâu? Ông đã tặng ta tiền đổi lấy
phần cơm ta cúng dường Phật Uparittha, và nhận phần phước đức cúng dường ấy.”
Tôn giả liền thấy được quan Chưởng khố ngay: "Nơi rừng Vinjha, tại một
chân núi ở thị trấn Munda, có Phật tử tên là Mahà Munda. Con trai lớn của ông
tên là Mahà Sumana, còn người con trai thứ tên là Culla Sumana, chính là quan
Chưởng khố Sumana tái sinh.”
Thấy được quan Chưởng
khố rồi, Tôn giả nghĩ tiếp: "Ta có nên đến đấy không?" Tôn giả quán
sát và thấy rằng khi Tôn giả vừa gặp, Culla Sumana tuy mới bảy tuổi cũng sẽ
xuất gia và đắc quả A la hán rất nhanh. Quán sát xong xuôi, vì mùa mưa sắp đến,
Tôn giả dùng thần thông bay đến cổng làng.
Chuyện hiện tại:
C. Sa di Sumana Và
Long Vương
Trong một kiếp quá
khứ, Phật tử Mahà Munda là bạn thân của Tôn giả A Na Luật. Do đó, đến giờ khất
thực, thấy Tôn giả đắp y, ông bảo người con trai lớn là Mahà Sumana:
- Này con, Trưởng lão
A Na Luật tôn quý của cha đã đến. Nếu thấy chưa có ai cầm bát Ngài, con hãy ra
đỡ bát đem vào đây, cha sẽ sửa soạn chỗ ngồi cho Ngài.
Mahà Sumana vâng lời.
Phật tử Munda tiếp rước cúng dường hết sức chu đáo, và thỉnh Tôn giả ở lại an
cư mùa mưa. Ngài nhã nhặn nhận lời. Suốt ba tháng an cư, vị Phật tử thuần thành
chăm sóc Tôn giả cung kính tận tình như chỉ mới một ngày vậy.
Ðến buổi đại lễ
Pavàranà, ông đem đường mật, dầu ăn, gạo.v.v.. đặt dưới chân Tôn giả, thưa:
- Bạch Ngài, xin Ngài
nhận những phẩm vật này.
- Thôi đủ rồi, đạo
hữu, tôi chẳng dùng các thứ này mấy.
- Bạch Ngài, đây là
phần thường cúng dường cho các vị an cư. Thỉnh Ngài nhận cho con.
- Thôi đủ rồi, đạo
hữu ạ.
- Bạch Ngài, sao Ngài
không nhận?
- Tôi không có Sa di
Thị giả.
- Bạch Ngài, vậy xin
cho con trai tôi, Mahà Sumana, làm Sa di Thị giả Ngài.
- Này đạo hữu, Mahà
Sumana chắc không được.
- Vậy xin Ngài nhận
Culla Sumana vào Tăng đoàn.
- Tốt lắm.
Tôn giả nhận lời rồi,
cho Culla Sumana xuất gia. Chưa bao lâu cậu đã đắc quả A la hán. Tôn giả ở lại
thêm nửa tháng rồi nghĩ: "Ta sẽ về thăm đức Thế Tôn.” Từ biệt gia quyến
ông Mahà Munda, Tôn giả bay đến vùng Hy Mã, và đáp xuống ở Arannakutika.
Tôn giả vốn tính rất
năng động nên sau một đêm kinh hành vào giấc đầu hôm và giấc khuya, Tôn giả bị
chứng khó tiêu. Chú Sa di để ý thấy Thầy tái xanh, hốc hác, bèn thưa hỏi:
- Bạch Thầy, Thầy bị
bệnh sao ạ?
- Ta bị khó tiêu.
- Bạch Thầy, có bao
giờ Thầy bị bệnh này chưa?
- Có.
- Bạch Thầy, lấy
thuốc gì chữa?
- Này chú, nếu ta
uống nước hồ Anotatta thì ổn ngay.
- Vậy con sẽ đi kiếm
nước ấy.
- Này Sa di, chú có
làm được không?
- Bạch Thầy, được ạ!
- Thế thì long vương
Pannaka đang ở hồ Anotatta biết ta. Hãy cho vị ấy biết là chú đến xin một bình
nước làm thuốc.
- Vâng ạ.
Chú Sa di đảnh lễ
Thầy, bay lên không trung đến hồ Anotatta cách đó năm trăm hải lý.
Hôm ấy long vương
đang định mở hội vui chơi dưới nước, có ca vụ giúp vui. Do đó thấy chú Sa di
đến gần, long vương nổi giận, nói thầm: "Tên Sa di trọc đầu kia đi lung
tung chân bắn cả bụi đất lên đầu ta. Chắc hẳn kiểu này là đi lấy nước ở hồ Anotatta
về uống đây. Ðược, ta sẽ chẳng cho hắn một giọt nào tất.” Long vương bèn nằm
xuống, giương vây ra che kín hết cái hồ rộng đến năm mươi hải lý, như ta lấy
chiếc dĩa lớn đậy lên cái ấm. Chú Sa di quan sát thấy cung cách Long Vương, bèn
nghĩ: "Ngài đang giận.” Chú nói kệ:
Hãy nghe, hỡi Long
vương!
Kẻ sức mạnh phi
thường
Và sức nóng kinh
khiếp,
Ta vượt bao dặm đường
Ðến xin người chút
nước
Vì chữa bệnh Thầy ta.
Long vương đáp:
- Nơi phía đông có
dòng sông hùng mạnh,
Tuôn chảy ra biển cả,
gọi sông Hằng,
Ðến đấy đi, đến lấy
nước mà uống!
Chú Sa di nghe, nghĩ
thầm: "Con rồng này không muốn cho ta nước. Vậy phải dùng vũ lực, hiện đại
thần thông lấy nước mới được.” Chú bảo Long vương:
- Ðại vương, Thầy tôi
dạy phải lấy nước hồ Anotatta chứ không lấy ở đâu khác. Giờ tôi phải lấy nước
này thôi. Ðại vương đi đi, chớ kiếm cách cản trở tôi mãi.
Chú nói kệ:
Chỉ nước hồ này tôi
mới lấy
Chỉ nước hồ đây tôi
mới cần
Nếu đủ quyền năng và
sức mạnh
Tự điều phục đi, hỡi
rồng thần!
Long vương đáp:
Sa di! Lời ngươi ta
tán thán.
Nếu ngươi đủ sức, đủ
trưởng thành,
Thì nước hồ ta, ngươi
cứ lấy,
Trổ tài cho xứng bực
hùng anh.
Sumana trả lời:
- Ðại vương, vậy thì
tôi lấy nước đây.
Long vương thách:
- Ngươi lấy được cứ
lấy.
- Ðược lắm. Quyết
định chắc chắn một lời thôi đấy.
Chú buộc long vương
phải nói ba lần như trên. Rồi chú tự nghĩ: "Ta cần phải biểu dương sức
mạnh giáo pháp Phật Đà ngay trong chuyện lấy nước này.” Chú bay lên trời gặp
chư thiên. Chư thiên đảnh lễ chú, thưa:
- Bạch Ngài, Ngài cần
gì?
- Sắp có trận chiến
xảy ra giữa tôi và long vương Pannaka, ngự ở hồ Anotatta. Mời chư vị đến xem ai
thắng bại.
Cứ thế, chú đi mời Tứ
Thiên Vương, Ðế Thích, Suyyama, Santusita, Paranimmita - Vasavatì, và nói như
trên. Rồi chú đi xa hơn, đến tận chín cõi trời Phạm Thiên. Chín vị Phạm thiên
đều đến đảnh lễ chú và thưa:
- Bạch Ngài, Ngài cần
gì?
Chú lại nói như trên.
Như vậy, chú qua hết các thế giới chỉ trong chốc lát, viếng tất cả cõi trời,
trừ ra cõi Vô Tưởng và cõi Vô Sắc Ðại Phạm, và chú cũng nói những lời ấy. Tất
cả chư Thiên tụ hội trên hồ Anotatta, đông kín đặc bầu trời y như khi ta đổ bột
chì vào trong đấu vậy. Xong xuôi, chú Sa di mới đứng trên không bảo long vương:
Hãy nghe, hỡi Long
vương!
Kẻ sức mạnh phi
thường,
Và sức nóng kinh
khiếp,
Ta vượt bao dặm đường
Ðến xin ngươi chút
nước
Về chữa bệnh Thầy ta.
Long vương đáp:
Sa di! Lời ngươi ta
tán thán
Nếu ngươi đủ sức, đủ
trưởng thành
Thì nước hồ ta, ngươi
cứ lấy,
Trổ tài cho xứng bực
hùng anh.
Buộc long vương phải
nói ba lần như vậy xong, chú Sa di liền hiện thân thành Phạm thiên cao mười hai
hải lý, từ trên không bay xuống đạp lên vây long vương, ép đầu hắn xuống, rồi
dùng hết sức bình sinh đè lên người long vương. Giống như người có sức mạnh đạp
tấm da ướt, chú Sa di vừa đạp lên chiếc vây long vương, nó liền cuộn từ khúc cỡ
bằng cái muỗng và tuột đi. Từ mỗi chỗ khúc cuộn tuột đi đó, bắn lên những vòi
nước cao bằng thân cây thốt nốt. Chú chỉ việc đứng trên không trung đưa bình ra
hứng.
Chư thiên trầm
trồ tán thán. Quá hổ thẹn và căm giận chú Sa di, mắt long vương quắc lên, đỏ
như dâu chín, lòng tự nghĩ: "Gã này rủ rê chư thiên đến rồi đạp lên vây ta
để làm nhục. Ta sẽ tóm hắn, cho tay hắn vào mồm ta và bóp nhừ tim hắn ra. Hoặc
ta sẽ túm chân hắn ném xuống sông Hằng.” Long vương giở hết tốc lực đuổi theo
chú Sa di, nhưng vẫn không kịp.
Sumana về đến nơi
liền đặt bình nước vào thay Thầy chú, thưa:
- Bạch Thầy, mời Thầy
dùng nước.
Lúc ấy, long vương
vừa đuổi theo đến nơi, vội thưa Tôn giả:
- Bạch Ngài, vị Sa di
của Ngài đã lấy nước mà tôi không cho. Xin Ngài chớ uống.
- Này Sa di, đúng như
vậy không?
- Bạch Thầy, mời Thầy
cứ việc dùng. Nước này là chính long vương đã cho con đấy ạ.
Tôn giả biết chú Sa
di đắc quả A la hán không thể nói lời vọng ngữ nên liền uống. Ðược vài ngụm,
Tôn giả thấy dễ chịu.
Long vương bạch:
- Bạch Ngài, vị Sa di
của Ngài đã gọi chư Thiên đến và làm nhục tôi trước mặt họ. Tôi định xé tim chú
ấy ra, hoặc túm chân ném chú xuống sông Hằng.
- Ðại vương, vị Sa di
này có đại thần thông, Ðại vương không đánh lại đâu. Vậy hãy sám hối mà đi về.
Không cần ai nói long
vương cũng biết dư chú Sa di có đại thần thông, rượt theo chú chẳng qua vì quá
mất mặt mà thôi. Do đó long vương vâng lời Tôn giả, sám hối chú Sa di và kết
bạn với chú. Long vương nói:
- Từ rày trở đi khi
nào cần nước hồ Anotatta, Ngài khỏi phải nhọc mình đi lại. Xin nhắn một tiếng,
tôi sẽ đích thân mang đến.
Rồi long vương từ
biệt.
Tôn giả A Na Luật đem
chú Sa di theo về. Ðức Thế Tôn biết Tôn giả đang trên đường đến gặp Ngài, bèn ở
lại lâu đài Mẹ Migara chờ. Các Thầy Tỳ kheo thấy Tôn giả đến đều ra đón, đỡ y
bát cho Tôn giả. Vài Thầy xoa đầu, nhéo tai Sumana, đùa:
- Sa di ơi, chú không
thấy tu hành cực khổ sao?
Ðức Phật thấy vậy
nghĩ: "Các Sa môn này đùa cợt chú Sa di thật là lầm lớn. Các ông ấy tự do
cầm nắm người chú như ta tóm cổ một con rắn độc, không biết chú có đại thần
thông. Hôm nay ta nên cho họ biết tài đức của Sa di Sumana.”
Trưởng lão A Na Luật
đến đảnh lễ Phật và ngồi qua một bên. Ðức Thế Tôn thân mật hỏi Tôn giả, rồi
quay sang bảo Ngài A Nan:
- Này A Nan, ta muốn
lấy nước hồ Anotatta để rửa chân. Ông hãy đưa bình đựng nước cho các Sa di đi
lấy nước!
Tôn giả A Nan cho gọi
hết năm trăm vị Sa di của Tinh xá, trong đó có Sumana nhỏ tuổi nhất. Tôn giả
bảo chú Sa di lớn nhất:
- Này Sa di, đức Thế
Tôn muốn rửa chân bằng nước hồ Anotatta. Hãy mang bình đi lấy nước nghe.
- Bạch Ngài, con
không làm việc ấy được.
Chú Sa di lớn tuổi
nhất không muốn đi liền thưa vậy. Tôn giả lần lượt hỏi các Sa di khác, chú nào
cũng từ chối. Thế không có vị Sa di nào đắc quả A la hán sao? Tất nhiên là có,
nhưng sở dĩ các vị từ chối vì biết: "Lẵng hoa này chẳng phải kết dành cho
chúng ta. Chính là vì Sa di Sumana đấy.” Còn những vị chưa đắc quả Tu đà hoàn
thì từ chối vì họ biết không đủ sức đảm đương công tác ấy.
Cuối cùng đến phiên
Sumana. Tôn giả A Nan lặp lại:
- Này Sa di, đức Thế
Tôn muốn rửa chân bằng nước hồ Anotatta, và biểu chú đem bình đi lấy nước.
- Bạch Ngài, nếu đức
Thế Tôn muốn con đi lấy nước, con sẽ đi.
Chú đảnh lễ Phật,
thưa:
- Bạch Thế Tôn, con
được biết Ngài muốn con đi lấy nước hồ Anotatta.
- Ðúng thế, Sumana.
Chú chọn trong đám
bình hũ bằng vàng của Tinh xá do bà Visàkhà đặt làm để cúng dường, một chiếc hũ
lớn bằng sáu mươi bình nước thường. Chú tự bảo: "Mình chẳng cần quảy nó lên
vai làm chi.” Chú xách hũ lủng lẳng nơi tay, bay vút lên không, nhắm hướng vùng
Hy Mã thẳng tiến.
Chú Sa di còn ở xa,
long vương đã thấy vội ra đón, đỡ chiếc hũ đặt lên vai mình và nói:
- Bạch Ngài, chừng
nào Ngài còn có con hầu hạ trong cõi giới này, Ngài đâu cần nhọc sức tự mình
đi? Nếu cần nước, sao Ngài không tin cho con hay?
Ðổ nước đầy hũ rồi tự
vác lên vai, long vương thưa:
- Xin Ngài đi trước,
con sẽ đích thân mang hũ nước.
- Ðại vương đừng đi.
Ðức Thế Tôn biểu tôi đi đấy.
Chú buộc long vương
phải quay lại, và đưa tay cầm miệng hũ, chú bay lên biến mất dạng vào không
trung.
Ðức Phật thấy chú về,
bảo các Thầy Tỳ kheo:
- Này các Tỳ kheo,
các ông hãy xem vẻ trang nhã của chú Sa di. Chú bay trong không trung thanh
thoát như một con ngỗng chúa.
Sumana đặt hũ nước
xuống, đảnh lễ Phật. Phật hỏi:
- Sumana, con bao
nhiêu tuổi?
- Bạch Thế Tôn, con
được bảy tuổi.
- Vậy thì Sumana, hôm
nay con được thọ giới Tỳ kheo.
Và đức Phật truyền
giới cụ túc cho Sumana. Trong Tăng đoàn tương truyền chỉ có hai vị Sa di bảy tuổi
được thọ cụ túc giới: Sumana và Sopàka.
Sumana được thọ giới
Tỳ kheo rồi, các Thầy Tỳ kheo bàn tán trong Pháp đường:
- Chư huynh
đệ, thật là một việc tốt đẹp biết bao! Vị Sa di này thần thông thật là siêu
việt. Chúng ta chưa từng thấy thần thông cao tuyệt như thế.
Lúc ấy, đức Phật đi
đến hỏi:
- Này các Tỳ kheo,
các ông tụ hội ở đây bàn luận việc gì?
Khi nghe các Thầy
bạch lý do, Ngài bảo:
- Này các Tỳ kheo, sự
chứng đắc ấy ngay cả một Tỳ kheo nhỏ tuổi vẫn có thể đạt được trong giáo pháp
ta, nếu người ấy tinh tấn.
Ngài nói kệ:
(382) Tỳ kheo tuy nhỏ
tuổi,
Siêng tu giáo pháp
Phật,
Soi sáng thế gian
này,
Như trăng thoát khỏi
mây.
PHẨM XXVI: BÀ LA MÔN
1. Bà la môn Ðại Hỉ
Hãy tinh tấn đoạn
dòng...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Bà la môn Ðại Hỉ, Pasàdabahula.
Một hôm, sau khi nghe
Phật thuyết pháp, một vị Bà la môn hoan hỉ đến nỗi từ đó đều đặn mỗi ngày ông
thỉnh mười sáu vị Tỳ kheo đến nhà cúng dường. Mỗi khi các Thầy đến, ông ra đón,
đỡ bình bát và mời:
- Xin cung thỉnh Ngài
A la hán vào. Xin mời Ngài A la hán ngồi.
Dù thưa thỉnh với bất
cứ Thầy Tỳ kheo nào, ông đều xưng tụng là A la hán. Những Thầy chưa chứng Sơ
quả nghĩ thầm: "Ông Cư sĩ này tưởng trong chúng ta có Thầy chứng A la
hán.” Còn các Thầy chứng A la hán lại nghĩ: "Ông Cư sĩ không biết chúng ta
đắc A la hán.” Kết quả: Tất cả các Thầy đều buồn lòng và không đến nhà ông nữa.
Ông Bà la môn hết sức
buồn khổ. Ông nghĩ: "Tại làm sao các vị Tỳ kheo cao quý ấy lại không đến
nhà mình nữa kìa?” Ông vào Tinh xá đảnh lễ Phật và bạch sự việc. Ðức Thế Tôn
hỏi các Thầy Tỳ kheo:
- Này các Tỳ kheo,
vậy nghĩa là sao?
Các Thầy bạch Phật lý
do. Phật bảo:
- Nhưng này các Tỳ
kheo, các ông không muốn ông ấy gọi mình là A la hán ư?
- Bạch Thế Tôn, không
ạ.
- Thế nhưng đây chỉ
là cách một người bày tỏ lòng hoan hỉ, và việc biểu hiện niềm hoan hỉ ấy đâu có
gì sai trái? Tấm lòng quí mến các vị A la hán của ông Bà la môn thật là vô bờ.
Do đó, việc đúng đắn nhất đối với các ông là phải diệt trừ tham ái và chỉ lấy
việc chứng đắc A la hán làm sự mong muốn duy nhất của mình.
Ngài nói kệ:
(383) Hỡi này Bà la
môn
Hãy tinh tấn đoạn
dòng,
Từ bỏ các dục lạc,
Biết được hành đoạn
diệt,
Ngươi là bậc vô vi.
2. Thế Nào Là "Hai Trạng Thái"?
Nhờ thường trú hai
pháp...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài ở tại Kỳ Viên, liên quan đến nhiều vị Tỳ kheo.
Một ngày nọ, có ba
mươi Sa môn ở xứ khác đến Kỳ Viên đảnh lễ đức Phật và ngồi một bên. Tôn giả Xá
Lợi Phất biết rằng các Thầy có đủ điều kiện chứng A la hán, bèn đến trước đức
Phật thưa:
- Bạch Thế Tôn, Ngài thường
dạy về "hai trạng thái", thế nào là "hai trạng thái?”
Ðức Phật dạy:
- Này Xá Lợi Phất,
hai trạng thái là Thiền định và Trí tuệ.
Ngài nói kệ:
(384) Nhờ thường trú
hai pháp,
Ðến được bờ bên kia,
Bà la môn có trí,
Mọi kiết sử dứt sạch.
3. Thế Nào Là Bờ Kia?
Không bờ này bờ
kia...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Ma vương.
Một ngày nọ, Ma vương
giả dạng đến chỗ đức Phật và hỏi Ngài:
- Bạch Thế Tôn, Ngài
hay nhắc đến "bờ bên kia.” Xin cho biết cái gì là "bờ bên kia"?
Ðức Phật biết đó là
Ma vương, Ngài bảo:
- Này Ma vương, ông
liên hệ gì đến "bờ bên kia"? Chỉ có người thoát khỏi tham dục mới đạt
đến đó thôi.
Ngài nói kệ:
(385) Không bờ này bờ
kia,
Cả hai bờ không có,
Lìa khổ, không trói
buộc,
Ta gọi Bà la môn.
4. Thế Nào Là Bà la môn?
Tu Thiền, trú ly
trần...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một người Bà la môn.
Ngày nọ, một ông Bà
la môn chợt nghĩ: "Ðức Phật thường gọi các đệ tử là Bà la môn, còn ta cũng
sanh trưởng trong dòng Bà la môn, ta cũng đáng được gọi như thế.”
Nghĩ vậy, y bèn đến
chỗ Phật và nói lên vấn đề ấy. Ðức Phật nói:
- Ta không gọi ai là
Bà la môn, chỉ vì dòng dõi. Ta chỉ gọi những người đạt đến quả vị A la hán là
Bà la môn.
