Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ THÙ THẮNG

 

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ THÙ THẮNG

Tác giả: Tỳ Kheo Thích Chiếu Nguyện

 

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

DẪN NHẬP

Ý NGHĨA DANH TỪ “PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ” VÀ DANH HIỆU “A DI ĐÀ PHẬT”

NHÂN DUYÊN - NGUỒN GỐC ĐỨC PHẬT NÓI PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

SỰ THÙ THẮNG, TRANG NGHIÊM CỦA CÕI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

TRÍCH DẪN NHỮNG ĐOẠN KINH ĐỨC PHẬT DIỄN TẢ SỰ THÙ THẮNG TRANG NGHIÊM CÕI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC SANH VỀ CÕI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

PHƯƠNG PHÁP TU TẬP PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

LỢI ÍCH CỦA PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

TRÍCH DẪN NHỮNG ĐOẠN KINH LUẬN NHỮNG LỜI CHỈ DẠY KHUYÊN TU PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ CỦA PHẬT BỒ TÁT TỔ SƯ VÀ CÁC VÌ HIỀN NHÂN

CUỘC ĐỜI THẾ GIAN LÀ BIỂN KHỔ

KHUYẾN TU

DẪN CHỨNG NHỮNG MẨU CHUYỆN NIỆM PHẬT VÃNG SANH CỦA NGƯỜI XƯA

NHỮNG CHUYỆN NIỆM PHẬT VÃNG SANH THỜI NAY

NHỮNG CHUYỆN NIỆM PHẬT CẢM ỨNG TIÊU TAI GIẢI NẠN

LƯỢC SỬ TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ 48 LỜI ĐẠI NGUYỆN

THÂN TƯỚNG ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

KẾT LUẬN

 

LỜI NÓI ĐẦU

Trong kinh Ðại Tập, Đức Phật dạy rằng: “Trong thời mạt pháp có ức ức người tu hành, mà ít có kẻ nào đắc đạo, chỉ nương nơi Pháp Môn Niệm Phật mà thoát luân hồi”.

Qua đoạn kinh trên, chúng ta thấy rằng Pháp Môn Niệm Phật rất quan trọng đối với chúng ta ngày nay, muốn thoát khỏi sanh tử luân hồi không pháp tu nào bằng Pháp Môn Tịnh Độ.

Nhận thấy Pháp Môn Tịnh Độ có tầm quan trọng, lợi ích như vậy, nên chúng tôi mạo muội, với kiến thức cạn hẹp, xin trình bày đôi nét về Pháp Môn Tịnh Độ để cùng với mọi người tìm hiểu tu học. Sách cũng trích dẫn những đoạn kinh, những lời khai thị của Phật, chư Bồ Tát, chư Tổ, chư vị Hiền Nhân làm kim chỉ nam trên bước đường tu học của hành giả đang tu tập Pháp Môn Tịnh Độ. Đồng thời, dẫn chứng nhiều mẩu chuyện niệm Phật vãng sanh của người xưa và nay để chứng minh niệm Phật nhất định được vãng sanh Cực Lạc.

Hy vọng, cuốn sách nhỏ này giúp thêm kiến thức, niềm tin và sự tinh tấn tu tập của hành giả Tịnh Độ, nếu có gì sơ suất, thiếu sót mong quý vị hoan hỷ, chỉ giáo thêm.

Chúng tôi nguyện cầu chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng, chư Hộ Pháp Long Thiên gia hộ cho quý vị thân tâm an lạc, tinh tấn tu hành, tất cả đều được vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc, sớm thành Phật đạo.

Nam Mô A Di Đà Phật

Tỳ Kheo Thích Chiếu Nguyện

TP. Hồ Chí Minh

Ngày 08/01/2011

 

DẪN NHẬP

Đức Phật thị hiện ra đời đem pháp mầu chỉ dạy chúng sanh tu tập thoát khổ được vui. Chúng sanh căn tánh, trình độ không đồng nên Ngài dạy rất nhiều pháp môn để phù hợp với mọi người.