Ngài nói kệ:
(386) Tu Thiền, trú
ly trần
Phận sự xong, vô lậu,
Ðạt được đích tối
thượng
Ta gọi Bà la môn.
5. Ðức Phật Sáng Ngời
Mặt trời sáng ban
ngày...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại lâu đài Mẹ Migàra, liên quan đến Tôn giả A Nan.
Vào ngày lễ Tự tứ,
vua Ba Tư Nặc đến Tinh xá, nhà vua trang phục tô điểm thật rực rỡ, tay mang đầy
hương hoa, chuỗi ngọc. Lúc ấy Tôn giả Ca Lưu Đà Di ngồi ở vòng ngoài chúng hội
Tỳ kheo, đang nhập định, toàn thân tỏa ra một luồng hỷ lạc, sáng như vàng. Và
mặt trời đang lặn, mặt trăng vừa mọc. Tôn giả A Nan ngắm ánh mặt trời
hoàng hôn, ngắm ánh trăng đang lên, nhìn vẻ rực rỡ của châu ngọc trên người
vua, nhìn vàng hào quang sáng quanh Ngài Ca Lưu Đà Di, và cuối cùng nhìn đức
Như Lai. Hào quang trên thân đức Thế Tôn vượt xa hơn tất cả.
Ngài đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, hôm
nay con ngắm ánh sáng của những thân và vật ấy, chỉ có hào quang Ngài làm cho
con mãn nguyện, vì thân Ngài chiếu ánh sáng rực rỡ hơn hẳn các ánh sáng khác.
Ðức Phật bảo:
- Này A Nan, mặt trời
chiếu sáng ban ngày, mặt trăng chiếu sáng ban đêm, nhà vua thì sáng khi trang
điểm lộng lẫy, các vị A la hán thì sáng khi nhập định thoát phàm. Nhưng chỉ có
chư Phật luôn luôn chiếu sáng ngày cũng như đêm, rực rỡ hơn gắp năm lần.
Ngài nói kệ:
(387) Mặt trời sáng
ban ngày.
Mặt trăng sáng ban
đêm.
Khí giới sáng Sát-
lỵ.
Thiền định sáng Phạm
chí.
Còn hào quang đức
Phật,
Chói sáng cả ngày
đêm.
Chú giải:
Giới đức của Phật có
oai lực sáng tỏ, làm lu mờ điều bất thiện.
Ðức hạnh của Ngài có
oai lực làm lu mờ các tật xấu.
Oai lực của Trí tuệ
che lấp vô minh.
Oai lực của chánh
hạnh che lấp điều bất chánh.
6. Thế Nào Là Tỳ Kheo?
Dứt ác gọi Phạm
Chí...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo.
Một người Bà la môn
nọ xuất gia theo Thầy khác chứ không theo Phật, rồi lại nghĩ: "Sa môn Cồ
Đàm gọi đệ tử là Tỳ kheo. Ta cũng đáng được gọi như thế.” Y bèn đến gặp Phật và
nói lên vấn đề ấy.
Ðức Phật nói:
- Ta không gọi ai là
Tỳ kheo chỉ vì lý do ông đưa ra. Ta chỉ gọi người đã trừ được lậu hoặc và cấu
nhiễm là Tỳ kheo, "Người đã xa lìa.”
Ngài nói kệ:
(388) Dứt ác gọi Phạm
Chí,
Tịnh hạnh gọi Sa môn,
Tự mình xuất cấu uế,
Nên gọi bậc xuất gia.
7. Ðức Nhẫn Nhục Chinh Phục Sự Tàn Ác.
Chớ có đập Phạm
Chí...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Xá Lợi Phất.
Một ngày nọ, các
thiện tín ngồi chung lại và ca ngợi đức hạnh của Tôn giả Xá Lợi Phất:
- Vị Tôn giả Thầy
chúng ta, thật là đức nhẫn cao đến nỗi dù ai mắng chửi hay đánh đập, Ngài cũng
không giận.
Lúc ấy, có một Bà la
môn ngoại đạo hỏi:
- Ai mà không hề giận
dữ?
- Thầy chúng tôi, Tôn
giả Xá Lợi Phất.
- Chắc hẳn chưa ai
chọc giận được ông ấy?
- Chưa hề có chuyện
ấy đâu, Bà la môn.
- Ðược rồi, tôi sẽ
chọc giận ông ta.
- Ông cứ thử xem.
- Tin tôi đi, tôi
biết cách nên hành động như thế nào với ông ta.
Hôm sau, Tôn giả vào
thành khất thực. Ông Bà la môn đi theo sau lưng Tôn giả tống một quả đấm vũ bão
vào lưng Ngài. Tôn giả chỉ hỏi: "Cái gì thế?" mà không hề quay lại
dòm và tiếp tục đi. Trước thái độ ấy, ông Bà la môn cảm thấy ân hận tràn ngập:
"Ô! Thật là tôn quí thay đức hạnh của Tôn giả!”
Ông ta sụp xuống dưới
chân Ngài:
- Xin Ngài hãy tha
lỗi cho tôi.
- Chuyện gì vậy?
- Tôi muốn thử Ngài
nên đã đấm vào lưng Ngài.
- Ðược, tôi không
giận ông.
- Nếu Ngài sẵn lòng
tha lỗi cho tôi, xin từ đây hãy chỉ đến nhà tôi thọ thực thôi.
Và ông đỡ lấy bát Tôn
giả, đưa Ngài về nhà cúng dường bữa trưa. Tôn giả vui vẻ trao bát.
Vài kẻ ngoại cuộc
thấy vậy rất tức tối.
- Tên ngoại đạo ấy đã
đánh Thầy chúng ta, một vị đáng lý không ai được xúc phạm, tội ấy không thể tha
thứ. Chúng ta phải giết hắn.
Họ nắm đất, đá, gậy
gộc, kéo đến đứng trước cửa nhà người Bà la môn. Khi Tôn giả thọ thực xong trở
ra, Ngài để bát cho người Bà la môn ôm, những người kia thấy ông ta đi ra với
Tôn giả, bèn kêu:
- Bạch Tôn giả, xin
Ngài ra lệnh cho ông Bà la môn trở lại.
- Này các đạo hữu,
các ông muốn gì?
- Tên Bà la môn ấy đã
đánh Ngài, và chúng con muốn xử hắn đích đáng.
- Sao? Ông ấy đánh ta
hay đánh các ông?
- Thưa, đánh Ngài.
- Nếu vậy, ông ấy đã
xin lỗi ta, các ông về đi.
Tôn giả khuyên các
Phật tử, và cho phép ông Bà la môn về, Tôn giả trở lại Tinh xá.
Các vị Tỳ kheo hết
sức bất bình.
- Thế này là sao? Một
người Bà la môn đánh Tôn giả Xá Lợi Phất mà Ngài lại đến chính nhà của người ấy
thọ thực! Ông ta đánh cả Tôn giả rồi thì còn kính trọng ai nữa? Ông sẽ đánh
người này người nọ lung tung cho coi.
Ðức Thế Tôn nghe
chuyện, bảo các Thầy Tỳ kheo:
- Này các Tỳ kheo,
không có việc người Bà la môn đánh Bà la môn, chỉ có Bà la môn phàm tục đánh vị
Bà la môn Thánh quả. Bởi vị nào đã chứng quả A na hàm hoàn toàn dứt trừ hết mọi
giận dữ.
Ngài nói kệ:
(389) Chớ có đập Phạm
Chí!
Phạm Chí chớ đập lại!
Xấu thay đập Phạm
Chí!
Ðập trả lại xấu hơn!
(390) Ðối vị Bà la
môn,
Ðây không lợi ích
nhỏ,
Khi ý không ái luyến,
Tâm hại được chặn
đứng,
Chỉ khi ấy khổ diệt.
8. Ngài Di Mẫu Thọ Giới
Với người thân,
miệng, ý...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Ngài Ma ha Ba Xà Ba Đề.
Trước khi công khai
công bố Bát kỉnh pháp, đức Phật đã nói riêng cho Ngài Di Mẫu hay, và Ngài cúi
đầu thọ lãnh giới pháp ấy, giống như người đã quen thuộc với việc được trang
sức cúi đầu nhận vòng hoa thơm. Tất cả các vị trong nhóm của Ngài cũng làm y
như vậy. Thầy Tế độ và Thân giáo sư của Ngài không ai khác hơn là chính đức Thế
Tôn. Ngài đã được gia nhập Tăng đoàn của Phật.
Về sau, một số Tỳ
kheo ni trong nhóm Ngài lại bàn tán về việc Ngài được thọ giới:
Bà Ma ha Ba Xà Ba Đề
không có Thầy Tế độ, không có Thân giáo sư. Bà tự tay lãnh thọ y vàng một mình.
Nghe thế, các Tỳ kheo
ni khác bất mãn không chịu làm lễ Bố tát và lễ Tự tứ với bà. Họ đến bạch Phật
câu chuyện, Ngài dạy:
- Chính ta trao Bát
kỉnh pháp cho bà, ta là Thầy Tế độ, là Giáo sư của bà. Kẻ đã từ bỏ được những
lỗi lầm cả về thân, miệng, ý, đã thoát mọi tham dục, với nhũng người như thế
không nên nuôi dưỡng tư tưởng bất mãn.
Ngài nói kệ:
(391) Với người thân,
miệng, ý,
Không làm các ác
hạnh,
Ba nghiệp được phòng
hộ,
Ta gọi Bà la môn.
9. Tôn Kính Người Ðáng Tôn Kính
Từ ai, biết chánh
pháp...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Xá Lợi Phất.
Tôn giả Xá Lợi Phất
được nghe bài kệ Phật pháp đầu tiên từ Tôn giả Ác Bệ, và từ ngày chứng quả Tu
đà hoàn, Tôn giả khi nghe Ngài Ác Bệ nơi nào, luôn luôn hướng về phía ấy chấp
tay cung kính, và luôn nằm xây đầu về hướng ấy. Các Thầy Tỳ kheo bàn tán:
- Tôn giả Xá Lợi Phất
theo tà đạo, mỗi ngày đều lễ tứ phương.
Và họ đến bạch Phật.
Phật gọi Tôn giả đến hỏi:
- Này Xá Lợi Phất, họ
báo cáo ông kính lễ tứ phương, có đúng không?
- Bạch Thế Tôn! Ngài
biết con, Ngài biết rằng con có hay không có kính lễ phương hướng.
Ðức Thế Tôn bảo các
Tỳ kheo:
- Xá Lợi Phất không
hề kính lễ phương hướng. Chỉ vì kính lễ Tôn giả Ác Bệ, người đầu tiên mà Xá Lợi
Phất được nghe pháp nên mới làm thế. Một vị Sa môn kính trọng người dạy pháp
như người Bà la môn kính thờ lửa thiêng.
Ngài nói kệ:
(392) Từ ai, biết
chánh pháp,
Bậc Chánh giác thuyết
giảng,
Hãy kính lễ vị ấy,
Như Phạm chí thờ lửa.
10. Thế Nào Là Bà la môn?
Không vì đầu bện
tóc...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một người Bà la môn bện tóc.
Chuyện kể rằng, một
ông Bà la môn chợt nghĩ: "Ta thuộc dòng dõi Bà la môn thuần túy. Sa môn Cồ
Đàm thường gọi đệ tử Bà la môn. Ta cũng đáng được gọi như thế?”
Nghĩ rồi, y bèn đến
chỗ Phật và nói lên vấn đề ấy. Ðức Phật bảo:
- Này Bà la môn, ta
không gọi ai là Bà la môn chỉ vì người ấy đầu bện tóc, chỉ vì dòng dõi, huyết
thống. Ta chỉ gọi người đã thâm nhập chân lý là Bà la môn.
Ngài nói kệ:
(393) Ðược gọi Bà la
môn,
Không vì đầu bện tóc,
Không chủng tộc, thọ
sanh,
Ai thật chân, chánh,
tịnh,
Mới gọi Bà la môn.
11. Người Bà La Môn Gian Xảo
Kẻ ngu có ích gì...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Pháp đường, liên quan đến người Bà la môn gian xảo,
treo ngược mình lên cây như dơi.
Tại thành Tỳ Xá Ly,
có một Bà la môn muốn cầu lợi dưỡng, y bèn leo lên cây xoài gần cổng thành, móc
hai chân vào cành, lộn đầu xuống đất, la lên:
- Hãy đem cho ta một
trăm đồng vàng! Hãy cho ta xu bạc! Cho ta một người tớ gái! Nếu các người không
cho những điều ta yêu cầu, ta sẽ buông chân ra, chết tại đây và trở thành ác
thần phá hoại thành này.
Lúc ấy, đức Phật cùng
chư tăng vào thành khất thực. Các Thầy Tỳ kheo trông thấy người Bà la môn treo
ngược người lên cành cây, và khi rời thành, các Thầy thấy y còn treo trên cây.
Dân cư trong thành thầm nghĩ: "Ông nội này đã treo ngược từ sáng tới giờ,
nếu để ổng chết chắc chắn chúng ta không thể sống yên ở thành này.” Và lo sợ
cho thành Tỳ Xá Ly xinh đẹp, họ đem chất dưới gốc xoài những thứ y yêu cầu.
Người Bà la môn leo xuống, thu chiến lợi phẩm và ra đi.
Các Thầy Tỳ kheo lại
thấy người Bà la môn gian xảo kia đi lang thang gần Tinh xá đang rống lên như
một con bò. Các Thầy nhận ra y ngay, bèn hỏi:
- Này bạn, có phải
bạn đã đạt được những gì yêu cầu?
- Phải.
Các vị đến bạch đức
Phật. Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
đây không phải là lần đầu tiên người ấy gian xảo như một tên bợm. Thời quá khứ
y cũng như vậy. Nhưng trong kiếp này y lừa gạt được những kẻ chất phác kia, còn
kiếp trước, y chẳng đánh lừa được người khôn ngoan.
Rồi Ngài kể chuyện:
Chuyện quá khứ:
A. Nhà Ẩn Tu Giả Dối
Và Kỳ Ðà Chúa
Ngày xưa, có một nhà
ẩn tu ở gần một làng sống về nghề nông, và ông ta là một tên đạo đức giả. Lúc
ấy, có một gia đình thường hay cúng dường thức ăn cho ông ta, dù ngày hay đêm
họ đều chia sớt phần ăn cho nhà ẩn tu như họ đã chia cho con cái họ. Một chiều
nọ, họ nướng thịt kỳ đà và để dành một phần cho nhà ẩn tu. Thầy tu nọ ngửi mùi
thịt thơm phức bèn hỏi:
- Thịt gì đấy?
- Thịt kỳ đà.
Hôm sau, Thầy khất
thực được một mớ bơ, sữa đông và tiêu đem về cất trong lều cỏ. Gần lều Thầy, có
một cái đồi, một con kỳ đà chúa ở đấy. Nó thường viếng Thầy và rất kính trọng
Thầy. Nhưng hôm ấy Thầy muốn giết con kỳ đà nọ, bèn giấu một cây gậy trong áo,
đến gần đồi cát và giả vờ ngủ. Khi con kỳ đà rời hang, đến gần chỗ Thầy, thấy
vẻ nằm đặc biệt khác thường, nó nghĩ thầm: "Hôm nay Sư phụ có vẻ làm sao
ấy, ta không thích", và nó quay đầu bò trở về lại. Thầy tu thấy kỳ đà bò
lui bèn ném cây gậy theo định giết, nhưng cây gậy rơi không trúng. Con kỳ đà
lật đật nhảy vào hang, ngóc đầu ra nói:
- Tưởng Thầy tu chân
thật,
Muốn gần, tôi đến
nhanh,
Gậy cầm, Thầy toan
giết,
Lộ chân tướng giả
danh.
Kẻ ngu có ích gì,
Bện tóc với da dê,
Nội tâm toàn phiền
não,
Ngoài mặt đánh bóng
suông.
Nhà tu còn muốn dùng
các thứ vật thực để dụ kỳ đà:
- Kỳ đà, mau quay
lại!
Ðến nếm món cháo này.
Muối, tiêu, dầu ta
có,
Muốn gì sẽ được ngay.
Kỳ đà đáp:
- Càng nghe Thầy nói,
tôi càng muốn chạy xa.
Và kỳ đà nói kệ:
Thật đúng khi tôi
chọn,
Chỗ ẩn tít trên đồi,
Thầy cho dầu, tiêu,
muối,
Với tôi, chúng ích
gì!
Rồi nó nói tiếp:
- Rất tiếc khi trước
tôi lầm tưởng Thầy là nhà ẩn tu, nhưng khi Thầy cầm gậy giết tôi, lớp áo đạo
đức đã rơi xuống. Hỡi người vô tri, có ích gì khi thắt tóc bím. Có ích gì khi
mặc áo da dê mà đầy những móng vuốt? Bên trong là dục vọng, bên ngoài lại điểm
tô.
Ðức Phật kết luận:
- Nhà ẩn tu ấy là
người Bà la môn hiện nay, còn kỳ đà chúa là Ta.
Ngài nói kệ:
(394) Kẻ ngu có ích
gì,
Bện tóc với da dê,
Nội tâm toàn phiền
não,
Ngoài mặt đánh bóng
suông.
12. Bà Kisa Gotami, Vị Tỳ Kheo Ni Tu Hạnh Ðầu Ðà
Người mặc áo đống
rác...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ngụ tại núi Linh Thứu, liên quan đến Tỳ kheo ni Kisa
Gotami.
Vào buổi đầu hôm,
trời Ðế Thích cùng chư Thiên đến vây quanh đức Phật nghe pháp. Họ kính cẩn ngồi
một bên để lắng nghe những lời dạy từ hòa của đức Thế Tôn. Lúc ấy, Ðại Ðức Tỳ
kheo ni Kisa Gotami chợt nghĩ: "Ta sẽ đến viếng đức Thế Tôn.” Bà bay lên
không trung, đến chỗ Phật, nhưng thấy trời Ðế Thích bèn quay lui. Ðế Thích thấy
vậy hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn, ai
mới đến vừa thấy Ngài liền trở ra?
Ðức Phật bảo:
- Ðại vương, đó là đệ
tử ta, Tỳ kheo ni Kisa Gotami, người có hạnh Ðầu đà bậc nhất.
Ngài nói kệ:
(395) Người mặc áo
đống rác
Gầy ốm, lộ mạch gân,
Ðộc thân Thiền trong
rừng,
Ta gọi Bà la môn.
13. Thế Nào Là Bà La Môn?
Ta không gọi Phạm
Chí...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một người Bà la môn.
Một người Bà la môn
thầm nghĩ: "Sa môn Cồ Đàm thường gọi các đệ tử là Bà la môn. Ta sanh
trưởng trong dòng Bà la môn, vậy ông ấy phải gọi ta danh hiệu Bà la môn.” Nghĩ
thế, ông đến yêu cầu Phật điều ấy. Phật nói:
- Ta không gọi ai là
Bà la môn chỉ vì họ sanh ra từ một người mẹ dòng Bà la môn. Người nào không sở
hữu những của cải thế gian, không chạy theo những thứ thế tục, chỉ người ấy ta
gọi Bà la môn.
Ngài nói kệ:
(396) Ta không gọi
Phạm Chí,
Vì chỗ sanh, mẹ sanh,
Chỉ được gọi tên
suông,
Nếu tâm còn phiền
não,
Không phiền não chấp
trước,
Ta gọi Bà la môn.
14. Diễn Viên Xiếc Uggasena
Ðoạn hết các kiết
sử...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Uggasena. Chuyện này đã
được kể đầy đủ chi tiết trong phần chú giải bài kệ bắt đầu bằng câu: "Bỏ
quá, hiện, vi lai.”
Lúc ấy, các Thầy Tỳ
kheo bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn,
Uggasena nói: "Tôi không sợ", chắc chắn Thầy ấy đã nói dối.
Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
giống như con ta, kẻ nào đã dứt trừ mọi ràng buộc, kẻ ấy chẳng còn sợ hãi.
Ngài nói kệ:
(397) Ðoạn hết các
kiết sử,
Không còn gì lo sợ,
Không đắm trước buộc
ràng,
Ta gọi Bà la môn.
15. Tranh Cãi Về Sức Kéo
Bỏ đai da, bỏ
cương...
Ðức Thế Tôn, dạy
những lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến hai người Bà la môn.
Hai người Bà la môn
nọ có hai con bò, một tên Tiểu Hồng (Culla Rohita), và một tên Ðại Hồng (Mahà
Rohita). Một hôm, hai ông Bà la môn bàn cãi, so sánh hai con bò của nhau, ai
cũng nói "Bò tôi mới là số dzách!”
Cãi lộn hết hơi rồi,
họ nghĩ ra cách thử sức kéo của bò. Lập tức họ đánh xe bò ra bờ sông Aciravati,
thi nhau chất lên xe bò mình nào cát, đá thật đầy và bắt bò kéo. Nhưng mặc cho
họ thúc giục, chiếc xe vẫn không nhúc nhích và thình lình dây thừng đều bị đứt.
Các vị Tỳ kheo lúc ấy ra sông tắm, thấy vậy về bạch Phật. Ngài dạy:
- Này các Tỳ kheo, đó
là những dây bên ngoài, có thể cắt đứt. Nhưng một vị Sa môn phải cắt đứt những
sợi dây giận dữ và tham dục ở nội tâm.
Ngài nói kệ:
(398) Bỏ đai da, bỏ
cương,
Bỏ dây, đồ sở thuộc,
Bỏ then chốt, sáng
suốt,
Ta gọi Bà la môn.
16. Ðức Thế Tôn Chế Ngự Kẻ Sân Giận
Không ác ý, nhẫn
nhục...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này trong khi Ngài đang trù tại Trúc Lâm, liên quan đến Akkosa Bhàradvàja.
Khi Phật ở tại Trúc
Lâm, có một tín nữ Bà la môn đã chứng quả Tu đà hoàn, mỗi khi bà hắt hơi, ho,
hoặc trợt té, đều buột miệng:
- Nam mô
Phật Ðà! Như Lai Tối tôn, Vô thượng giác!
Chồng bà là một Bà la
môn quạu quọ, không tin Phật, và rất bực mình khi nghe vợ mình cứ xưng tụng đức
Phật. Ngày kia, trong khi dọn cơm cho các vị Bà la môn, bà trợt chân và cũng
buộc miệng niệm danh hiệu Phật rất lớn. Ông Bà la môn nổi giận, nghĩ thầm: "Thiệt
là hết chịu nổi. Mụ vợ ngốc của ta mỗi lần trợt té cứ lải nhải tôn xưng ông Sa
môn đầu trọc như là thói quen si ám.”
Ông bảo bà:
- Này, tôi cho bà
biết, tôi sẽ đánh bại ông Thầy bà bằng một cuộc tranh luận ngay bây giờ.
- Ông cứ tự tiện, tôi
chưa thấy ai có thể thắng đức Thế Tôn cả. Ông cứ đi và hỏi Ngài một câu.
Ông Bà la môn đến chỗ
Phật, không cần chào, đứng một bên và hỏi Ngài:
Muốn được sống an
tịnh,
Phải dẹp bỏ thứ gì,
Ðể không còn ưu bi?
Ðiều gì nên trừ khử?
Xin nói cho nghe thử!
Ông giảng dạy cách
nào,
Ðể người nghe được
mau,
Thực hiện việc trừ
khử?
Ðức Phật đáp:
Sân hận khi không
còn,
Sẽ được sống an tịnh,
Sân hận được trừ khử,
Ưu sầu không theo
mình.
Gốc rễ sân độc địa,
Ngọn nhánh lại ngọt
ngào,
Người trí luôn ca
ngợi,
Người dẹp được sân
hờn,
Bởi sân khi diệt
sạch,
Ưu bi sẽ chẳng còn.
Người Bà la môn nghe
Phật nói, tin nhận bèn xuất gia và đắc A la hán. Em trai ông nghe tin ông đã
xuất gia theo Phật bèn giận dữ đến mắng chửi Phật. Nhưng đức Phật cũng chinh
phục người này bằng thí dụ "vật thực cho khách", rồi y cũng xuất gia
theo Phật chứng A la hán. Hai người em út hết, cũng như hai anh, đến rầy rà đức
Phật, rốt cuộc cũng bị chinh phục, xuất gia và chứng quả A la hán.
Ngày đó, các Tỳ kheo
bàn tán ở Pháp đường:
- Thật là kỳ diệu
thay, hạnh nhẫn nhục của chư Phật. Cả bốn anh em đến mắng chửa đức Thế Tôn mà
Ngài không đáp lời nào, còn khiến họ quy y.
Lúc ấy, đức Phật đến
gần hỏi:
- Các ông tụ họp ở
đây bàn tán chuyện gì?
Các Thầy bạch Phật.
Ngài giải thích:
- Này các Tỳ kheo, vì
Ta có sức từ nhẫn, vì ta là người không gây tội giữa thế gian đầy lỗi lầm, nên
Ta là nơi nương tựa chân thật cho chúng sanh.
Ngài nói kệ:
(399) Không ác ý,
nhẫn chịu,
Phỉ báng, đánh, phạt
hình,
Lấy nhẫn làm quân
lực,
Ta gọi Bà la môn.
17. Tôn giả Xá Lợi Phất Bị Mẹ Mắng.
Không hận, hết bổn
phận...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Tôn giả Xá Lợi Phất.
Khi Phật ở tại Tinh
xá Trúc Lâm, một hôm Ngài Xá Lợi Phất dẫn năm trăm vị Tỳ kheo đi khất thực và
đến trước nhà bà mẹ Ngài trong làng Nàlaka. Bà mẹ mời chư Tăng vào nhà, chuẩn
bị chỗ ngồi và trong khi dọn thức ăn cho Tôn giả, bà mắng Ngài:
- Hừm! Ðồ ăn mày! Mi
lang thang từ nhà này sang nhà nọ để xin cơm thừa canh cặn không được, phải
liếm láp cháo dính trên vá, trên muỗng! Vậy mà mi cũng từ bỏ gia tài ức triệu
để làm Thầy tu. Thiệt nhục nhã cho mẹ mi! Ăn đi!
Và khi dọn thức ăn
cho các Thầy Tỳ kheo, bà cũng rủa:
- Mấy người đã rũ rê
con ta để làm đầy tớ cho mấy người đây hả? Ăn đi!
Tôn giả Xá Lợi Phất
không nói một tiếng, nhận thức ăn, và đi về Tinh xá. Khi Ngài La Hầu La đem cơm
dâng Phật, đức Thế Tôn hỏi:
- Này La Hầu La! Hôm
nay ngươi đi tới đâu?
- Dạ, đến nhà của bà
cô con, bạch Thế Tôn!
Bà ấy có nói gì với
Thầy ngươi không?
- Bạch Thế Tôn, bà ấy
mắng chửi dữ dội.
Bà ấy nói những gì?
La Hầu La kể lại cho
đức Phật nghe câu chuyện, và Ngài hỏi:
- Rồi Thầy ngươi trả
lời ra sao?
- Bạch Thế Tôn, Tôn
giả chẳng trả lời gì hết.
Các vị Tỳ kheo nghe
chuyện, bàn tán với nhau:
- Này chư huynh! Cao
quý thay đức nhẫn của Tôn giả Xá Lợi Phất! Dù cho mẹ Ngài mắng chửi như thế đó,
Ngài chẳng hề giận một chút nào.
Ðức Thế Tôn nghe thế
bèn dạy:
- Này các Tỳ kheo,
người nào thanh trừ được mọi dục vọng xấu, người ấy không còn sân giận.
Ngài nói kệ:
(400) Không hận, hết
bổn phận,
Trì giới, không tham
ái,
Nhiếp phục, thân cuối
cùng,
Ta gọi Bà la môn.
18. A La Hán Có Phàm Thân Hay Không?
Như nước trên lá
sen...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tỳ kheo ni Uppalavannà.
Chuyện được kể đủ chi tiết trong phần chú giải bài kệ bắt đầu bằng câu:
"Người ngu nghĩ là ngọt, khi ác chưa chín mùi.” Truyện kể tiếp rằng:
Sau đó ít lâu các Tỳ
kheo bàn tán ở Pháp đường: "Chắc các vị đã trừ hết lậu hoặc vẫn còn phải
thỏa mãn nhục dục. Tại sao không? Họ đâu phải cây lá hay đất cục mà cũng mang
thân người với máu thịt, do đó thế nào cũng còn ưa khoái lạc.”
Ðức Thế Tôn nghe
chuyện bèn giải thích:
- Này các Tỳ kheo,
không bao giờ người đã thanh trừ ái dục lại yêu thích khoái lạc hay thỏa mãn
nhục dục. Như một giọt nước rơi trên lá sen không bao giờ dính lại, nó lăn tròn
và rơi xuống, như hạt cải không bao giờ dính trên đầu cây kim, cũng như tình ái
không bao giờ ràng buộc hay còn vương vấn nơi những vị đã tận trừ ái nhiễm.
Ngài nói kệ:
(401) Như nước trên
lá sen,
Như hạt cải đầu kim,
Người không nhiễm ái
dục,
Ta gọi Bà la môn.
19. Người Nô Lệ Trút Gánh Nặng
Ai tự trên đời này...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một người Bà la môn.
Khi chưa có điều luật
không cho phép nhận nô lệ trốn chủ vào Tăng đoàn, một hôm người nô lệ của một
Bà la môn đến xin xuất gia. Y được nhận vào Tăng đoàn và chẳng bao lâu chứng A
la hán. Người Bà la môn tìm khắp nơi nhưng không gặp. Một hôm đức Phật dẫn vị A
la hán ấy vào thành khất thực, người Bà la môn trông thấy ở cổng thành bèn níu
y của Tôn giả nọ. Ðức Phật quay lại hỏi:
- Này Bà la môn,
chuyện gì vậy?
- Thưa Ngài Cồ Đàm,
đây là kẻ tôi tớ của tôi.
- Này Bà la môn, gánh
nặng đã rời khỏi y.
Nghe đức Phật nói,
người Bà la môn lập tức hiểu rằng người ấy đã chứng A la hán. Ông hỏi lại:
- Có thật không, thưa
Cồ Đàm?
Ðức Phật xác nhận:
- Thật vậy, gánh nặng
của người ấy đã buông xuống rồi.
Ngài nói kệ:
(402) Ai tự trên đời
này,
Giác khổ, diệt trừ
khổ,
Bỏ gánh nặng, giải
thoát,
Ta gọi Bà la môn.
20. Khamà Trí Tuệ.
Người Trí tuệ sâu
xa...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại núi Linh Thứu, liên quan đến Tỳ kheo ni Khemà.
Ngày nọ, lúc đầu hôm,
vua trời Ðế Thích dẫn chư thiên đến nghe Phật thuyết pháp, lúc ấy Tỳ kheo ni
Khemà cũng khởi nghĩ: "Ta sẽ đến thăm đức Thế Tôn.”
Bà bay đến chỗ Phật,
gặp Ðế Thích và chư thiên, bèn đảnh lễ Phật rồi lui ra, Ðế Thích hỏi Phật:
- Ai vậy, thưa Thế
Tôn?
- Này Ðại vương, đó
là Tỳ kheo ni Khemà, Trí tuệ đệ nhất, biết rõ đâu là đạo và đâu không phải là
đạo.
Ngài nói kệ:
(403) Người Trí tuệ
sâu xa,
Khéo biết đạo, phi
đạo,
Chứng đạt đích Vô
thượng,
Ta gọi Bà la môn.
21. Vị Sa Môn Và Thiên Thần
Không liên hệ cả
hai...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Tissa Pabbhàravàsì.
Ðại đức Tissa
Pabbhàravàsì khi nhận đề mục Thiền quán từ đức Phật, bèn vào rừng cư trú. Ðại
đức tìm được một cái hang kín đáo thích hợp. Khi vừa đến hang, Ngài thấy lòng
an tịnh, bèn nghĩ thầm: "Nếu ở đây, ta sẽ đạt được mục tiêu tối thượng,
làm xong bổn phận của Sa môn.” Khi ấy vị thần ở hang cũng nghĩ: "Một vị Sa
môn đạo hạnh đã đến ở đây, thiệt là khó xử cho ta khi ở chung với người. Có lẽ
Ngài chỉ trú đêm, rồi đi nơi khác.” Thần bèn dắt con cái rời hang.
Ngày sau, Tôn giả vào
làng khất thực. Một nữ thí chủ trông thấy Ngài đem lòng kính ngưỡng bèn mời vào
nhà cúng dường, và phát nguyện sẽ cúng dường đầy đủ những món cần thiết trong
ba tháng an cư. Tôn giả nghĩ rằng: "Nhờ Phật tử này ta sẽ đạt được sở
nguyện", bèn nhận lời thỉnh. Rồi Ngài trở về động cũ. Trông thấy Ngài về
tới, thần hang nghĩ: "Chắc có ai mời Ngài. Ngày mai hay mốt Ngài sẽ đi.”
Như thế nửa tháng trôi qua, vị thần thất vọng: "Chắc chắn Tôn giả sẽ ở đây
suốt mùa mưa. Thiệt khó cho khi ở chung với vị Sa môn đạo hạnh, mà cũng không
thể mời Ngài đi nơi khác. Ta có thể tìm lỗi của Ngài không?" Nữ thần dùng
thiên nhãn quan sát cuộc đời của vị Sa môn từ khi xuất gia đến lúc vào rừng,
chẳng thấy có tỳ vết. "Ðức hạnh của vị này hoàn toàn tinh khiết. Ta sẽ tìm
cách kiếm chuyện và có thể nói lỗi Ngài được.”
Nữ thần đến nhà thí
chủ của Tôn giả, nhập vào đứa bé trai nhỏ nhất, và bẻ cổ nó, đứa bé tự dưng
trợn mắt và sùi bọt mép. Người mẹ hoảng sợ kêu lên:
- Sao con tôi như thế
này?
Nữ thần nói với bà:
- Ta đã bắt con
ngươi, nhưng không làm hại gì. Ngươi chỉ cần xin vị Tỳ kheo hằng đến đây khất
thực một ít cây thuốc cho con ngươi uống, ta sẽ buông tha.
- Thà con tôi chết,
tôi không bao giờ xin Ngài điều ấy.
- Nếu không xin,
ngươi hãy yêu cầu Tôn giả đặt thuốc vào mũi con ngươi.
- Tôi cũng không thể
làm như vậy.
- Thôi được, hãy rửa
chân Tôn giả, và lấy nước rảy lên đầu con ngươi.
Khi Tôn giả đến như
thường lệ, bà dọn thức ăn ra cho Ngài và bưng một thau nước đến cho Tôn giả rửa
chân. Bà xin Tôn giả nước rửa ấy rảy lên đầu con trai, Tôn giả bằng lòng và đứa
bé được buông tha.
Vị thần đứng chờ ở
cửa hang. Thọ trai xong, Tôn giả đứng lên và vẫn không rời đề mục Thiền quán,
Ngài từ giã nữ thí chủ trở về hang, vừa đi vừa thầm ôn ba mươi hai thứ cấu tạo
nên thân. Tôn giả mới đến cửa hang, nữ thần đã nói:
- Xin chào Thầy lang
mát tay. Ngài chớ vào đây nữa.
Tôn giả liền dừng lại
hỏi:
- Ngươi là ai?
- Tôi là vị thần trú
ở đây.
Tôn giả thầm nghĩ:
"Ta có từng bao giờ làm Thầy thuốc không?" Ngài quán sát suốt cuộc
đời mình từ lúc xuất gia vào Tăng đoàn, thấy chẳng có một tỳ vết gì hoen ố, bèn
bảo nữ thần:
- Ta chẳng bao giờ
làm Thầy thuốc cả. Tại sao ngươi nói vậy?
- Chẳng bao giờ ư?
- Ðúng thế, chẳng bao
giờ.
- Tôi sẽ cho Thầy
hay.
- Vâng, xin cứ nói.
- Thầy hãy nhớ lại
xem. Ngày hôm nay thôi, Thầy có rảy nước rửa chân lên đầu con bà thí chủ đang
hộ trợ Thầy, bị ma bắt không?
- Có, ta có rảy nước
như thế.
- Thầy không thấy là
đã làm Thầy lang ư?
- Vậy ra ngươi nói ta
làm Thầy thuốc là việc ấy?
- Ðúng thế.
Tôn giả tự nghĩ:
"Quả thực ta đã có quyết tâm đúng đắn. Ta đã thực sự giữ được giới hạnh
tương ứng. Ngay cả vị thần này cũng không tìm được tỳ vết nơi đức hạnh ta, do
ta nghiêm trì bốn giới thanh tịnh. Bà chỉ tìm được chuyện ta rảy nước rửa chân
lên đầu một cậu bé.”
Với ý nghĩ đã giữ
được đạo hạnh trọn vẹn thanh tịnh, Tôn giả cảm thấy vô cùng hoan hỉ. Rồi Tôn
giả chế ngự cảm xúc ấy và chẳng rời đi một bước, Ngài đắc quả A la hán.
Ngài dạy nữ thần:
- Ngươi đã vô cớ xúc
phạm ta là một Tỳ kheo phạm hạnh thanh tịnh. Hãy đi đi, đừng ở đây nữa.
Ngài nghiêm nghị nói
kệ:
Cuộc sống ta trong
sạch,
Phạm hạnh không vết
tỳ.
Thanh tịnh tăng chớ
mắng,
Mau ra khỏi rừng đi.
Tôn giả ở lại hang
đến hết mùa an cư rồi trở về chỗ Phật. Các Thầy Tỳ kheo hỏi:
- Này huynh, huynh đã
đạt được mục đích tối thượng, làm tròn bổn phận một Sa môn chưa?
Tôn giả kể kinh
nghiệm vừa qua cho các Thầy nghe, bắt đầu từ lúc đến hang ở. Các Thầy hỏi:
- Này huynh, khi nữ
thần kia nói huynh như thế huynh có nổi giận không?
- Không, tôi không
giận.
Các Thầy Tỳ kheo đến
bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
Tỳ kheo này nói dối. Thầy nói khi nữ thần bảo Thầy nọ kia, Thầy không giận.
Ðức Thế Tôn lắng nghe
họ kể hết chuyện. Ngài dạy:
- Này các Tỳ kheo,
con ta không sân giận. Thầy ấy chẳng chuyện trò với Cư sĩ hoặc Tu sĩ, sống đời
độc cư, thiểu dục và tri túc.
Ngài nói kệ:
(404) Không liên hệ
cả hai,
Xuất gia và thế tục,
Sống độc thân, ít
dục,
Ta gọi Bà la môn.
22. Vị Sa Môn Và Người Ðàn Bà
Bỏ trượng, đối chúng
sanh...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo.
Một Thầy Tỳ kheo nọ
sau khi nhận đề mục Thiền quán liền lui vào rừng sâu, chuyên chú hành Thiền và
đắc quả A la hán. Thầy tự nghĩ: "Ta sẽ đến trình lên đức Thế Tôn niềm an
lạc vô biên vừa đạt được này.” Và Thầy rời khu rừng, lên đường trở về. Lúc ấy,
tại một xóm làng Thầy vừa đi ngang, có người đàn bà cãi nhau với chồng. Khi ông
chồng đi khỏi nhà, cô nghĩ: "Ta sẽ về nhà ta.” Cô liền ra đi trên đường,
thấy vị Sa môn, cô lại nghĩ: "Ta nên đi gần Tôn giả này", rồi cô đi
theo Thầy Tỳ kheo bén gót. Tôn giả chẳng hề nhìn ngó gì đến cô cả.
Ông chồng trở về nhà
không thấy cô vợ đâu thì biết ngay: "Chắc cô ả về nhà mẹ", ông liền
đi kiếm. Khi trông thấy cô, ông nghĩ: "Cô này không thể nào đi qua rừng
một mình được đâu. Cô ả đi với ai?" Bỗng ông thấy vị Sa môn: "Chắc Thầy
này dẫn cô ả đi rồi đây.” Ông bèn tiến đến đe dọa Thầy Tỳ kheo, cô vợ kêu lên:
- Vị Sa môn đức hạnh
này chẳng hề nhìn ngó hay hỏi han tôi tiếng nào. Xin đừng xúc phạm Thầy.
- Bộ bà muốn nói bà
bỏ đi kiểu này đây hả? Ta sẽ cho hắn một trận xứng đáng với tội của riêng bà
thôi đấy.
Trong cơn tức giận vì
căm ghét người đàn bà, ông đánh Thầy Tỳ kheo nhừ tử rồi dẫn cô vợ về.
Thân thể vị Sa môn
đầy những lằn roi khi Thầy về tu viện, các Thầy khác chà xát người cho Thầy để
ý thấy các vết roi bèn hỏi. Thầy kể lại đầu đuôi câu chuyện. Các Thầy nói:
- Nhưng này huynh,
khi ông kia đánh huynh như vậy, huynh có nói gì không? Huynh có nổi xung không?
- Không, thưa chư
huynh. Tôi không giận.
Các Thầy bạch lên đức
Phật câu chuyện và thưa:
- Bạch Thế Tôn, chúng
con hỏi Thầy Tỳ kheo có giận không, Thầy ấy nói chẳng giận. Thầy ấy nói dối.
Ðức Thế Tông lắng
nghe chuyện họ kể và dạy:
- Này các Tỳ kheo, kẻ
nào đã trừ được lậu hoặc liền bỏ hết roi gậy. Dù ai đánh họ, họ cũng không sân
giận lại.
Ngài nói kệ:
(405) Bỏ trượng, đối chúng
sanh.
Yếu kém hay kiên
cường,
Không giết, không bảo
giết,
Ta gọi Bà la môn.
23. Bốn Vị Sa Di
Thân thiện giữa thù
địch...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến bốn vị Sa di.
Bà vợ của người Bà la
môn nọ sửa soạn một bữa ăn cho bốn vị Sa môn được đặc biệt chọn mời. Bà bảo ông
chồng:
- Ông hãy đến Tinh xá
và bảo họ chọn cho bốn vị Bà la môn lão thành, rồi rước về nhé!
Ông Bà la môn đến
Tinh xá, thưa:
- Xin chọn cho bốn vị
Bà la môn và đưa họ ra gặp tôi.
Những vị được chọn
rơi nhằm bốn chú Sa di mới lên bảy tuổi nhưng đã đắc quả A la hán, gồm các Tôn
giả Samkicca, Pandita, Sopàka và Revata. Bà vợ người Bà la môn chuẩn bị các chỗ
ngồi rất lộng lẫy, sang trọng và đứng chờ. Vừa thấy bóng các Sa di, bà đã giận
sôi lên, nổ một tràng dài nghe như muối kêu trên lò lửa:
- Ông đến Tinh xá mà
đưa về bốn đứa trẻ nít chẳng lớn bằng cháu chắt ông.