Pháp Phật rất nhiều, có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn. Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn có một pháp môn thù thắng, vi diệu, tối tôn, tối thượng, dễ tu, dễ chứng, phù hợp với mọi trình độ căn cơ, nếu ai ứng dụng tu tập thì một đời giải thoát, một đời thành Phật, đó là Pháp Môn Tịnh Độ.

Thật vậy, Pháp Môn Tịnh Độ rất thù thắng vi diệu. Từ xưa đến nay biết bao nhiêu người tu tập pháp này đều được giải thoát. Trên thì chư Bồ Tát như Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Đại Thế Chí v.v… đều thực hành tu tập và khuyến hóa chúng sanh đồng tu pháp này. Thứ đến chư vị Tổ Sư, chư Đại Đức Tăng Ni, vua quan, trưởng giả, thứ dân v.v… đều ứng dụng tu tập và đã được giải thoát. Dưới đến những người cùng khổ, những người phiền não, nghiệp chướng nặng nề, những người làm nghề ác như đồ tể v.v… thực hành đều được Đức Phật tiếp độ. Thậm chí cho đến loài súc sanh như khỉ vượn, chim muông biết tu tập niệm Phật đều được giải thoát. Những mẩu chuyện người tu Tịnh Độ niệm Phật vãng sanh từ xưa đến nay rất nhiều được viết lại trong các bộ luận, bộ lục, bộ sách của chư Tổ, chư Hiền Nhân.

Ngày nay, Pháp Môn Tịnh Độ được truyền bá rộng rãi khắp nơi. Người tu Tịnh Độ niệm Phật rất nhiều nên người vãng sanh Cực Lạc cũng nhiều. Đặc biệt, có người khi vãng sanh để lại nhiều sự mầu nhiệm như: biết trước ngày giờ chết, thấy Phật, thấy hào quang, thấy hoa sen, có mùi thơm, có người còn để lại xá lợi.

Pháp Môn Tịnh Độ thù thắng, dễ tu, mau chứng, vậy chúng ta hãy học tập, thực hành để sớm được giải thoát. Để mọi người hiểu rõ thêm về pháp môn này, đề tài sẽ đi vào chi tiết Pháp Môn Tịnh Độ.

 

Ý NGHĨA DANH TỪ “PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ” VÀ DANH HIỆU “A DI ĐÀ PHẬT”

1. Ý nghĩa danh từ “Pháp Môn Tịnh Độ”

Chữ “Pháp” là những lời chỉ dạy của chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng, dạy cho chúng sanh tu tập tránh ác làm lành, sống an lạc giải thoát. Pháp được kết tập lại thành Tam Tạng Kinh Điển gồm: Kinh, Luật và Luận. Chữ “Môn” là cửa, cửa đây là cửa đạo, cửa giải thoát giác ngộ. Vậy, hai chữ “Pháp Môn” là cánh cửa đi vào chân lý, phương pháp tu tập để được giải thoát, giác ngộ. Hai chữ “Tịnh Độ”, chữ “Tịnh” nghĩa là trong sạch, mát mẻ, an lạc. Chữ “Độ” nghĩa là cõi nước, thế giới, ví dụ như thế giới Ta Bà của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, thế giới Đông Phương của Đức Phật Dược Sư v.v… Nhưng hai chữ Tịnh Độ ở đây là chỉ thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà. Vậy “Pháp Môn Tịnh Độ” nghĩa là đường lối, cách thức, phương pháp tu tập để được sanh về Tây Phương Cực Lạc, cõi nước của Đức Phật A Di Đà.

2. Ý nghĩa danh hiệu “A Di Đà Phật”

A Di Đà tiếng Phạn là Amita, dịch âm là A Di Đà hay A Mi Đà. Chữ A Di Đà có ba nghĩa là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang và Vô Lượng Công Đức. Vô lượng thọ nghĩa là thọ mạng sống lâu vô cùng. Vô lượng quang nghĩa là hào quang chiếu sáng khắp nơi không giới hạn. Vô lượng công đức nghĩa là công đức rất nhiều vô lượng vô biên không có công đức nào  sánh bằng.