Bà không chịu mời các
chú ngồi lên chỗ đã soạn sẳn, lại trải chỗ ngồi khác thấp hơn và kêu họ:
- Ngồi đây này!
Xong bà bảo ông
chồng:
- Ông ơi, ông đi mời
vài vị Sa môn lão thành về đây.
Ông Bà la môn đến
Tinh xá, gặp Tôn giả Xá Lợi Phất, thưa:
- Xin mời Ngài về nhà
tôi.
Ông đưa Tôn giả về
nhà. Thấy các vị Sa di ngồi đó, Tôn giả hỏi:
- Các Sa môn này đã
thọ trai chưa?
- Dạ, chưa.
Khi biết chủ nhà chỉ
nấu bốn phần ăn, Tôn giả nói:
- Xin mang trả bát
cho tôi.
Rồi Tôn giả ôm bát,
rồi nhà ông Bà la môn. Bà vợ hỏi:
- Thầy ấy nói gì thế?
- Thầy nói:"Các
vị Sa môn ngồi đây đáng được thọ nhận vật thực. Xin trả bát cho tôi.” Nói xong
Thầy ấy cầm bát và đi về.
Bà vợ bảo:
- Chắc ổng không muốn
ăn, thôi ông đi mau lên, kiếm một vị Sa môn khác đưa về đây.
Ông Bà la môn trở lại
Tinh xá lần nữa, và gặp Tôn giả Mục Kiền Liên, cũng thưa như trước và dẫn Tôn
giả về nhà. Ngài Ðại Mục Kiền Liên thấy các chú Sa di, cũng hỏi y như Tôn giả
Xá Lợi Phất và cầm bát đi thẳng. Bà vợ nói:
- Các Tôn giả này
không muốn thọ trai. Ông hãy đến Tinh xá lần nữa đi, và chỉ mời vị Sa môn lão
thành thôi.
Bấy giời các Sa di từ
sáng sớm chưa có hột cơm nào vào bụng. ngồi đói run rẩy. Do sức mạnh của phước
đức họ, ngai trời Ðế Thích nóng lên. Ngài tìm hiểu nguyên nhân, thấy nhóm Sa di
ngồi từ sáng đang đói lả người đến kiệt sức, liền nghĩ: "Ta có nhiệm vụ
phải đến đấy.” Ngài cải trang thành một Sa môn già lọm khọm, đến Tinh xá và ngồi
vào chỗ dễ thấy nhất giữa các vị Sa môn. Ông Bà la môn trông thấy Ðế Thích,
nghĩ: "Mụ vợ ta hẳn sẽ hài lòng.” Ông mời Ðế Thích về nhà. Bà vợ vừa trông
thấy Ðế Thích liền tươi cười hớn hở, lấy thảm và chiếu đôi phủ lên một chỗ
ngồi, mời chào rối rít:
- Kính bạch Ðại đức
tôi quí, xin mời Ngài an tọa.
Ðế Thích vào nhà liền
đến đảnh lễ bốn vị Sa di, năm vóc gieo sát đất, rồi Ngài kiếm chỗ ngồi kiết già
dưới đất gần mé bộ ván thấp nơi các chú đang ngồi.
Bà vợ ông Bà la môn
thấy thế, nói:
- Ðúng là ông rước về
nhà một vị Sa môn thiệt đó. Ông đưa về vị này lớn bằng cha ông mà Thầy ấy lại
đi chào các chú Sa di tuổi bằng cháu chắt ổng. Ta đâu cần người như ổng. Ðuổi
ổng ra đi!
Ông Bà la môn nắm vai
Ðế Thích, rồi kéo tay, đẩy lưng,ráng sức lôi Ngài ra ngoài, nhưng Ðế Thích ngồi
không nhúc nhích. Bà vợ bảo:
- Ông nắm một tay,
tôi sẽ nắm tay kia.
Hai ông bà nắm cả hay
tay Ðế Thích, hì hục đẩy sau lưng, ráng lôi được Ngài ra khỏi cửa. Nhưng Ðế
Thích hóa phép ngồi yên chỗ cũ, hai tay vẫy lia lịa chào họ.
Hai ông bà trở vào thấy
Ngài ngồi y đó thì sợ hãi, ré lên khủng khiếp và đề Ngài tự do. Bấy giờ Ðế
Thích cho biết Ngài là ai. Hai ông bà liền mời khách thọ trai. Xong xuôi, năm
vị khách từ giã. Một vị Sa di bay xuyên qua nóc nhà. Vị thứ hai xuyên qua mái
trước, vị thứ ba tung mái sau, vị thứ bốn chui xuống đất, còn Ðế Thích thì ra
bằng một ngõ khác nữa. Cứ thế, năm vị mỗi vị rời ngôi nhà kia một kiểu. Từ đó
ngôi nhà được biết đến với tên "Nhà có năm cửa.
Các vị Sa di về Tinh
xá, các Thầy Tỳ kheo hỏi:
-
Sao? Chư huynh đi thọ trai thế nào?
- Thôi, xin chư huynh
chớ hỏi nữa! Vợ ông Bà la môn vừa thấy chúng đệ đã nổi giận đùng đùng. Bà không
cho chúng đệ ngồi vào chỗ dọn sẳn, mà bảo ông chồng: "Ông mau mau đi rước
cho một vị Sa môn lão thành.” Thầy tế độ của chúng đệ đến, thấy chúng đệ đó
liền nói: "Các vị Sa môn đang ngồi đây cần được cúng dường cơm.” Nói xong,
Tôn giả yêu cầu trả bát rồi đi. Bà vợ lại nói: "Ông làm ơn đi rước cho một
vị Sa môn lão thành khác.” Ông chồng đưa Tôn giả Mục Kiền Liên về nhà. Khi thấy
chúng đệ, Tôn giả lại nói y như Tôn giả Xá Lợi Phất và đi luôn. Bà vợ bảo
chồng: "Các vị Tôn giả này không muốn thọ trai. Ông Bà la môn ơi, ông hãy
đến Tinh xá và rước cho tôi một vị Sa môn lão thành thôi.” Ông chồng lần này
rước đúng Ðế Thích cải trang Sa môn dẫn về. Lúc ấy, hai ông bà mới cho chúng đệ
ăn.
- Nhưng thế chư huynh
không giận sao?
- Không, chúng đệ
chẳng giận.
Các Thầy Tỳ kheo nghe
họ trả lời, bèn đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, các
Sa di này nói "chúng tôi không giận" là nói dối.
Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
người đã trừ được lậu hoặc chẳng kháng cự kẻ chống đối họ.
Ngài nói kệ:
(406) Thân thiện giữa
thù địch,
Ôn hòa giữa hung
hăng,
Không nhiễm, giữa
nhiễm trước,
Ta gọi Bà la môn.
24. Tôn giả Ðại Bàn Ðặc Có Còn Tham, Sân Không?
Người bỏ rơi tham,
sân...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Tôn giả Ðại Bàn Đặc (Big
Wayman)
Khi Tôn giả Châu Lợi
Bàn Đặc (Little Wayman) ba tháng không thuộc nổi một bài kệ, anh của Ngài là
Tôn giả Ðại Bàn Đặc đuổi Ngài ra khỏi Tinh xá, đóng cửa lại rồi bảo:
- Chú thiếu khả năng,
không hiểu nổi Phật pháp, còn hạnh phúc thế gian chú cũng rời bỏ rồi. Ðâu còn
lý do gì để chú tiếp tục ở lại đây? Chú hãy đi đi.
Các Thầy Tỳ kheo bàn
tán về chuyện ấy, nói:
- Này chư huynh, Tôn
giả Ðại Bàn Đặc làm thế này thế nọ. Chắc chắn ngay cả những vị đã xa lìa cấu
nhiễm thỉnh thoảng vẫn còn sân hận.
Lúc ấy, đức Phật đi
đến hỏi:
- Này các Tỳ kheo,
các ông tụ hội ở đây bàn tán việc gì?
Các Thầy bạch lên
Phật vấn đề. Ngài dạy:
- Này các Tỳ kheo,
không phải đâu. Những kẻ đã xa lìa cấu nhiễm trong tâm chẳng còn các hoặc,
tham, sân và si. Ông ấy hành động như vậy chỉ vì ông đặt Phật pháp, và tinh
thần Phật pháp lên trên tất cả.
Ngài nói kệ:
(407) Người bỏ rơi
tham, sân
Không mạn, không ganh
tị.
Như hột cải đầu kim
Ta gọi Bà la môn.
25. Sức Mạnh Tập Khí
Nói lên lời ôn hòa...
Thế Tôn dạy những lời
này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Tôn giả Pilindavaccha.
Thượng tọa
Pilindavaccha dường như có thói quen nói năng với Cư sĩ và Sa môn bằng những
lời lẽ chỉ dùng để gọi những kẻ lang thang cầu bơ cầu bất.
- Này đến đây, cha
nội!
Hoặc:
- Thôi đi đi, lão đê
tiện.
Một hôm, nhiều Thầy
Tỳ kheo đến phàn nàn với đức Phật về hành vi của Tôn giả. Các Thầy nói:
- Bạch Thế Tôn,
Thượng tọa Pilindavaccha gọi các Thầy Tỳ kheo bằng những từ chỉ dùng cho hạng
đầu đường xó chợ.
Ðức Phật cho gọi Tôn
giả đến, hỏi:
- Có người nói lỗi
ông là đã gọi các Tỳ kheo bằng những cử chỉ dùng cho hạng đầu đường xó chợ. Có
không, Vaccha?
- Bạch Thế Tôn, có ạ!
Con có lỗi ấy.
Ðức Phật nhớ lại xem
các kiếp trước vị Thượng tọa đó đã ở đâu, rồi Ngài bảo các Tỳ kheo:
- Này các Tỳ kheo,
các ông đừng giận Tỳ kheo Vaccha. Chẳng phải ông Vaccha còn nuôi lòng hận ghét
bên trong mà nói năng với Tỳ kheo huynh đệ như thế đâu. Thực tế là ông ấy đã
qua năm trăm kiếp tái sanh vào nhà một người Bà la môn, và ông ấy đã sử dụng
loại ngôn từ này quen thuộc trong suốt một thời gian lâu dài đến nỗi giờ đây
nói với ai cũng thế, chỉ do sức mạnh của tập khí thôi. Người đã trừ được lậu
hoặc chẳng bao giờ dùng lời lẽ thô bỉ, độc ác, chẳng bao giờ nói những lời
khiến người vừa nghe liền thấy tổn thương. Chi do sức mạnh tập khí mà người đệ
tử ấy của Ta nói năng kiểu ấy.
Ngài nói kệ:
(408) Nói lên lời ôn
hòa,
Lợi ích và chân thật,
Không mất lòng một
ai,
Ta gọi Bà la môn.
26. Thầy Tỳ Kheo Bị Kết Tội Trộm Cắp
Ở đời vật dài,
ngắn...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo.
Tại thành Xá Vệ, có
một người Bà la môn mang nặng tà kiến, một hôm vì sợ tấm vải choàng ngoài của
mình có mùi mồ hôi, bèn cởi ra để ở ngoài, rồi ngồi quay mặt vào nhà mình. Lúc
ấy, có một vị Sa môn đã đắc A la hán, sau khi thọ trai đang đi về Tinh xá, thấy
tấm vải và nhìn quanh không có ai, Thầy nghĩ nó vô chủ liền lượm nó như Thầy
từng lượm vải rách bị liệng bỏ, và cầm đi. Ông Bà la môn trông thấy liền đi đến
mắng chửi Tôn giả:
- Này lão Tỳ kheo đầu
trọc kia, ngươi lấy tấm vải của ta đấy.
- Này Bà la môn, tấm
vải này của ông ư?
- Ðúng.
- Tôi nhìn quanh
không thấy ai, tưởng nó là đồ bỏ đi liền nhặt lấy. Ðây, trả ông.
Nói rồi Tôn giả đưa
tấm vải cho ông Bà la môn. Khi về Tinh xá, Thầy kể chuyện cho các Thầy Tỳ kheo
nghe. Các Thầy bèn trêu Tôn giả:
- Này huynh, tấm vải
huynh nhặt dài hay ngắn, thô hay mịn?
- Thưa chư huynh, tôi
chẳng cần biết nó dài hay ngắn, thô hay mịn. Tôi không tham đắm nó. Tôi nhặt
chỉ vì nghĩ nó là đồ người ta bỏ, thế thôi.
Các Thầy nghe nói vậy
bèn bạch Phật câu chuyện, và thưa:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
Tỳ kheo này nói dối.
Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
không phải đâu. Tỳ kheo này đã nói rất thật. Kẻ nào trừ được lậu hoặc không lấy
vật người khác.
Ngài nói kệ:
(409) Ở đời, vật dài,
ngắn,
Nhỏ, lớn, đẹp hay
xấu,
Phàm không cho không
lấy,
Ta gọi Bà la môn.
27. Tôn giả Xá Lợi Phất Bị Hiểu Lầm.
Người không có hy
cầu...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Xá Lợi Phất.
Một thời nọ, Tôn giả
Xá Lợi Phất cùng năm trăm Tỳ kheo đến kiết hạ an cư tại một Tinh xá và ở đấy
suốt ba tháng an cư. Dân chúng trông thấy Tôn giả liền đến hứa xin cúng dường
tứ sự. Nhưng sau khi Tôn giả cử hành xong lễ Tự tứ rồi, các vật dụng cúng dường
vẫn chưa được mang đến hết. Trước lúc lên đường về gặp đức Thế Tôn, Tôn giả dặn
dò các Tỳ kheo ở lại:
- Khi nào người ta
đem các món cúng dường kia đến cho các Tỳ kheo trẻ và Sa di, xin các Thầy nhận
và gởi đi dùm. Còn nếu họ không đem đến, cũng xin các Thầy làm ơn nhắn giúp tôi
một tiếng.
Xong, Tôn giả đi về
chỗ đức Phật ở.
Các Thầy Tỳ kheo bàn
tán:
- Nghe những lời Tôn
giả Xá Lợi Phất nói hôm nay, cũng thấy lòng tham còn rơi rớt nơi ông ấy. Tôn
giả còn dặn về những món người ta cúng dường cho các Tỳ kheo cùng đoàn mình:
"Xin các Thầy gởi đi dùm, hoặc không thì làm ơn nhắn giúp tôi một tiếng!”
Lúc ấy đức Phật đi
đến, hỏi:
- Này các Tỳ kheo,
các ông tụ hội ở đây bàn tán chuyện gì?
Các Thầy Tỳ kheo thưa
câu chuyện. Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
con Ta không còn tham. Trong tâm ông ấy chỉ nghĩ: "Mong rằng các thí chủ
không bị mất phước, mong rằng các Tỳ kheo trẻ và Sa di không bị thất thoát
những lợi dưỡng cao quý.” Do vậy ông ấy mới dặn dò như thế.
Ngài nói kệ:
(410) Người không có
hy cầu,
Ðời này và đời sau,
Không hy cầu, giải
thoát,
Ta gọi Bà la môn.
28. Tôn Giả Mục Kiền Liên Bị Hiểu Lầm
Người không còn tham
ái...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Mục Kiền Liên.
Câu chuyện tương tự
như chuyện trên. Kết cuộc, biết Tôn giả Mục Kiền Liên đã dứt được tham ái, Phật
nói kệ:
(411) Người không còn
tham ái,
Có trí, không nghi
hoặc,
Thế nhập vào bất tử,
Ta gọi Bà la môn.
29. Bỏ Cả Tốt Lẫn Xấu
Người sống ở đời
này...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Pubbàràma, liên quan đến Tôn giả Revata.
Câu chuyện này đã
được kể đầy đủ chi tiết trong phần chú giải bài kệ bắt đầu với câu: "Làng
mạc hay núi rừng.” Chuyện kể tiếp rằng:
Lại một hôm các Thầy
Tỳ kheo bàn tán trong pháp đường:
- Ôi, vị Sa di đó
được lợi lạc lớn lao biết mấy! Ôi! Phước đức của chú thật vô lượng vô biên!
Tưởng tượng một người mà xây dựng được năm trăm chỗ ở cho năm trăm Thầy Tỳ
kheo.
Lúc ấy, đức Phật đi
đến, hỏi:
- Này các Tỳ kheo,
các ông tụ hội ở đây bàn tán việc gì?
Các Thầy bạch Phật
câu chuyện. Ngài dạy:
- Này các Tỳ kheo,
Revata chẳng có phước hay vô phước. Người ấy đã buông bỏ cả hai.
Ngài nói kệ:
(412) Người sống ở
đời này,
Không nhiễm cả thiện
ác,
Không sầu, sạch không
bụi,
Ta gọi Bà la môn.
30. Tôn Giả Nguyệt Quang
Như trăng, sạch không
uế..
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Nguyệt Quang,
Candàbhà.
Chuyện quá khứ:
A. Người Thợ Rừng
Cúng Dường Chiếc Ðĩa Mặt Trăng
Thuở lâu xa thời quá
khứ, có một thương gia sống ở Ba La Nại, một hôm tự bảo: "Ta sẽ đi về vùng
biên giới kiếm gỗ đàn hương.” Ông mua thật nhiều quần áo, đồ trang sức.v.v. dẫn
theo năm trăm cỗ xe đi về vùng biên địa, dừng lại nghỉ đêm tại một cổng làng,
và hỏi các cậu bé chăn bò trong rừng:
- Trong làng này có
ai làm nghề đi rừng không?
- Có
- Ông ta tên gì?
- Tên như vậy, như
vậy.
- Vợ và con ổng tên
gì?
- Tên như thế, như
thế.
- Nhà ổng ở đâu?
- Ở chỗ như vầy, như
vầy.
Thương gia ngồi trên
cỗ xe thật êm, đi theo lời chỉ dẫn của các chú bé, đến trước cửa nhà người thợ
rừng liền xuống xe, vào nhà hỏi thăm bà chủ nhà có phải tên nọ, tên kia không.
Bà chủ thầm nghĩ:
"Ðây chắc bà con mình.” Bà nhanh nhẩu đem ghế mời ông ngồi. Thương gia lại
nói tên ông chủ nhà, hỏi thăm:
- Ông bạn tôi đâu
rồi?
- Thưa Ngài, ông ấy
đi rừng.
- Các cháu A, cháu B
đâu?
Ông hỏi thăm tỉ mỉ
từng người trong nhà, gọi tên đủ cả. Xong, ông biếu tặng các thứ quần áo, đồ
trang sức mang theo, và bảo:
- Khi nào ông bạn đi
rừng về, xin trao áo quần và những món này cho ông ấy.
Bà chủ nhà hết sức
trọng vọng, tôn kính thương gia. Chồng vừa từ rừng về đến, bà nói:
- Ông ơi, thương gia
này mới đến thăm nhà mình đã hỏi han đầy đủ từng người, biết hết tên tuổi, rồi
tặng quà thứ này thứ kia.
Người thợ đi rừng
cũng tiếp đãi thương gia lịch sự. Chiều tối, thương gia nằm chơi trên chiếc
chõng tre, hỏi chủ nhà:
- Này bạn, những lúc
đi quanh chân núi này, bạn có thấy gì lạ không?
- Không, chỉ thấy
thấy có lắm cây màu đỏ.
- Nhiều hả?
- Vâng, nhiều.
- Chúng ta hãy đi xem
những cây đó.
Hai người đến chân
núi, chặt được vô số cây đàn hương đỏ, chất hết lên năm trăm cỗ xe. Lúc quay về
thành, thương gia bảo anh thợ rừng:
- Bạn ạ, nhà tôi ở Ba
La Nại, anh cứ đi như thế, như thế sẽ kiếm ra. Thỉnh thoảng xin mời bạn hạ cố
đến chơi.
Rồi ông nói thêm:
- Quà cáp tôi không
quí gì hơn loại cây có cành màu đỏ này, bạn nhớ mang cho tôi thứ ấy và chi thứ
ấy thôi.
- Dạ được.
Và lâu lâu anh thợ
rùng đi thăm thương gia, chỉ mang theo gỗ đàn hương. Ðáp lại, thương gia tặng
anh tiền bạc hậu hĩ.
Khi đức Phật Ca Diếp
nhập Niết bàn, một ngôi tháp vàng được xây để thờ Xá Lợi. Vào dịp ấy, anh thợ
rừng mang thật nhiều gỗ đàn hương đến Ba La Nại. Ông bạn thương gia liền lấy
một số lớn gỗ ấy đem nghiền thành bột và ông đổ đầy một đĩa bột gỗ đàn hương,
bảo anh thợ rừng:
- Ði bạn, trong lúc
chờ cơm chín, ta hãy đến chỗ đang xây tháp.
Hai người đến tháp
thành kính dâng bột gỗ đàn hương cúng dường Xá Lợi Phật. Anh thợ rừng thì làm
một chiếc đĩa mặt trăng cũng bằng gỗ đàn hương và đặt trong tháp.
Chuyện hiện tại:
B. Sa Môn Nguyệt
Quang
Khi hết kiếp, anh thợ
rừng được sanh lên cõi trời trong khoảng thời gian giữa hai vị Phật Ca Diếp và
Thích Ca. Vào thời Phật hiện tại, anh thọ sanh ở Vương Xá, trong nhà một người
Bà la môn giàu có. Từ rốn cậu bé phát ra vòng hào quang lớn bằng chiếc đĩa mặt
trăng nên cậu được đặt tên Nguyệt Quang, Candàhà. Người ta nói đây là phước báo
do anh đã cúng dường chiếc đĩa mặt trăng kia ở trong tháp Phật.
Một số Bà la môn nghĩ
thầm: "Nếu chúng ta mang người này đi theo sẽ chinh phục được cả thế
giới.” Thế rồi họ cho anh ngồi lên một cỗ xe, mang đi khắp nơi, gặp ai cũng
bảo: "Kẻ nào lấy tay sờ vào thân người Bà la môn này sẽ nhận được những
quyền lực và những sự vinh hiển như thế, như thế.”
Người ta trả một trăm
đồng hoặc một ngàn đồng để được đặc ân sờ vào người Nguyệt Quang. Cứ lang thang
như thế, một hôm họ vào thành Xá Vệ và nghỉ tại một nơi gần Tinh xá Kỳ Viên.
Lúc ấy năm chục triệu
thiện tín thành Xá Vệ đang cúng dường chư Tăng trước bữa điểm tâm. Sau bữa điểm
tâm họ mang hương hoa, áo quần, thuốc men đến nghe Phật thuyết pháp. Các người
Bà la môn thấy, hỏi:
- Các bạn đi đâu đó?
- Ðến nghe đức Thế
Tôn thuyết pháp.
- Lại đây này! Ðến
đằng kia được ích gì? Không có thần thông nào hơn thần thông của Bà la môn
Nguyệt Quang của chúng tôi đây. Kẻ nào sờ vào thân vị ấy sẽ có những quyền lực
và những sự vinh hiển như thế, như thế. Hãy đến chiêm ngưỡng.
- Thần thông của ông
Bà la môn các người thì thấm vào đâu. Chỉ có đức Thế Tôn mới có đại thần thông
thôi.
Hai bên tranh cãi
kịch liệt một hồi, rốt cuộc chẳng phe nào thắng. Nhóm người Bà la môn đề nghị:
- Chúng ta hãy đến
Tinh xá xem Nguyệt Quanh hay đức Thế Tôn của các người, ai có đại thần thông.
Ðức Phật vừa thấy
Nguyệt Quang liền khiến cho vòng hào quang biến mất, cho nên trước mặt đức
Phật, anh chàng chẳng hơn gì một con quạ nằm trong thúng than. Những người Bà
la môn vừa kéo Nguyệt Quang ra xa, vòng hào quang sáng rực trở lại như trước.
Họ mang anh đến trước Phật, vòng hào quang biến mất. Cứ thế đến lần thứ ba,
Nguyệt Quang thầm nghĩ: "Chắc chắn vị này giở huyễn thuật làm cho vòng hào
quang của ta mất đi.” Anh hỏi Phật:
- Có phải Ngài biết
chú thuật làm hào quang của tôi mất đi không?
- Ðúng, ta biết chú
thuật ấy.
- Xin Ngài hãy truyền
chú thuật cho tôi.
- Chú thuật này không
truyền cho người thế tục được.
Nguyệt Quang bèn nói
với các người Bà la môn:
- Chừng nào ta học
được chú thuật sẽ trở thành nhân vật siêu phàm nhất Diêm phù đề này. Các người
hãy ở lại chờ ta xuất gia, trong vài ngày thôi sẽ học được chú thuật.
Anh xin Phật xuất gia
làm Sa môn.
Ðức Thế Tôn dạy đề
mục Thiền quán về ba mươi hai thứ cấu tạo nên thân, Nguyệt Quang hỏi:
- Cái này là sao ạ?
Phật dạy:
- Trước khi học chú
thuật kia, phải học qua cái này.
Lâu lâu, những người
Bà la môn lại đến hỏi:
- Anh đã học xong chú
thuật chưa?
- Chưa, tôi còn đang
học.
Chỉ vài ngày sau anh
đắc quả A la hán.
Nhóm người Bà la môn
đến nữa, anh bảo:
- Thôi, các ông hãy
đi đi. Ta đã đến một nơi không bao giờ còn trở lại.
Các vị Tỳ kheo bạch
lên Phật câu chuyện:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
Tỳ kheo này nói dối!
Ðức Phật bảo:
- Này các Tỳ kheo,
ông ấy đã nói thật. Tỳ kheo này không còn tham đắm các thú vụi thế gian.
Phật nói kệ:
(413) Như trăng, sạch
không uế,
Sáng trong và tịnh
lặng,
Hữu ái được đoạn tận,
Ta gọi Bà la môn.
31. Bảy Năm Trong Bụng Mẹ
Vượt đường nguy hiểm
này...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang trú tại Kundadhàvana, gần Kundakoli, liên quan đến Tôn
giả Sìli.
Thuở ấy, bà Suppavàsà
thuộc dòng Câu Lợi, mang thai một đứa bé đến bảy năm. Lúc sanh nở, vì đứa bé
nằm lệch, bà bị những cơn đau xé ruột, liền tự bảo: "Ðức Thế Tôn thật là
bậc Giác ngộ Tối thượng. Ngài đã giảng dạy cho ta con đường thoát những khổ não
như khổ này. Chúng tăng của Tăng đoàn đức Thế Tôn quả thật là những vị rất tinh
tấn. Các Ngài đã nỗ lực diệt những khổ não như khổ này. Niết bàn quả thực là an
lạc, không còn những khổ não như khổ này.”
Bà nhẫn chịu cơn đau
nhờ những quán tưởng ấy. Rồi bà yêu cầu chồng đến hầu Phật, nhân danh bà xin
đảnh lễ Ngài. Ðảnh lễ xong, ông bạch Phật nguyện ước của bà. Phật nói:
- Chúc bà Suppavàsà,
người phụ nữ trẻ dòng Câu Lợi, dồi dào sức khỏe. Chúc bà sanh con trai, khỏe
mạnh, hạnh phúc.
Phật vừa chúc lành
xong, bà Suppavàsà liền sanh một cậu bé trông thật hồng hào, vui tươi. Sau đó,
bà thỉnh đức Phật cùng chư Tăng đến nhà cúng dường long trọng suốt bảy ngày. Từ
khi chào đời, con bà ngày ngày lo việc lọc nước cho chư Tăng. Thời gian sau cậu
xuất gia làm Sa môn và đắc A la hán.
Một hôm các Thầy Tỳ
kheo bàn tán trong Pháp đường:
- Chư huynh
nghĩ coi! Một vị Sa môn cao quí như vậy, đầy đủ khả năng chứng A la hán, phải
chịu khổ suốt bảy năm trong bụng mẹ. Thầy ấy quả đã trải qua những thống khổ
ghê gớm.
Lúc ấy, đức Phật đi
đến hỏi:
- Này các Tỳ kheo,
các ông tụ hội ở đây bàn tán chuyện gì?
Các Thầy bạch Phật
câu chuyện.
Phật dạy:
Này các Tỳ kheo, đúng
thật như vậy. Ông ấy giờ đây đã thoát hết các khổ, đạt đến Niết bàn an lạc.
Ngài nói kệ:
(414) Vượt đường nguy
hiểm này,
Nhiếp phục luân hồi,
si,
Ðến bờ kia Thiền
định,
Không dục ái, không
nghi,
Không chấp trước,
tịch tịnh,
Ta gọi Bà la môn.
32. Cô Gái Giang Hồ Quyến Rũ Thầy Tỳ Kheo
Sundarasamudda
Ai ở đời, đoạn dục...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời trên khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Mỹ Hải,
Sundarasamudda.
Mỹ Hải,
Sundarasamudda Kumàra, là một thanh niên người Xá Vệ, địa vị cao sang, sanh
trưởng trong một gia đình giàu có, tài sản lên đến ức triệu. Một hôm, sau bữa
ăn sáng, trông thấy dân chúng cầm hương hoa đến Tinh xá Kỳ Viên nghe pháp,
chàng hỏi:
- Các bạn đi đâu thế?
- Ði nghe đức Thế Tôn
thuyết pháp.
- Tôi cũng đi nữa.
Chàng theo họ vào
ngồi ở mé ngoài của chúng hội. Ðức Phật biết được tư tưởng chàng nên giảng pháp
theo thứ lớp từ thấp đến cao. Mỹ Hải nghĩ: "Thật không thể nào làm chủ một
gia đình mà giữ được phạm hạnh trọn vẹn thanh tịnh, bóng ngời như chiếc vỏ sò.”
Bài pháp của Phật
khiến chàng nức lòng, muốn xin xuất gia. Ðợi chúng hội giải tán hết, chàng đến
xin đức Phật cho gia nhập Tăng đoàn. Phật dạy:
- Như Lai chỉ nhận
cho vào Tăng đoàn kẻ nào đã được cha mẹ cho phép.
Về đến nhà, cũng
giống như chàng Ratthapàla và những người khác, chàng nỗ lực ráo riết, xoay sở
đủ cách xin cho được phép của cha mẹ để xuất gia. Và chàng cũng được làm Sa
môn, gia nhập Tăng đoàn đức Phật. Thành Tỳ kheo rồi, Thầy làm tròn mọi bổn phận
của một Tăng sĩ. Một hôm, Thầy nghĩ: "Ta ở lại đây phỏng có ích gì?” Thầy
rời Kỳ Viên, đến thành Vương Xá, ngày ngày đi khất thực.
Một hôm, thành Xá Vệ
mở lễ hội lớn. Cha mẹ Thầy trông thấy bạn bè xưa của Thầy vui chơi thỏa thích
giữa các thứ xa hoa của ngày hội huy hoàng thì lòng buồn rười rượi. Hai ông bà
khóc lóc, than thở:
- Ôi, con ta ngày nay
đâu được hưởng những thứ vui này!
Khi ấy, có một cô gái
giang hồ sang trọng đến nhà họ chơi, thấy bà mẹ khóc, liền hỏi:
- Mẹ ơi, sao mẹ khóc?
- Tôi nghĩ đến con
trai tôi hoài nên khóc.
- Nhưng thưa mẹ, anh
ấy đâu?
- Xuất gia rồi, đang
ở với các Thầy Sa môn.
- Chúng ta không thể
kêu anh ấy về lại sao mẹ?
- Cũng được đấy.
Nhưng nó có chịu đâu. Nó đã rời Xá Vệ đi Vương Xá rồi.
- Giả sử con kêu anh
ấy về, mẹ sẽ cho con gì nào?
- Chúng tôi sẽ để cô
làm nữ chủ gia sản này.
- Tốt lắm, mẹ hãy cho
con tiền lệ phí.
Nhận được món tiền,
cô mướn thật nhiều người hầu giúp việc, rồi lên đường đến Vương Xá.
Cô hỏi thăm con đường
Tôn giả thường đi khất thực và mua một ngôi nhà nơi đó để ở. Từ sáng sớm, cô lo
chuẩn bị những món ăn Thầy thường thích, và khi thấy Thầy đi khất thực, cô đem
đến cúng dường. Sau vài ngày, cô thưa:
- Bạch Ðại đức, xin
Ngài ngồi đây để dùng bữa.
Cô đưa tay xin bình
bát và Tôn giả vui vẻ trao liền. Cô dọn cho Thầy những món thật ngon, rồi thưa
tiếp:
- Bạch Ðại đức, hằng
ngày đi khất thực, xin Ðại đức cứ ghé lại đây. Ngài sẽ được vui lòng.
Dần dần, cô dẫn dụ
được Thầy đến ngồi ở hàng hiên nhà cô, dùng những món ăn thích khẩu.
Ít hôm sau, cô kêu
vài cậu bé vào cho ăn bánh để kết thân, rồi bảo:
- Này, mấy cháu! Khi
nào thấy Tôn giả đến đây, các cháu kéo nhau tới nhé. Cứ tung bụi lên rõ nhiều.
Cô rầy bảo thôi, các cháu cũng đừng thèm để ý.
Ngày mai lại, trong
lúc Tôn giả đang dùng bữa, bọn trẻ đến đá bụi bay mù mịt. Cô chủ rầy la, bọn
chúng vẫn trơ trơ. Hôm sau nữa, cô thưa:
- Bạch Ðại đức, tụi
nhỏ này tung bụi mù mịt thế này. Con rầy tụi nó cũng chẳng nghe. Xin Ðại đức
vào trong nhà ngồi.
Từ đó, cô mời Tôn giả
vào luôn trong nhà ngồi dùng bữa. Rồi cô lại đút lót bọn trẻ, dặn:
- Khi Tôn giả đang
dùng bữa, các cháu chơi đùa thật ồn ào lên nhé. Cô có bảo thôi, các cháu đừng
để ý.
Bọn trẻ làm y lời cô.
Hôm sau nữa, cô thưa:
- Bạch Ðại đức, chỗ
này ồn ào hết chịu nổi. Con đã làm đủ cách, bọn trẻ vẫn cứ ồn. Xin thỉnh Ðại
đức lên tầng trên.
Tôn giả bằng lòng. Cô
liền leo lên tầng cao nhất của ngôi biệt thự, thúc hối Thầy vào trước và cô
theo sau đóng cửa lại. Từ trước, Tôn giả luôn luôn theo đúng lệ chỉ thọ nhận
thực phẩm bằng cách khất thực từ cửa nhà này qua cửa nhà khác. Nhưng bấy giờ, Thầy
bị con ma tham ăn quản thúc ghê gớm đến nỗi nghe theo lời cô gái điếm, leo lên
tận tầng chót của ngôi nhà bảy tầng ấy. Cô mang ghế đến cho Thầy ngồi.
Cô gái giang hồ trổ
hết tài nghệ, giở tất cả thủ thuật làm duyên của các bà để quyến rũ Thầy Tỳ
kheo. Sau cùng, cô đứng trước Tôn giả, đọc một đoạn thơ:
Móng chân sơn đỏ
chót,
Dép lê kỹ nữ mang,
Xuân xanh chàng đang
độ,
Em cũng cùng lứa
trang.
Hạnh phúc xin chung
hưởng,
Chàng sẽ là của em,
Nô lệ chàng, em hứa,
Cùng nhau sống ấm êm.
Rồi sau ngày xuân
mất,
Bỏ cuộc chơi ta về,
Gậy cầm tay cùng
chống,
Tuổi già ôi não nề.
Tôn giả bỗng chợt
tỉnh: "Hỡi ôi! Ta đã phạm trọng giới! Ta đã hành động thiếu suy nghĩ.”
Thầy bàng hoàng lo sợ. Vừa lúc ấy, đức Phật đang ở tại Kỳ Viên cách Tôn giả bốn
mươi lăm dặm. Ngài biết hết chuyện và mỉm cười. Tôn giả A Nan hỏi:
- Bạch Thế Tôn, vì
sao Ngài cười?
- Này A Nan, tại tầng
lầu cao nhất của một tòa biệt thự bảy tầng trong thành Vương Xá, đang xảy ra
trận chiến giữa Thầy Tỳ kheo Mỹ Hải và một cô gái giang hồ.
- Bạch Thế Tôn, ai sẽ
thắng? Ai sẽ thua?
- A Nan, Thầy Tỳ
kheo Mỹ Hải sẽ thắng, cô gái giang hồ thua.
Nói xong, vẫn an
nhiên tại chỗ, đức Phật phóng quang ảnh hiện thân đến trước Tỳ kheo Mỹ Hải và
nói:
- Này Tỳ kheo, hãy xa
lìa các thứ tham ái, hãy cởi bỏ mọi dục vọng.
Rồi Ngài nói kệ:
(415) Ai ở đời đoạn
dục,
Bỏ nhà, sống xuất
gia,
Dục hữu được đoạn
tận,
Ta gọi Bà la môn.
- Chú Giải trong
Nguyên Bản: Kẻ nào ngay trong đời này diệt trừ được hai thứ tham ái, xa lìa thế
tục, kẻ đã dập tắt lửa tham dục, đoạn dứt sanh tử, ta gọi kẻ ấy là Bà la môn.
Phật nói kệ xong, Tôn
giả Mỹ Hải đắc A la hán, dùng thần thông bay lên trời, xuyên qua nóc nhà cô gái
điếm, trở lại thành Xá Vệ, đảnh lễ tán thán Phật thân.
Hôm ấy, các Thầy Tỳ
kheo tụ họp bàn tán trong Pháp đường:
- Này chư huynh, chỉ
vì vị ngon ngọt của lưỡi mà Tôn giả Mỹ Hải suýt nữa tiêu vong, may nhờ đức Thế
Tôn giải cứu.
Ðức Phật nghe vậy,
bảo:
- Này các Tỳ kheo,
đây chẳng phải lần đầu tiên ta giải cứu ông ấy thoát khỏi dây trói buộc của vị
trần. Trong một kiếp trước cũng đã xảy ra chuyện tương tự.
Theo lời thỉnh cầu
của chúng Tỳ kheo, muốn sáng tỏ vấn đề, Ngài kể chuyện:
Chuyện quá khứ:
Cơn Linh Dương Bị Sa
Bẫy Mật, Truyện Tiền Thân Vàtamiga.
(Sanjaya, vị quan coi
vườn Thượng uyển của vua xứ Ba La Nại, bôi mặt lên cỏ để nhử một con linh dương
hoang vào vườn. Sau đó, ông dùng mật nhử tiếp linh dương vào cung vua và bắt
được nó).
Người đời có câu
rằng:
Không gì nguy hiểm
hơn,
Cuốn lôi của vị giác,
Dù đang ở gia đình,
Hay tại nhà bạn hữu.
Dùng miếng ngon mồi
bẫy,
Sanjaya nhử luôn,Linh
dương vô cung cấm,
Nhốt chân, chạy hết
đường.
Ðức Phật kể xong
chuyện tiền thân Vàtamiga liền giải thích:
- Lúc ấy Tỳ kheo Mỹ
Hải là con linh dương, vị quan đại thần nói câu kệ khiến linh dương được thả
chính là Ta.
33. Jotika Và Jatila
Ai ở đời đoạn ái...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở Trúc Lâm, liên quan đến Tôn giả Jatila.
Chuyện quá khứ:
A. Aparàjita, Tiền
Thân Của Jotika
Ngày xưa, ở xứ Ba La
Nại có hai anh em điền chủ trồng được một ruộng mía thật lớn. Một hôm người em
thăm mía, nghĩ thầm: "Mình sẽ chặt cho anh ấy một cây, còn mình ăn một
cây.” Chàng chặt hai cây mía, bịt kín chỗ vừa chặt lại để nước mía khỏi chảy
mất rồi cầm về nhà. Ngay khi người em chặt mía đem về nhà, tại Gandhamàdana có
một vị Phật Ðộc Giác xuất định, thầm nghĩ: "Hôm nay ta sẽ độ ai đây?"
Và Ngài quan sát thấy người điền chủ. Biết rõ chàng có khả năng bố thí, đức
Phật Ðộc Giác đắp y mang bát dùng thần thông hiện đến trước mặt. Người em trông
thấy Ngài lòng rất hoan hỉ. Chàng trải áo khoác lên chỗ đất cao, thưa:
- Bạch Ngài, thỉnh
Ngài an tọa.
Và chàng bạch tiếp:
- Xin Ngài đưa bát
cho con.
Chàng mở chỗ bịt cây
mía, đưa lên cao và dốc vào bình bát đức Phật, nước mía chảy ra đầy bát. Ngài
dùng xong, người em lại nghĩ: "Thật may mắn cho ta, vị Thầy cao quý của ta
đã dùng hết bát mía. Nếu anh mình đòi tiền cây mía của ổng, ta sẽ trả. Còn nếu
ổng đòi được hưởng phần phước đức cúng dường, ta sẽ hồi hướng cho ổng.” Thế là
chàng bạch Phật:
- Bạch Ngài, xin Ngài
đưa bình bát cho con lần nữa.
Chàng mở chỗ bịt, dốc
cây mía thứ hai, trút nước vào bình bát Phật. Hình như chàng không hề nghĩ:
"Anh mình sẽ kiếm chặt cây mía khác để ăn.”
Vì đã dùng xong một
bát rồi, vị Phật Ðộc Giác muốn chia xẻ nước mía cây thứ hai cho các vị Phật
khác. Ngài ngồi xuống chỗ cũ. Hiểu ý, người em gieo năm vóc sát đát, đảnh lễ
Ngài, phát nguyện:
- Bạch Ngài, với công
đức cúng dường này con xin được hưởng lạc thú ở cõi trời và cõi người, và sau
cùng, xin cho con đạt đến chỗ Ngài đã chứng đắc.
Ðức Phật đáp:
- Sẽ được vậy.
Ðể hồi hướng công
đức, Ngài đọc hai bài kệ bắt đầu bằng câu: "Nguyện cho tất cả mong cầu của
thí chủ thành tựu viên mãn.”
Xong, Ngài bay lên
không trung đến Gandhamàdana và phân chia bát nước mía cho năm trăm vị Phật Ðộc
Giác.
Chứng kiến cảnh vi
diệu ấy, người em về gặp anh, người anh hỏi:
- Nãy giờ chú đi đâu?
- Em ra thăm ruộng
mía.
- Chú ra ruộng mía mà
không đem cây nào về ăn?
- Có anh ạ, em mang
về hai cây, gặp một vị Phật Ðộc Giác em đã cúng dường cây của em. Rồi em nghĩ
sẽ trả tiền cây mía thứ hai của anh cho anh, hoặc sẽ hồi hướng phần phước đức
cho anh, nên em cúng luôn Ngài. Nào, anh định lấy tiền hay phước đức?
- Vị Phật ấy đã đáp
lại ra sao?
- Ngài dùng bát nước
mía cây thứ nhất và bay lên không mang bát nước cây thứ hai về Gandhamàdana
chia cho năm trăm vị Phật Ðộc Giác khác.
Nghe xong rồi, người
anh vô cùng hoan hỉ. Chàng phát nguyện:
- Với phước đức cúng
dường này, con xin được chứng đắc đạo quả như vị Phật Ðộc Giác ấy.
Trong khi người em nguyện
ba điều, chàng chỉ nguyện một câu được đắc A la hán.
Lúc mãn kiếp, hai anh
em đều sanh lên cõi trời và sống suốt thời gian giữa hai vị Phật. Khi họ ở cõi
trời, đức Phật Tỳ Bà Thi xuất hiện ở thế gian. Hết phước cõi trời hai người tái
sanh trong một gia đình Trưởng giả ở Bandhumatì, cũng làm anh em. Cha mẹ đặt
tên cho người anh là Sena, em là Aparàjita.
Ðến tuổi trưởng
thành, cả hai người đều lập gia đình. Một hôm, gia chủ Sena nghe tin truyền
khắp thành Bandhumatì.
- Phật bảo đã xuất
hiện ở thế gian, Pháp bảo đã xuất hiện ở thế gian. Tăng bảo đã xuất hiện ở thế
gian. Hãy bố thí cúng dường và tạo phước. Hãy ăn chay vào các ngày mồng 8, 14
và rằm. Hãy đi nghe thuyết pháp.
Sena thấy dân chúng
kéo nhau đi cúng dường vật thực trước bữa điểm tâm, và sau bữa điểm tâm, họ lại
lũ lượt đi nghe pháp. Ông hỏi:
- Các vị đi đâu thế?
- Ði nghe đức Thế Tôn
thuyết pháp.
- Tôi cũng đi nữa.
Chàng theo chân đám
đông đến ngồi vòng ngoài pháp hội. Ðức Phật biết được tư tưởng ông liền giảng
pháp từ thấp đến cao. Nghe rồi, Sena muốn xuất gia làm Sa môn nên thỉnh cầu
Phật nhận ông vào Tăng đoàn.
Ðức Phật hỏi:
- Này thiện nam tử,
ông có bà con quyến thuộc gì cần phải xin phép trước không?
- Bạch Thế Tôn, có ạ.
- Vậy ông hãy đến xin
phép rồi trở lại gặp Ta.
Sena về nhà bảo em
trai:
- Tất cả gia tài này
từ đây thuộc về chú.
- Ủa, còn anh thì
sao?
- Ta định xuất gia
làm Sa môn đệ tử Phật.
- Thưa huynh trưởng,
anh nói gì thế? Khi mẹ mất, anh là mẹ em. Khi cha mất, anh là cha em. Gia sản
chúng ta rất lớn. Người ta vẫn có thể sống đời Cư sĩ và làm việc phước thiện
chứ. Xin anh đừng xuất gia.
- Ta đã nghe đức Thế
Tôn giảng pháp, và ta không thể tu hành đúng pháp nếu còn sống lẫn lộn với
người thế tục. Ta đã nhất quyết xuất gia làm Sa môn rồi chú ạ. Thôi, chú về đi.
Sena ra lịnh bảo em
về nhà rồi, liền đến Tinh xá xin Phật xuất gia. Chàng được thọ cu túc giới và
chẳng bao lâu đắc quả A la hán.
Người em suy nghĩ:
"Ta sẽ theo lệ thường cúng dường nhân dịp anh xuất gia.” Suốt bảy ngày
chàng cúng dường vật thực cho đức Phật và chư Tăng. Xong, chàng đảnh lễ anh và
thưa:
- Bạch Ngài, Ngài đã
được ra khỏi sanh tử luân hồi, con thì còn bị ngũ dục ràng buộc, chưa thể xuất
gia làm Sa môn. Xin Ngài dạy cho biết, con nên làm việc gì, để được phước đức
lớn trong lúc sống đời Cư sĩ như vầy.
- Hay lắm. Chú hãy
cất một hương thất cho đức Thế Tôn.
- Dạ được.
Chàng cho mua đủ các
loại gỗ, đẽo gọt bào chuốt thành cột, kèo, v.v.. để cất thất. Ván gỗ đều khảm
vàng, bạc, châu ngọc, và rồi một hương thất rực rỡ toàn bằng gỗ khảm bảy báu đã
hoàn thành. Mái thất cũng lợp ngói khảm bảy báu.
Trong lúc hương thất
đang được thi công xây dựng, người cháu mang cùng tên với chàng, Aparàjita đi
đến nói:
- Thưa chú, cháu cũng
muốn đóng góp chút đỉnh. Chú hãy cho cháu kiếm phước với nhé.
- Cháu thân mến, chú
không thể đáp ứng yêu cầu của cháu được. Chú định cúng dường một công trình mà
phần phước đức không thể chia sẻ cho ai.
Người cháu cố nài nỉ
vẫn không được. Sau đó, nghĩ rằng trước hương thất cần một chuồng voi, anh ta
bèn cất một cái toàn bằng bảy báu. Trong kiếp hiện tại, người cháu ấy thọ sanh
làm quan Chưởng khố Ram ở Mendaka.
Hương thất có ba cửa
sổ thật rộng cũng toàn bằng bảy báu. Bên dưới các cửa sổ, người chú Aparàjita
cho xây ba bể trồng hoa sen, bên ngoài bể còn được tô thêm một lớp vữa Stucco.
Bể xây rồi, chàng cho đổ đầy bốn loại nước thơm và trồng năm màu hoa sen khác
nhau. Chót vót trên đỉnh tháp nhọn hình quả chuông của ngôi hương thất, người
ta đặt một chiếc bát bằng vàng trong đựng đầy phấn hoa để khi đức Phật ngồi bên
trong, gió sẽ mang phấn hoa rải khắp kim thân Ngài. Ðỉnh tháp bằng san hô, dưới
cẩn ngói nạm bảy báu, lộng lẫy uy nghi như một con công đang xòe cánh múa.
Những loại châu ngọc
nào trong thất bảo có thể tán thành bột được, Aparàjita cho tán hết ra rải khắp
hương thất. Còn những loại không tán được, chàng đổ đầy bên trong và bên ngoài
hương thất ngập đến đầu gối.
Hoàn tất mọi việc
rồi, chàng đi gặp vị Sa môn anh mình, thưa:
- Bạch Ngài, hương
thất đã cất xong. Con muốn thỉnh đức Thế Tôn đến nạp thọ cho con được ân triêm
công đức.
Tôn giả vào bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, Cư sĩ
này đến trình rằng đã cất xong một hương thất và xin thỉnh Thế Tôn đến nạp thọ.
Ðức Phật đi đến cửa
hương thất liền dừng lại nhìn ngắm đám châu ngọc rải đầy trong thất. Aparàjita
bạch:
- Bạch Thế Tôn, thỉnh
Ngài vào.
Chàng thưa thỉnh ba
lần, đức Phật vẫn đứng yên lặng. Không biết tính sao, chàng đưa mắt ngó anh.
Tôn giả hiểu ý, bảo
em:
- Này em, hãy đứng
trước Ngài và thưa như vầy: "Ðức Thế Tôn là nơi nương tựa duy nhất của
con. Xin thỉnh Ngài an trú tại hương thất này.”
Vâng lời, chàng đến
gieo năm vóc sát đất, đảnh lễ Phật và bạch:
- Bạch Thế Tôn, như
người sau khi ẩn trú qua đêm dưới gốc cây, ra đi không chút bận tâm về cây, như
người khi qua sông bỏ lại bè sau lưng không thắc mắc, con thỉnh cầu đức Thế Tôn
an trú trong ngôi nhà này, chẳng phải bận lòng với đám châu báu.
Tại sao đức Phật dừng
lại ở cổng? Người ta nói rằng Ngài nghĩ: "Dân chúng sẽ kéo đến gặp Như Lai
trước và sau bữa điểm tâm. Nếu họ kiếm cách lấy châu ngọc đi, chúng ta không
thể ngăn họ. Nhưng thí chủ này biết đâu lại nghĩ: Thính chúng của Ngài lấy hết
của báu trong hương thất mà Ngài chẳng có ý cản trở. Ông ta sẽ đem lòng oán hận
Ta và phải đọa Địa ngục.” Thế nên, sau lời tác bạch của Aparàjita, đức Phật
liền tiến vào thất.
Aparàjita cho người
gác quanh hương thất với lịnh:
- Những kẻ nào có ý
giấu châu ngọc trong quần áo hoặc lấy thúng, giỏ đựng, các ông phải ngăn lại.
Còn ai hốt nắm trong tay, hãy cho họ đi.
Chàng loan truyền
khắp thành:
- Ta đã rải đầy bảy
báu trong hương thất đức Thế Tôn. Người nào đến nghe pháp có thể lấy một ít.
Người nghèo được hốt đầy hai nắm tay. Người khá giả được hốt một nắm.
Sở dĩ như vậy vì
chàng tính: "Những kẻ có đức tin chỉ đến để nghe pháp. Người chưa tin sẽ
do lòng tham của cải dẫn dụ mà đến, được nghe pháp rồi cũng sẽ thoát khổ.” Từ ý
định muốn lợi lạc chúng sanh, chàng cho rao những lời trên.
Người người đi nghe
pháp đều lấy châu báu theo đúng qui định của vị thí chủ. Chàng cho đổ thêm châu
ngọc đầy như cũ một lần, hai lần, roià ba lần. Dưới chân Phật, chàng để một
viên ngọc thật lớn, rất quí giá, với ý nghĩ: "Kẻ nào biết chiêm ngưỡng ánh
hào quang chói sáng từ kim thân Phật sẽ chẳng ưa thích gì ánh sáng viên ngọc
quý này.” Và quả thật những ai trông thấy đức Phật rồi chẳng màng nhìn nhõ gì
đến viên ngọc nữa.
Một hôm, có người Bà
la môn tà kiến tự nghĩ: "Người ta nói có viên ngọc quý đặt ở chân Phật. Ta
có thể lấy nó.” Hắn đến hương thất trà trộn vào đám đông đảnh lễ đức Phật.
Aparàjita chỉ nhìn cung cách hắn đã biết hắn có ý chiếm viên ngọc, liền nghĩ:
"Ta hy vọng hắn sẽ không lấy.”
Người Bà la môn sải
tay về phía chân đức Phật, làm bộ như đảnh lễ Ngài, nhón lấy viên ngọc cho vào
áo và đi ra.
Vị thí chủ không còn
giữ được sự bình thản đối với người Bà la môn. Buổi thuyết pháp vừa xong, chàng
đến trước Phật, thưa:
- Bạch Thế Tôn, đã ba
lần con để châu báu đầy hương thất ngập đến đầu gối. Con chẳng hề có ý tức giận
những người lấy châu báu đi, trái lại con rất hoan hỉ. Nhưng hôm nay con lại
nghĩ: "Hy vọng người Bà la môn kia không lấy viên ngọc quí khi hắn vào
trong.” Ðến lúc thấy hắn lấy viên ngọc đi thật, con không thể giữ nổi bình
tĩnh.
Nghe xong, đức Phật
bảo:
- Này thiện nam tử,
người không thể ngăn cản những người khác lấy của cải của ngươi ư?
Và Ngài dạy chàng một
cách. Aparàjita vâng lời, đảnh lễ Phật, phát nguyện:
- Từ nay trở đi, xin
cho vua hoặc kẻ trộm dù đông đảo đến mấy cũng không lấy được gia sản con dù một
sợi chỉ. Xin cho tài sản con không bao giờ bị lửa đốt, hoặc bị nước cuốn trôi.
Ðức Phật nói:
- Sẽ được vậy.
Và Ngài hồi hướng
công đức cho thí chủ.
Ðến ngày khánh thành
hương thất, Aparàjita cúng dường vật thực và rất nhiều quà tặng cho sáu triệu
tám trăm ngàn vị Tỳ kheo của Tinh xá suốt chín tháng. Hết kỳ cúng dường chàng
cúng thêm mỗi vị Tỳ kheo ba y, và cúng nhiều khúc vải may y cho vị Sa di của
Tăng đoàn đáng giá đến một ngàn đồng. Làm việc phước thiện như vậy đến mãn
kiếp, chàng được tái sanh lên cõi trời. Sau nhiều kiếp ở cõi trời và cõi người,
vào thời đức Phật hiện tại, chàng sanh vào nhà một quan Chưởng khố ở Vương Xá,
và ở trong thai mẹ chín tháng rưỡi.
Chuyện hiện tại:
B. Quan Chưởng khố
Jotika
Vào ngày chàng chào
đời, tất cả binh khí trong thành đều xẹt lửa, châu ngọc đeo trên người dân
trong thành cũng phát sáng như muốn bốc cháy, cả thành đều sáng rực. Sơm mai
ấy, quan Chưởng khố vào cung chầu vua. Ðức vua hỏi:
- Hôm nay tất cả binh
khí đều xẹt lửa, cả thành đều phát sáng. Khanh biết lý do vì đâu không?
- Muôn tâu, hạ thần
biết lý do.
- Gì vậy, quan Chưởng
khố?
- Dạ hôm nay một thần
dân của bệ hạ vừa chào đời tại nhà hạ thần. Hiện tượng này xảy ra do phước đức
của nó.
- Không biết sau này
nó có thành tướng cướp không đây?
- Tâu bệ hạ, không có
chuyện ấy. Người vừa chào đời hôm nay phước rất lớn, do một lời phát nguyện.
- Thế thì chú bé phải
được nuôi dưỡng chu đáo. Ðây là số tiền trẫm cấp cho khanh mua sữa cho nó.
Vua cấp quan Chưởng
khố mỗi ngày một ngàn đồng tiền vàng. Ðến ngày đặt tên, chú được gọi là Jotika,
kỷ niệm lúc chú chào đời ánh sáng rực rỡ khắp thành.
Ðến tuổi Jotika lập
gia đình, người ta lo dọn đất cất nhà mới, vua Ðế Thích thấy ngai vàng nóng
lên: "Chuyện gì đây?" Ngài quan sát biết được họ đang sửa soạn cất
nhà cho Jotika, liền nghĩ: "Người thanh niên này sẽ không ở trong ngôi nhà
họ cất. Ta có bổn phận phải đến đây.”
Ngài cải trang thành
thợ mộc xuống chỗ bọn người đang làm:
- Các ông làm gì thế?
- Chúng tôi sửa sang
đất đai để cất nhà cho Jotika.
- Thôi, đi đi. Các
ông chẳng xây được nhà cho ông ấy đâu.
Ðế Thích chỉ nhìn
mảnh đất rộng đến mười sáu karìsa một lần, lập tức nó trở nên bằng phẳng. Ngài
nhìn thêm một lần nữa, nghĩ: "Ðấy hãy nứt ra và mọc lên cho ta một tòa lâu
đài bảy tầng toàn bằng bảy báu.”
Một tòa lâu đài như
vậy hiện ra. Ðế Thích lại nhìn lần thứ ba, nói thầm: "Hãy mọc cho ta bảy
bức tường bao quanh tòa lâu đài.” Các bức tường liền hiện ra. Ðế Thích lại nhìn
một lần nữa: "Các cây như ý hãy mọc lên thành vòng bao quanh các tường.”
Cây liền hiện ra. Ðế Thích nhìn một lần nữa: "Hãy hiện cho ta bốn vạc đầy
châu báu tại bốn góc chân tòa lâu đài.” Bốn vạc châu báu liền có.
Trong số các vạc châu
báu, có vạc rộng gần năm cây số, có vạc rộng hơn ba cây số, vạc thì hơn hai cây
số, và vạc cuối cùng rộng một cây số. Trường hợp Phật ra đời, các vạc châu báu
xuất hiện có đường kính miệng bằng nhau, còn đường kính ở đáy bằng chu vi quả
đất. Ðường kính các vạc châu báu xuất hiện tại nhà Jotika không biết rõ được
bao nhiêu. Khi chúng hiện ra, châu ngọc đầy ngập giống như hạt thốt nốt căng
đầy cơm khi ta cắt bỏ chỗ vỏ đầu hạt vậy. Ngoài ra, tại bốn góc tòa lâu đài còn
xuất hiện bốn cây mía bằng vàng, mập mạp như những cây thốt nốt tơ đang độ lớn.
Lá mía toàn bằng ngọc quý, thân mía bằng vàng. Người ta cho rằng những cây mía
này biểu hiện phước đức của Jotika gieo trồng trong kiếp trước. Bảy lớp cửa tòa
lâu đài do bảy dọa xoa canh phòng. Cửa thứ nhất do dạ xoa Jamakolì canh cùng
một ngàn quyến thuộc. Cửa thứ hai do dạ xoa Uppala canh với hai ngàn quyến
thuộc. Cửa thứ ba do Vajira và ba ngàn quyến thuộc. Cửa thứ tư do Vajirabàhu và
bốn ngàn quyến thuộc. Cửa thứ năm do dạ xoa Kasakanda và năm ngàn quyến thuộc.
Cửa thứ sáu do dạ xoa Katattha và sáu ngàn quyến thuộc. Cửa thứ bảy do dạ xoa
Disàpàmukha và bảy ngàn quyến thuộc. Vậy là tòa lâu đài được canh phòng chặt
chẽ cả trong lẫn ngoài. Vua Bình Sa Vương nghe Jokita làm chủ tòa lâu đài bảy
tầng bằng bảy báu, có bảy lần tường và cửa bao quanh, và bốn vạc châu báu ở bốn
góc, liền ban cho chàng chiếc lọng Chưởng khố. Từ đó, người ta gọi chàng là
quan Chưởng khố Jotika.
Thuở ấy, có một phụ
nữ từng làm việc phước thiện với quan Chưởng khố Jotika, tái sanh ở Uttarakuru.
Chư Thiên mang cô đến ở trong một căn phòng lộng lẫy chẳng kém cung vua, trong
tòa lâu đài của Jotika. Cô gái chỉ mang theo làm của hồi môn một nồi gạo chừng
nửa lít và ba miếng kính cháy đỏ. Từ đấy, nồi gạo cung cấp đủ cơm cho gia đình
Jotika ăn đến hết đời. Người ta kể, nếu họ muốn đổ đầy cơm lên một trăm cỗ xe,
nồi gạo vẫn không vơi đi chút nào. Mỗi khi cần nấu, họ chỉ việc lấy gạo cho vào
nồi đặt lên ba miếng kính. Chúng cháy đỏ rực lên, khi cơm chín chúng liền tắt.
Muốn nấu nước xốt hay món cà- ri, họ cũng làm theo cách ấy. Tất cả thức ăn của
gia đình đều chỉ nấu bằng ba tấm kính. Họ sống trong ánh sáng của châu ngọc
quí, không biết đến ánh lửa hay đèn.
Tiếng đồn về sự giàu
có vinh hiển của quan Chưởng khố Jotika lan khắp xứ Diêm phù đề. Người người lũ
lượt kéo nhau di trên những cỗ xe ngựa và đủ thứ xe cộ khác để đến xem. Quan
Chưởng khố cho lấy thứ gạo mang từ Uttarakuru nấu cháo yến mạch thết đãi tất cả
khách khứa ăn uống thỏa thích. Ông còn loan báo:
- Mọi người được phép
tự do lấy quần áo và châu ngọc trên các cây như ý.
Vị thí chủ sai mở vạc
châu báu lớn hơn một cây số, phân phát khắp nơi: "Xin mời bà con cứ lấy đủ
số châu báu mình cần.”
Dân chúng Diêm phù đề
tha hồ hỉ hả khuân vác vàng ngọc đi rồi, vạc châu báu chẳng vơi một ly nào.
Người ta cho đây là phước báo do Jotika đã rải đầy châu ngọc trong hương thất
Phật. Số người kéo đến lâu đài Jotika để lấy áo quần, châu ngọc, tiền bạc, đông
đảo đến nỗi lúc ấy, vua Bình Sa Vương muốn đến xem tòa lâu đài cũng đành chịu.
Dần dà, chán chê rồi số người xem từ từ giảm bớt. Vua Bình Sa Vương bèn bảo phụ
thân Jotika:
- Trẫm muốn xem lâu
đài của con khanh.
- Tâu bệ hạ, xin
vâng.
Ông về nhà kêu
Jotika:
- Này con, đức vua
muốn đến xem lâu đài của con đấy.
- Dạ, tốt thôi, thưa
cha. Mời Ngài cứ đến.
Vua ngự giá đến cùng
đoàn tùy tùng đông đảo. Ở cổng thứ nhất của tòa lâu đài, một cô nô lệ có nhiệm
vụ quét rác. Thấy vua, cô đưa tay ra đỡ. Lầm tưởng là một bà vợ của quan Chưởng
khố, vua Bình Sa Vương khiêm tốn từ chối, không chịu đặt tay lên cánh tay cô.
Tại các cổng khác cũng có những cô nô lệ giống hệt như thế đưa tay đỡ vua, vua
cũng lầm tưởng là vợ quan Chưởng khố nên không chịu vịn tay.
Jotika ra lạy chào
vua, đứng sau lưng, thưa:
- Tâu bệ hạ, xin rước
bệ hạ vào.
Nhưng vua nhìn xuống
mặt đất khảm châu ngọc và thấy như đó là một các hố đầy vàng ngọc sâu thăm
thẳm, sâu bằng số một trăm người chồng chất lên nhau. Vua nghĩ: "Người nào
đào hầm bẫy ta.” Ngài không dám bước chân tới.
Jotika tiến lên,
thưa:
- Tâu bệ hạ, đây
chẳng có hầm hố gì cả. Xin bệ hạ bước theo sau hạ thần.
Vua đi lên dấu chân
Jotika, rồi từ từ mạnh dạn đi quanh lâu đài, nhìn ngắm từ tầng thấp đến tầng
cao nhất.
Lúc ấy, Thái tử A Xà
Thế cũng nắm tay cha đi xem. Thái tử nghĩ thầm: "Phụ vương quả thật quá
ngốc. Tên Jotika này tuy chỉ là một gia chủ bình thường cũng có được tòa lâu
đài bảy báu để ở. Còn phụ vương làm vua lại chỉ có một ngôi nhà gỗ. Ta sẽ lên
làm vua ngay, và chẳng để cho gia chủ này ở trong lâu đài một giây nào nữa
đâu.”
Vua lên đến tầng chót
đã gần đến giờ ăn sáng, liền bảo:
- Này quan đại thần,
chúng ta hãy dùng bữa ở đây.
- Tâu vâng, hạ thần
cũng sắp xếp như thế. Ðồ ngư thiện đã được chuẩn bị sẵn sàng để dâng bệ hạ.
Vua tắm bằng mười sáu
bình nước thơm. Xong, Ngài ngồi trên chiếc sập riêng của Jotika, dưới mái đình
cẩn ngọc. Người hầu dâng vua nước rửa tay và dọn món cháo yến mạch đặc trong
chiếc đĩa vàng đáng giá đến một ngàn đồng, để trước mặt vua. Tưởng đó là món
chính, vua định ăn. Quan Chưởng khố vội tâu:
- Muôn tâu bệ hạ, đây
chưa phải món ăn, chỉ là cháo yến mạch đặc.
Người hầu lúc ấy dâng
tiếp món ăn chính đựng trong chiếc đĩa vàng khác, đặt lên đĩa cháo yến mạch.
Người ta cho rằng làm như thế, món ăn sau có hương vị tuyệt hảo. Nhà vua dùng
rất ngon miệng, đến nỗi đủ rồi mà vẫn cứ ăn.
Quan Chưởng khố sụp
lạy, chấp tay cung kính thưa:
- Tậu bệ hạ, chứng ấy
là đủ. Cúi xin bệ hạ dừng lại. Nếu không, bệ hạ sẽ không tiêu nổi.
Vua hỏi:
- Này gia chủ, tại
sao khanh chê trách thức ăn mình?
- Muôn tâu, hạ thần
chẳng dám có ý chê trách. Tất cả đoàn tùy tùng của bệ hạ đều được hạ thần đãi
cùng món yến mạch và cà- ri này. Nhưng hạ thần lo cho bệ hạ.
- Sao?
- Nếu lỡ gặp lúc bệ
hạ không được khỏe, người ta sẽ nói: "Hôm qua vua ngự thiện ở nhà quan
Chưởng khố. Chắc quan cho làm món ăn sao đó mới ra nông nỗi.” Muôn tâu, hạ thần
sợ những lời ấy lắm.
- Thôi được. Dẹp thức
ăn đi và đem nước cho trẫm.
Nhà vua dùng bữa xong
thì đoàn tùy tùng mới được thết đãi, cũng những món ấy.
Trong khi vui vẻ trò
chuyện với quan Chưởng khố, vua hỏi:
- Này khanh, không có
bà vợ nào của khanh sống tại lâu đài này ư?
- Muôn tâu, có ạ.
- Phu nhân đâu?
- Muôn tâu, bà ấy
đang nghỉ trong phòng, không hay có bệ hạ đến.
(Mặc dù vua và đoàn
tùy tùng tới chơi từ sáng sớm, phu nhân quan Chưởng khố không hề hay biết)
Quan Chưởng khố nghĩ:
"Rõ ràng đức vua muốn gặp phu nhân.”
Ông đến phòng vợ,
bảo:
- Ðức vua đã đến
Chẳng phải bà có bổn phận đi chào đức vua sao?
Phu nhân vẫn nằm yên
không nhúc nhích, chỉ hỏi:
- Ông à, người ông
kêu là vua ấy là ai?
- Là quốc vương của
chúng ta.
Phu nhân có ý bất
mãn:
- Chúng ta còn có vị
quốc vương đầy đủ uy quyền đối với chúng ta, nghĩa là việc phước thiện chúng ta
đã làm có phần nào lỗi lầm trong ấy. Chắc chúng ta đã thiếu lòng tin, nên vinh
hiển như vầy vẫn phải làm thần dân người khác. Không còn nghi ngờ gì nữa, chúng
ta đã cúng dường thiếu lòng tin, và đây là quả báo.
Trút xong sự bất
bình, phu nhân hỏi tiếp:
- Ông à, giờ tôi phải
làm gì?
Bà cầm quạt thốt nốt
này đến quạt hầu đức vua.
Trong lúc đứng quạt,
mùi nước hoa từ long bào vua bay vào mắt làm phu nhân chảy hai dòng lệ. Vua
thấy, bảo quan Chưởng khố:
- Này khanh, đàn bà
thật kém thông minh. Chắc phu nhân đang nghĩ: "Nhà vua sẽ đoạt hết của cải
chồng ta" nên sợ mà khóc đấy. Khanh hãy bảo bà ấy yên tâm. Trẫm chẳng hề
khao khát của cải nhà khanh.
- Muôn tâu, không
phải bà ấy khóc ạ.
- Vậy thì sao?
- Dạ, chỉ vì mùi nước
hoa trên long bào bệ hạ nồng quá làm bà ấy chảy nước mắt thôi. Thật sự, bà ấy
chưa bao giờ gần ánh đèn hoặc gần lửa. Khi ăn, khi ngồi, khi nghỉ ngơi cũng chỉ
dưới ánh sáng châu ngọc. Muôn tâu, chắc bệ hạ vẫn sử dụng ánh đèn?
- Ðúng vậy.
- Tâu bệ hạ, từ hôm
nay xin mời bệ hạ thử sử dụng ánh sáng châu ngọc.
Quan Chưởng khố dâng
vua một hòn ngọc cực lớn. Vua ngắm nhìn ngôi nhà hồi lâu, tự nghĩ: "Jotika
quả giàu thật.”
Rồi Ngài từ giã.
Chuyện hiện tại:
C. Tôn giả Jatila
Bây giờ nói đến
chuyện Jatila.
Thuở ấy, tại xứ Ba La
Nại có quan Chưởng khố sinh được cô con gái vô cùng diễm lệ. Khi nàng chừng
mười lăm, mười sáu tuổi, cha mẹ buộc phải ở trên tầng cao nhất của tòa lâu đài
bảy tầng, trong một căn phòng đẹp không kém cung vua, và chỉ để cô tớ gái ở
cùng, canh chừng nàng. Một hôm, mỹ nhân vừa ngước mắt nhìn ra cửa sổ, thần
Vijjàdhara bay ngang trông thấy liền say mê nàng. Thần bay qua cửa sổ vào
phòng, cùng nàng chung chăn gối. Chẳng bao lâu, nàng thọ thai. Cô tớ gái biết,
hỏi:
- Thưa tiểu chủ, thế
này là sao?
- Ôi, em đừng nói với
ai!
Cô sợ, bèn giữ êm.
Mười tháng sau cô chủ sanh một đứa bé trai. Nàng sai mua một chiếc thùng mới
đặt đứa nhỏ vào phủ tràng hoa lên trên, biểu cô tớ gái:
- Em hãy đội thùng ra
sông Hằng và thả trôi giùm ta.
Nàng dặn thêm:
- Nếu có ai hỏi thùng
đựng gì, cứ nói đồ tạ lễ của ta dâng cúng!
Cô tớ gái làm y theo
lời chủ.
Dưới hạ lưu sông
Hằng, hai phụ nữ đang tắm. Trông thấy chiếc thùng mới bị dòng nước cuốn phăng
phăng, một bà kêu lên:
- Cái thùng ấy của
tôi đa nghen.
Bà kia la tiếp:
- Trong thùng có cái
gì là của tôi đó.
Thùng trôi đến chỗ
hai bà. Họ vớt lên và mở ra, thấy chú bé. Bà thứ nhất nói:
- Thằng bé này của
tôi. Tôi có nói chiếc thùng ấy của tôi.
Bà kia cãi:
- Nó là của tôi chứ.
Tôi đã nói trong thùng có cái gì thì thuộc về tôi mà.
Hai bà tranh cãi mãi,
sau bèn kéo nhau ra tòa. Các vị quan tòa cũng bất lực, không dàn xếp nổi nên
đưa lên triều đình. Vua lắng nghe hai bà cãi lý rồi phán:
Bà này lấy đứa nhỏ.
Bà kia lấy chiếc thùng.
Người phụ nữ được đứa
bé lại là một thí chủ của Tôn giả Mahà Kaccàna. Bà nuôi chú bé với ý định: Ta
sẽ cho thằng bé gia nhập Tăng đoàn của Tôn giả.
Ngày lễ sinh nhật
đến, cậu được đem tắm cho thật sạch những vết do sanh sản, tóc cậu bỗng biến
thành bím, do đó cậu được đặt tên Jatila. Khi cậu bé bắt đầu biết đi, Tôn giả
đến nhà khất thực. Bà Phật tử đem ghế mời Tôn giả ngồi, cúng dường thức ăn.
Thấy chú bé, Tôn giả hỏi:
- Này thiện tín, bà
có con trai sao?
- Vâng, bạch Ðại đức.
Con nuôi với ý định xin cho nó gia nhập Tăng đoàn Tôn giả. Xin Tôn giả rủ lòng
thương nhận nó.
- Ðược.
Và Tôn giả dắt chú bé
về.
Vừa đi Tôn giả vừa
nghĩ: "Chẳng biết nó đủ phước làm một gia chủ giàu có không đây.” Ngay đó,
Tôn giả biết được cậu có phước báo rất lớn, sau sẽ giàu sang tột bực. Nhưng giờ
cậu còn bé quá, chưa hiểu biết chín chắn. Tôn giả bèn dẫn cậu đến thành Hoa
Thị, vào nhà một thí chủ quen. Gia chủ đảnh lễ Tôn giả, thấy cậu bé, liền hỏi:
- Bạch Ðại đức, cậu
bé này theo Ngài?
- Phải, đạo hữu ạ.
Cậu bé sẽ vào Tăng đoàn. Mà cậu còn bé quá. Ông hãy cho cậu ở đây ít lâu.
- Thưa vâng.
Vị thí chủ thương yêu
chăm sóc cậu như con. Nhà ông tích trữ hàng hóa cả mười hai năm rồi. Một hôm,
có việc đi qua làng bên, ông đem hết số hàng hóa tồn trữ chất trong một cửa
tiệm, bảo cậu ở đó và dặn dò giá tiền của mỗi món hàng.
- Món này giá chừng
ấy chừng ấy, món kia giá như vậy, như vậy. Nếu con nghe người ta trả giá ấy,
nhớ bán nhé.
Xong, ông ra đi.
Chư Thiên bảo hộ
thành đưa hết khách hàng đến tiệm cậu, cả những người cần mua hạt tiêu hoặc hạt
thì là. Kết quả: Chỉ một ngày cậu bán sạch số hàng tích trữ mười hai năm. Gia
chủ về thấy cửa tiệm trống trơn, hỏi:
- Con ơi, hàng mất
hết rồi sao?
- Dạ, đâu có mất.
Ngài để lại món gì con đều bán hết theo lời Ngài dạy. Ðây là tiền bán.
Gia chủ vô cùng hân
hoan.
- Cậu bé này đúng là
quí nhân. Cậu có thể sống bất cứ đâu cũng no đủ.
Cô con gái ông đã đến
tuổi kén chồng. Ông kêu người cất nhà và gả con cho cậu. Nhà xây xong, ông giục
con rể:
- Con về nhà riêng ở
đi.
Jatila vừa đặt chân
lên ngưỡng cửa ngôi nhà chàng, đất sau nhà bỗng nứt ra và một núi vàng cao bốn
chục mét vọt lên. Vua nghe tin có núi vàng từ dưới đất hiện lên sau nhà Jatila
liền ban cho chàng chiếc lọng quan Chưởng khố. Và chàng được gọi là Chưởng khố
Jatila.
Quan Chưởng khố có ba
con trai. Khi chúng trưởng thành, ông muốn xuất gia làm Sa môn. Ông thầm tính:
"Nếu có vị Chưởng khố nào gia thế giàu có như ta, họ mới cho ta xuất gia.
Và ông quyết tìm cho ra. Ông cho đúc một viên gạch, một chiếc roi, một dây thừng
bằng vàng, trao cho gia nhân bảo:
- Các ông mang những
thứ này đi khắp xứ Diêm phù đề, giả bộ như không có mục đích gì, ngầm kiếm cho
ta một quan Chưởng khố cũng giàu có ngang bằng ta. Kiếm được rồi thì về đây.
Ðám gia nhân đi từ
vùng này đến xứ nọ, cho đến một hôm họ đặt chân đến thành Bhaddiya.
Quan Chưởng khố Ram,
Mendaka đang ở tại thành, trông thấy đám gia nhân của Jatila, hỏi:
- Này các bạn, các
bạn đi đây đi đó có mục đích gì không?
- Chúng tôi chẳng có
mục đích gì cả.
Quan Chưởng khố thầm
nghĩ: "Không thể có chuyện mấy người này đi đây đi đó tay cầm mấy vật kia,
lại không có mục đích. Rõ ràng họ đang đi xem xét khắp vùng.” Ông nói thêm với
đám gia nhân:
- Mời các bạn vào xem
vườn nhà chúng tôi.
Ðám người kéo nhau
vào, thấy trên một khu đất thật rộng có những con cừu vàng to bằng con voi,
hoặc bằng con ngựa, hoặc bằng bò tót, đang nhảy nhót lung tung, đập lưng vào
nhau, cày đất nứt nẻ lên từng đường. Ði quanh nhìn ngắm đám cừu hồi lâu, họ rời
sân. Quan Chưởng khố Ram hỏi:
- Sao, các bạn gặp
thứ muốn tìm rồi chứ?
- Bẩm vâng, thưa đại
quan, chúng con đã tìm được.
- Vậy thì xin chào.
Ông ra dấu từ giã.
Bọn gia nhân đi thẳng về nhà chủ mình. Quan Chưởng khố Jatila hỏi:
- Các bạn kiếm được
quan Chưởng khố nào giàu bằng nhà ta không?
- Thưa chủ nhân, Ngài
giàu chưa thấm tháp vào đâu. Quan Chưởng khố Ram ở thành Bhaddiya giàu tới mức
vầy nè.
Họ kể lại chuyện.
Nghe xong, quan
Chưởng khố rất hoan hỉ, nghĩ thầm: "Ta kiếm được một người rồi. Chẳng biết
còn ai nữa không?”
Ông đưa cho gia nhân
một tấm chăn đáng giá một trăm ngàn đồng tiền vàng, bảo:
- Các bạn hãy đi kiếm
xem có nhà quan Chưởng khố nào như vậy nữa không.
Chuyến này họ đến
thành Vương Xá, chất một đống củi gần nhà quan Chưởng khố Jotika và châm lửa
đốt. Người ta hỏi lý do, họ đáp:
- Chúng tôi mang theo
một tấm chăn rất quí, định bán mà chưa kiếm được người mua. Sợ mang theo bị
cướp, chúng tôi tính đốt mới tiếp tục cuộc hành trình được.
Quan Chưởng khố
Jotika thấy họ, hỏi gia nhân:
- Mấy người kia làm
gì thế?
Sau khi nghe chuyện,
ông cho gọi họ đến, bảo:
- Tấm chăn giá bao
nhiêu?
- Thưa, một trăm ngàn
đồng.
Jotika kêu đưa cho họ
một trăm ngàn đồng, rồi nói:
- Các ông đem giùm
tấm chăn này cho cô tớ gái đang quét rác ở cổng lâu đài ta. Cô kia nhận tấm
chăn òa lên khóc, vào gặp quan, nói:
- Thưa chủ nhân, nếu con
có lỗi lầm gì sao Ngài không đánh đập con? Ngài lại cho con tấm chăn thô xấu
thế này. Con làm sao may quần áo, may áo choàng?
- Ta cho cô tấm chăn
chẳng phải để cô may đồ. Cô có thể cuộn nó lại để ở chân giường, sau khi rửa
chân bằng nước thơm, cô dùng nó lau chân. Ðược chưa?
- Bẩm vâng, thế thì
được ạ.
Lúc ấy, cô gái mới
chịu ôm tấm chăn đi ra.
Ðám gia nhân Jatila
chứng kiến sự việc ấy, về nhà nghe chủ hỏi:
- Các bạn kiếm được
ai giàu bằng nhà ta chưa?
Họ vội đáp:
- Thưa chủ nhân, Ngài
giàu thực chẳng thấm vào đâu. Quan Chưởng khố Jotika thành Vương Xá giàu tới
vậy nè.
Họ miêu tả cảnh giàu
sang trong lâu đài Jotika, rồi kể câu chuyện tấm chăn. Nghe xong, ông càng vui
vẻ, nói:
- Bây giờ ta có thể
xin xuất gia làm Sa môn được rồi.
Ông vào Hoàng cung
tâu vua:
- Tâu bệ hạ, thần
muốn xuất gia làm Sa môn.
- Ðược thôi, khanh cứ
làm theo ý muốn.
Jatila về nhà gọi hết
các con đến, trao cho con trai trưởng chiếc xẻng bằng vàng, bảo:
- Con đi ra núi vàng
phía sau nhà lấy cho ta một cục vàng.
Người con cầm xẻng
xúc vào núi vàng, anh cảm thấy như xúc vào đá cứng. Jatila lấy xẻng trong tay
con trai trưởng, trao cho con trai thứ, bảo làm y như trước. Người con này cũng
như anh, xúc vào vàng chỉ cảm thấy như xúc vào đá tảng. Jatila trao xẻng cho
con út. Anh này cầm xẻng xúc thì vàng rời ra như đất mềm. Quan Chưởng khố bảo:
- Thôi, đủ rồi con.
Ông bảo hai đứa con
lớn:
- Núi vàng này không
phải của các con. Nó chỉ thuộc về ta và thằng út. Các con hãy cùng nó chung
hưởng giàu sang.
Tại sao núi vàng chỉ
thuộc về người cha và đứa con út? Tại sao quan Chưởng khố bị bỏ trôi sông từ
lúc còn sơ sanh? Ðây là quả báo của những việc làm trong một kiếp trước.
Chuyện quá khứ:
D. Ông Thợ Vàng Và Ba
Người Con.
Một kiếp xa xưa, khi
ngôi tháp thờ đức Phật Ca Diếp đang được xây cất. Có một vị A la hán đi đến hỏi
các thợ xây:
- Các bạn, tại sao
mặt tháp phía Bắc xây nửa chừng thế này?
- Dạ, vì không đủ
vàng.
- Tôi sẽ vào làng kêu
gọi mọi người cúng dường. Các ông hãy gắng hết lòng lo công việc.
Ngài vào thành kêu
gọi:
- Hỡi thiện nam, tín
nữ. Hiện không có đủ vàng xây mặt tháp phía Bắc. Xin các thí chủ đóng góp.
Sau đó, Ngài đến nhà
ông thợ vàng. Gặp đúng lúc ông đang cãi nhau với vợ. Tôn giả nói:
- Vâng không đủ xây
mặt Bắc ngôi tháp ông nhận lãnh làm. Việc này ông cần phải biết rõ. Ðang tức giận
bà vợ, ông đáp:
- Ông hãy liệng đức
Thế Tôn của ông xuống sông rồi đi cho khuất mắt.
Bà vợ trách chồng:
- Ông đã phạm tội đại
ác. Ông giận tôi thì cứ đánh mắng tôi, sao lại sân hận với chư Phật quá khứ,
hiện tại, vị lai?
Người thợ vàng lúc ấy
mới thấy hối tiếc. Ông sụp lạy vị A la hán thưa:
- Xin Ðại đức hỷ xả
cho con.
- Ông đâu có nói gì
ta. Hãy sám hối đức Thế Tôn.
- Bạch Ðại đức, con
phải làm gì để được Phật xá tội?
- Này thiện hữu, ông
hãy làm ba bình bông bằng vàng đặt lên hòm đựng Xá Lợi Phật, rồi nhúng ướt tóc
và quần áo ông để đến sám hối đức Thế Tôn.
- Thưa vâng, bạch Ðại
đức.
Trong lúc làm những
bông hoa vàng, ông gọi người con trai trưởng lên bảo:
- Con ạ, cha đã nói
lời thô ác về đức Thế Tôn. Sau khi làm xong những hoa này cha sẽ đặt lên hòm Xá
Lợi Phật và sám hối. Con đi theo cha nhé.
Người con không muốn
đi, đáp:
- Ðâu phải vì con mà
cha nói lời thô ác ấy. Cha đi một mình vậy.
Ông kêu người con
thứ. Y cũng không muốn đi nên trả lời như anh. Ðến người con út, cậu thưa:
- Bổn phận con cái là
phải làm những gì cần làm.
Cậu hứa đi cùng cha
đến tháp Phật và phụ giúp ông làm các bông hoa vàng. Xong ba bình bông, ông
nhắm bề rộng của cái hòm đựng Xá Lợi Phật, đặt chúng lên, nhúng ướt tóc và quần
áo rồi đến sám hối Phật.
Chuyện hiện tại:
E. Phần Kết.
Vì nguyên nhân trên,
liên tiếp trong bảy kiếp Jatila vừa chào đời đã bị bỏ xuống sông, kiếp này là
kiếp cuối cùng. Cũng do vì không phụ giúp cha nên hai người con lớn chẳng có
phần được hưởng núi vàng, chỉ có người cha và con út được.
Quan Chưởng khố sau
khi dặn bảo các con liền xuất gia làm Sa môn đệ tử Phật. Chỉ vài ngày sau, ông
đắc quả A la hán.
Một hôm đức Phật và
năm trăm Thầy Tỳ kheo đi khất thực đến nhà các con của Jatila, họ cúng dường
vật thực cho Phật và chư Tăng suốt nửa tháng. Tối lại, các Thầy Tỳ kheo vào
Pháp đường bàn tán:
- Này huynh Jatila,
bây giờ huynh có tiếc nhớ núi vàng khổng lồ và các con của huynh không?
- Thưa chư huynh, tôi
chẳng tiếc nhớ chúng, cũng không hãnh diện vì chúng.
Các Thầy bảo nhau:
- Tôn giả Jatila nói
dối, phạm tội vọng ngữ.
Ðức Thế Tôn nghe các
Thầy nói, liền dạy:
- Này các Tỳ kheo,
đúng là ông ấy chẳng tiếc nhớ hoặc hãnh diện.
Ngài nói kệ:
(416) Ai ở đời đoạn
ái,
Bỏ nhà, sống xuất
gia,
Ái hữu được đoạn tận,
Ta gọi Bà la môn.
34. Vua A Xà Thế Ðánh Chiếm Lâu Ðài Jotika
Ai ở đời đoạn ái...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Tôn giả Jotika.
Sau khi âm mưu với Ðề
Bà Đạt Đa giết cha là vua Bình Sa Vương để lên ngôi, vua A Xà Thế tự nghĩ:
"Bây giờ ta sẽ chiếm tòa lâu đài quan Chưởng khố.” Vua nai nịt, chuẩn bị
khí giới như lúc ra trận, kéo quân đi. Nhưng vừa thấy bóng mình và đoàn quân
phản chiếu trên các bức tường chạm châu ngọc, vua nghĩ: "Chủ nhân đã sẵn
sàng khí giới để chiến đấu, đang cùng gia nhân tiến ra" nên không dám tiến
lại gần.
Hôm ấy ngẫu nhiên
đúng vào ngày quan Chưởng khố quyết định bắt đầu ăn chay. Từ sáng sớm sau bữa
điểm tâm, ông đến Tinh xá ngồi nghe Phật giảng pháp. Thần dạ xoa Yamakoli gác
cổng thứ nhất tòa lâu đài thấy vua A Xà Thế, bèn la:
- Ngươi đi đâu vậy?
Thần đánh cho đoàn
binh vua thua liểng xiểng, tháo chạy tán loạn, và còn rượt theo đánh nữa. Vua A
Xà Thế chạy trốn vào chính ngôi Tinh xá quan Chưởng khố đang ngồi nghe pháp.
Thấy vua ông đứng dậy:
- Tâu bệ hạ, có việc
gì không?
- Này khanh, làm sao
mà vừa điều khiển gia nhân đánh với trẫm xong, khanh lại có thể ngồi đây giả vờ
nghe pháp?
- Muôn tâu, bệ hạ đã
đến đánh chiếm nhà hạ thần sao?
- Ðúng vậy.
- Tâu bệ hạ, một ngàn
ông vua cũng không đoạt được nhà hạ thần.
Vua nổi giận:
- Người định chiếm
ngôi chăng?
- Tâu không, hạ thần
chẳng có ý định làm vua. Nhưng vua hoặc giặc cướp đều không thể cưỡng đoạt của
cải nhà hạ thần, dù một sợi chỉ.
- Vậy ngươi có đồng ý
để ta lấy tòa lâu đài không?
- Tâu bệ hạ, trên tay
hạ thần đây đang đeo hai mươi chiếc nhẫn. Hạ thần không cho bệ hạ. Bệ hạ thử
lấy xem.
Vua ngồi thu mình lấy
đà, nhảy lên không trung tới chín thước. Sau đó vua đứng dậy, phóng lên cao bốn
mươi thước. Dù sức mạnh vô song, vua vặn vẹo cách nào cũng chẳng lôi được một
chiếc nhẫn ra khỏi tay quan Chưởng khố. Sau cùng, quan Chưởng khố nói:
- Tâu bệ hạ, xin bệ
hạ trải áo choàng ra.
Vua vừa trải áo, quan
Chưởng khố duỗi hai bàn tay, hai mươi chiếc nhẫn rơi xuống.
- Muôn tâu, bệ hạ
thấy đó. Không ai có thể cưỡng đoạt của cải hạ thần được.
Hành vi của vua làm
quan Chưởng khố rất ngao ngán. Ông thưa:
- Tâu bệ hạ, xin cho
phép hạ thần được xuất gia làm Sa môn.
Vua nghĩ thầm:
"Quan Chưởng khố mà làm Sa môn, ta sẽ chiếm đoạt tòa lâu đài dễ dàng.”
Vua bèn bảo:
- Khanh cứ xuất gia.
Jotika xuất gia làm
Sa môn đệ tử Phật, chẳng bao lâu đã đắc quả A la hán, được mọi người biết đến
dưới tên Tôn giả Jotika. Ông vừa đắc quả, tất cả của cải châu ngọc, phú quí thế
gian của ông đều biến mất hết, và chư thiên đưa cô vợ Satulakàyi của ông về xứ
Uttarakuru.
Một hôm, các Thầy Tỳ
kheo hỏi Tôn giả Jotika:
- Này huynh Jotika,
huynh có nhớ tiếc tòa lâu đài hoặc vợ huynh không?
- Thưa chư huynh,
không.
Các Thầy đến bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
Tỳ kheo này nói dối, phạm tội vọng ngữ.
Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
đúng là ông ấy chẳng tiếc nhớ gì những thứ ấy.
Ngài nói kệ:
(416) Ai ở đời đoạn
ái,
Bỏ nhà, sống xuất
gia,
Ái hữu được đoạn tận,
Ta gọi Bà la môn.
35. Người Diễn Kịch Câm Xuất Gia Làm Sa Môn
Bỏ trói buộc loài
người...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo trước khi
xuất gia, là diễn viên kịch câm.
Có một diễn viên kịch
câm đi trình diễn lang thang đây đó. Một hôm nghe Phật thuyết pháp xong, ông
xin xuất gia làm Sa môn và đắc quả A la hán. Khi đến làng kia khất thực, đức
Phật và chư Tăng trông thấy một diễn viên kịch câm khác đang biểu diễn. Các
Thầy hỏi Thầy Tỳ kheo cựu diễn viên:
- Này huynh, ở đàng
kia có một diễn viên kịch câm đang diễn trò như huynh hồi ấy. Huynh có nhớ tiếc
cuộc sống cũ không?
- Thưa chư huynh,
không.
Các Thầy bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
Tỳ kheo này nói dối, phạm tội vọng ngữ.
Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
ông ấy đã thoát được mọi buộc ràng.
Và Ngài nói kệ:
(417) Bỏ trói buộc
loài người,
Vượt trói buộc cõi
trời,
Giải thoát mọi buộc
ràng,
Ta gọi Bà la môn.
36. Người Diễn Kịch Câm Xuất Gia Làm Sa Môn
Bỏ điều ưa, điều
ghét...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến một Thầy Tỳ kheo trước khi
xuất gia là một diễn viên kịch câm.
Câu chuyện cũng giống
như chuyện trước, chỉ khác trong trường hợp này, đức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
ông ấy đã bỏ điều ưa, điều ghét.
Ngài nói kệ:
(418) Bỏ điều ưa,
điều ghét,
Mát lạnh, diệt sanh
y,
Bậc anh hùng chiến
thắng,
Nhiếp phục mọi thế
giới,
Ta gọi Bà la môn.
37. Người Gõ Ðầu Lâu
Ai hiểu rõ hoàn
toàn...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Vangìsa.
Thuở ấy, tại thành
Vương Xá có một người Bà la môn tên Vangìsa, có tài biết được người chết sanh
về đâu. Ông cứ việc gõ lên chiếc đầu lâu, rồi nói:
- Người có chiếc đầu
lâu này đã bị đọa Địa ngục. Người kia đã hóa kiếp làm súc sanh, người này vào
đường Ngạ quỷ, đầu lâu kia là của một người đã sanh trở lại cõi người.
Một nhóm người Bà la
môn suy tính: "Chúng ta có thể dùng người này để chinh phục lòng tin mọi
người.” Họ khoác lên mình Vangìsa hai chiếc áo rộng màu đỏ, đưa ông đi khắp
vùng và loan báo:
- Người Bà la môn
Vangìsa này có thể gõ vào đầu lâu người chết và biết người chết đã sanh ở cõi
nào. Các bạn mau mau đến hỏi xem người thân của mình chết rồi đi đâu.
Người ta kéo nhau
đến, người đưa mười đồng, kẻ hai mươi đồng, hoặc cả trăm đồng tùy túi tiền, rồi
hỏi về số phận của những người thân đã chết của họ.
Lang thang khắp nơi,
một hôm đến thành Xá Vệ, họ ở lại gần Tinh xá Kỳ Viên. Sau bữa ăn sáng, thấy
người người lũ lượt cầm hương hoa các thứ đi nghe giảng pháp, những người Bà la
môn liền hỏi:
- Các ông các bà đi
đâu vậy?
- Ðến Tinh xá nghe
pháp.
- Nghe pháp thì được
gì? Không có ai hơn ông bạn Vangìsa của chúng tôi đâu. Ông ấy mà gõ lên đầu lâu
người chết là biết được người ấy tái sanh về đâu. Các ông bà đến hỏi thăm về
người thân của mình đi.
Nhóm Phật tử đáp:
- Cái ông Vangìsa ấy
biết gì? Ðâu có ai bằng được đức Thế Tôn.
Bọn Bà la môn cãi:
- Không ai bằng
Vangìsa.
Hai bên tranh luận om
sòm. Cuối cùng, nhóm Phật tử bảo:
- Chúng ta hãy cùng
nhau đi xem thử ông Vangìsa của các ông hay đức Thế Tôn của chúng tôi ai hơn
nhé!
Họ kéo nhau đến Tinh
xá.
Ðức Phật biết hết
chuyện nên cho lấy năm chiếc sọ đặt thành một hàng, sọ thứ nhất của một người
đã bị đọa Địa ngục, sọ thứ hai bị đọa làm súc sanh, sọ thứ ba vào cõi người, sọ
thứ tư sanh về cõi trời và sọ thứ năm của một vị đã đắc A la hán. Khi mọi người
đến nơi, Phật hỏi Vangìsa:
- Người ta nói ông có
thể gõ vào sọ người chết và nói được người đó đã đi về cõi nào phải không?
- Vâng.
- Vậy sọ này của ai?
- Ðây là sọ một người
đã bị đọa Địa ngục.
- Hay thay!
Ðức Phật tán thán
xong hỏi về ba chiếc sọ kế tiếp. Y đều trả lời đúng. Sau mỗi câu trả lời đúng,
đức Phật lại tán thán. Cuối cùng, Ngài hỏi về chiếc sọ thứ năm:
- Sọ này của ai?
Vangìsa gõ lên đầu
lâu, rồi thú thật không biết người ấy đã sanh về đâu. Ðức Phật nói:
- Vangìisa, ông không
biết ư?
- Thưa không, con
không biết.
- Ta biết.
Vangìsa thỉnh cầu:
- Xin Ngài hãy dạy
cho con thuật này.
- Ta không thể dạy
cho một người không phải Sa môn.
Ông Bà la môn nghĩ:
"Giá ta biết được huyễn thuật này, ta sẽ là người số một trên toàn cõi Ấn
Ðộ.” Y bảo những người Bà la môn đồng bọn:
- Các bạn hãy tìm chỗ
ở lại đâu đó vài ngày. Tôi định xuất gia làm Sa môn.
Y xin xuất gia làm Sa
môn đệ tử Phật, và được gia nhập Tăng đoàn. Các Thầy Tỳ kheo gọi là Tôn giả
Vangìsa. Ðức Phật trao cho Thầy Tỳ kheo đề mục Thiền quán là ba mươi hai thứ
cấu tạo nên thân.
- Ông phải lặp đi lặp
lại cho thuộc những thứ này mới học huyễn thuật kia được.
Thầy y theo lời Phật
dặn. Các người Bà la môn thỉnh thoảng đến thăm chừng, hỏi:
- Ông học được huyễn
thuật chưa?
- Xin các bạn đợi ít
lâu. Tôi đang học đây.
Vài ngày sau, Thầy
đắc A la hán. Khi những người Bà la môn đến nữa, Thầy nói:
- Này các huynh đệ,
bây giờ tôi không thể học nó.
Các Thầy Tỳ kheo nghe
vậy, bèn đến bạch Phật:
- Bạch Thế Tôn, Thầy
Tỳ kheo này nói dối, phạm tội vọng ngữ.
Ðức Phật bảo:
- Này các Tỳ kheo,
chớ nói thế. Ông ấy giờ đây biết hết đường sanh tử của chúng sanh.
Ngài nói kệ:
(419) Ai hiểu rõ hoàn
toàn,
Sanh tử các chúng
sanh,
Không nhiễm, khéo
vượt qua,
Sáng suốt châu giác
ngộ,
Ta gọi Bà la môn.
(420) Với ai, loài
trời, người,
Cùng với Càn thát bà,
Không biết chỗ thọ
sanh,
Lậu tận bậc La hán,
Ta gọi Bà la môn.
38. Ông Bà Visàkha
Người không sở hữu
gì...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Trúc Lâm, liên quan đến Tỳ kheo ni Dhammadinnà.
Khi Tỳ kheo ni
Dhammadinnà chưa xuất gia, chồng bà tên Visàkha là một Phật tử thuần thành. Một
hôm, nghe Phật giảng pháp liền đắc A na hàm. Sau đó ông nghĩ thầm: "Bây
giờ, ta nên giao hết tài sản của cải cho Dhammadinnà.” Trước đây, theo lệ
thường mỗi khi về nhà, vừa thoáng thấy Dhammadinnà nhìn ra cửa sổ, ông đã mỉm
cười với bà. Nhưng hôm ấy, bà đang đứng ngay tại cửa sổ, ông đi ngang chẳng hề
ngó ngàng đến. Bà suy nghĩ: "Vậy là sao đây? Thôi được, đến bữa ăn mình sẽ
biết chuyện gì.” Tới trưa, bà dọn cơm cho ông như mọi ngày. Thay vì nói câu
thường lệ: "Nàng hãy như mọi ngày. Thay vì nói câu thường lệ: "Nàng
hãy ngồi xuống cùng ăn với tôi nào.” Hôm nay ông ăn trong yên lặng, chẳng hé
môi thốt một lời. Bà nghĩ tiếp: "Chắc ổng giận gì rồi đa.”
Xong bữa cơm, Visàkha
kiếm chỗ ngồi thoải mái rồi gọi Dhammadinnà đến bên bảo:
- Dhammadinnà, tất cả
của cải trong nhà này từ nay thuộc về nàng. Hãy nhận lấy!
Bà nghĩ: "Nếu
giận, chẳng ai lại trao tặng của cải, mời nhận. Không biết chuyện gì nữa đây
kìa?" Yên lặng một lúc, bà mời hỏi:
- Nhưng còn chàng thì
sao?
- Kể từ hôm nay, tôi
không dính dáng gì đến chuyện thế tục nữa.
- Ai mà đi hốt đàm dãi
ông nhổ ra? Ông hãy cho phép tôi xuất gia làm Tỳ kheo ni luôn.
- Tốt lắm!
Visàkha chấp nhận
ngay. Ông đưa bà đến Tinh xá của các Tỳ kheo ni với nhiều tặng phẩm quí giá,
xin cho bà được gia nhập Tăng đoàn chư Ni. Thọ giới cụ túc xong, bà được mọi
người kêu Tỳ kheo ni Dhammadinnà.
Bà thích cuộc sống
độc cư nên theo các Tỳ kheo ni về miền quê. Sau một thời gian, bà đắc A la hán
và cả thần thông. Bà nghĩ: "Bây giờ, những người thân của ta sẽ vì ta mà
làm việc phước thiện.” Bà quay về Vương Xá. Cư sĩ Visàkha nghe tin bà về, thầm
nghĩ: "Bà ấy trở về vì cớ gì nhỉ?” Ông đến Tinh xá các Tỳ kheo ni, gặp vị
Tỳ kheo ni vợ cũ của mình, ông đảnh lễ và cung kính ngồi qua một bên.
Ông lại thầm tính:
"Nếu bây giờ mình hỏi: Bạch sư cô, xin hỏi có phải sư cô đã chán việc tu
hành không? thì thực chẳng tiện chút nào. Thôi mình sẽ hỏi như thế này.” Ông
hỏi bà một câu về quả vị Tu đà hoàn, bà lập tức trả lời rất chính xác. Cư sĩ
tiếp tục hỏi về các quả vị cao hơn, và cuối cùng, hỏi đến A la hán. Bà tán
thán:
- Lành thay, huynh
Visàkha! Nếu huynh muốn biết về quả vị A la hán, xin đến yết kiến đức Thế Tôn
và tham vấn Ngài.
Visàkha lại đảnh lễ
bà, rồi đến gặp Phật kể Ngài nghe câu chuyện của họ. Ðức Thế Tôn bảo:
- Ðệ tử ta,
Dhammadinnà, thật khéo nói. Còn về câu hỏi ông hãy lắng nghe.
Phật giảng pháp xong,
nói bài kệ:
(421) Ai quá, hiện,
vị lai,
Không một sở hữu gì,
Không sở hữu, không
nắm,
Ta gọi Bà la môn.
39. Angulimàla, Vô Não
Bậc trâu chúa, thù
thắng...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến Tôn giả Angulimàla.
Câu chuyện này đã
được kể trong phần chú giải bài kệ bắt đầu bằng câu: "Keo kiết không sanh
thiên... ”
Các Thầy Tỳ kheo hỏi
Angulimàla:
- Này huynh
Angulimàla, khi huynh thấy con voi độc cầm lọng đứng trước mặt, huynh không sợ
sao?
- Không, thưa chư
huynh, tôi chẳng sợ.
Các Thầy Tỳ kheo bạch
Phật:
- Bạch Thế Tôn,
Angulimàla nói dối.
Ðức Phật dạy:
- Này các Tỳ kheo,
Angulimàla không còn sợ hãi. Bởi vì, trong số những bậc đại sĩ đã xa lìa tham
ái, những Tỳ kheo như Angulimàla là tôn quí nhất, và không sợ hãi nữa.
Ngài nói kệ:
(422) Bậc trâu chúa,
thù thắng,
Bậc anh hùng, đại sĩ,
Bậc chiến thắng,
không nhiễm,
Bậc tẩy sạch, giác
ngộ,
Ta gọi Bà la môn.
40. Phạm Hạnh Của Thí Chủ Quyết Ðịnh Phước Báu Cúng
Dường
Ai biết được đời
trước...
Ðức Thế Tôn dạy những
lời này khi Ngài đang ở tại Kỳ Viên, liên quan đến câu hỏi của ông Bà la môn
Devahita.
Một hôm, đức Thế Tôn
bị chứng khó chịu trong người, liền bảo Tôn giả Upavàna đến nhà người Bà la môn
tên Devahita xin nước nóng. Tôn giả đến, nói rõ chứng bệnh của đức Phật và xin
ông Bà la môn nước nóng. Ông nghe vậy vô cùng hoan hỉ:
- Thật may mắn cho
tôi quá, được dịp cúng nước nóng cho bậc Giác ngộ Vô thượng.
Ông lấy nước nóng và
một bình mật mía đưa Tôn giả, ra lệnh cho một gia nhân mang phụ nước nóng đi.
Tôn giả thỉnh Phật
tắm nước nóng, và pha mật bằng nước ấm cho Ngài dùng. Ngay sau đó cơn đau của
Ngài dịu xuống.
Ông Bà la môn thầm
nghĩ: "Người ta nên cúng dường ai để được phước lớn? Ta sẽ hỏi đức Thế
Tôn.”
Ông đến gặp Phật và
đọc một bài kệ:
Bố thí ai phước lớn?
Ai nên được cúng
dường?
Thí chủ phải thế nào?
Mới được phước vô
lượng?
Ðức Phật dạy:
- Một người Bà la môn
như sau, cúng dường sẽ được phước báo rất lớn.
Ngài nói kệ:
(423) Ai biết được
đời trước,
Thấy thiên giới, đọa
xứ,
Ðạt được sanh diệt
tận,
Thắng trí, tự viên
thành,
Bậc Mâu Ni đạo sĩ,
Viên mãn mọi thành
tựu,
Ta gọi Bà la môn.
PHẦN KẾT
Ðấng Pháp Vương Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác đã đạt đến Niết bàn tối thượng. Những bài kệ Pháp
Cú này được thốt ra từ kim khẩu của bậc Thánh Trí Ðại hùng Ðại lực ấy.
Ngài đã dạy Tứ Ðế
bằng 423 bài kệ. Và có đến 299 câu chuyện ra đời.
Ðược sống trong ngôi
tu viện do triều đình xây cất tại khuôn viên Hoàng cung đức vua Sirikùta, lòng
tôi tràn ngập sự biết ơn.
Tôi biên soạn nên tập
chú giải đúng đắn này về các bài kệ ấy, gồm 72 phần, để dễ bề đọc tụng, hoặc
kể.
Phù hợp với ý và lời
của các bài kệ, đặt cơ sở trên chánh pháp độ sanh của bậc Ðạo sư trời và người.
Với công đức cúng
dường này, xin nguyện cho tất cả ước vọng chính đáng của hết thảy chúng sanh được
thành tựu, đơm kết thành hoa ngọt trái lành.
Xin chúc chư vị được
thịnh vượng, an lạc và thân thể khang kiện!
(Hết tập 3)