Chữ Phật tiếng Phạn là Buddha dịch âm là Phật Đà gọi tắt là Phật, Phật nghĩa là bậc giác ngộ hoàn toàn trên ba phương diện: Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn. Tự giác: Đức Phật đã hoàn toàn giác ngộ không còn mê lầm điên đảo. Giác tha:  Ngài đem chân lý đã giác ngộ chỉ dạy chúng sanh. Giác hạnh viên mãn: công hạnh tu tập và giáo hóa chúng sanh Ngài đã làm đầy đủ, viên mãn.

 

NHÂN DUYÊN - NGUỒN GỐC ĐỨC PHẬT NÓI PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

Đa số các bộ kinh Đại Thừa, Đức Phật đều có giới thiệu Pháp Môn Tịnh Độ, Đức Phật A Di Đà và cõi Tây Phương Cực Lạc như: Kinh Pháp Hoa, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Lăng Nghiêm v.v… Đặc biệt, có những bộ kinh Đức Phật chuyên nói về Pháp Môn Tịnh Độ. Ngài diễn tả cõi Tây Phương Cực Lạc, công hạnh tu tập của Đức Phật A Di Đà, sự giáo hóa tiếp dẫn chúng sanh của Đức Phật A Di Đà, và Ngài dạy rõ Phương Pháp Niệm Phật cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc. Những bộ kinh này như: Kinh Quán Vô Lương Thọ, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà, Kinh Niệm Phật Ba La Mật v.v…

Sau đây, chúng ta tìm hiểu nguồn gốc, nhân duyên Pháp Môn Tịnh Độ qua các bộ kinh trên.

1. Kinh Quán Vô Lượng Thọ

Một thời, Đức Phật ở thành Vương Xá, trong núi Kỳ Xà Quật, cùng chúng hội Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người mà thuyết pháp.

Bấy giờ, trong thành Vương Xá có vị vua tên Bình Sa Vương, vua là đấng minh quân, nhân từ, đức độ. Hoàng hậu tên Vi Đề Hi hiền lành, phúc hậu. Hai người là đệ tử Đức Phật.

Vua có người con tên A Xà Thế. Thái tử là người tham lam, bạo nghịch, bất hiếu. Thái tử âm mưu cướp ngôi vua cha. Sự việc không thành, thái tử bị bắt. Vua Bình Sa Vương không trị tội con, lại nhường ngôi cho thái tử.

Sau khi lên ngôi, thái tử bắt vua cha giam vào trong ngục, không cho ăn uống, không cho ai vào thăm, chỉ cho mẹ ông được vào, nhưng không được mang thức ăn vào.

Hàng ngày, Hoàng hậu vào ngục thăm vua, thấy vua đói khát, tiều tụy hoàng hậu rất đau buồn. Bà tìm cách đem thức ăn vào cho chồng. Hoàng hậu nghĩ ra một kế là tắm gội sạch sẽ, thoa sữa và mật vào mình, sau đó vào thăm vua và kín đáo dâng lên cho vua dùng.

Khi dùng sữa và mật xong, nhà vua hướng về núi Kỳ Xà Quật đảnh lễ Đức Phật, cầu thỉnh Đức Phật phái đệ tử đến thuyết pháp và truyền giới Bát Quan Trai[1] để vua tu tập. Đức Phật dạy ngài Mục Kiền Liên, ngài Phú Lâu Na đến thuyết pháp và truyền giới Bát Quan Trai. Nhờ vậy mà nhà vua tạm được yên ổn sống qua ngày.

Thái tử biết được mọi chuyện nên rất tức giận, liền cầm kiếm định đi giết mẹ, các quan đại thần ngăn cản, ông nghe lời không giết nhưng lại giam mẹ trong lãnh cung.

Ở trong cung, hoàng hậu sầu khổ rơi lệ hướng về phía Đức Phật đảnh lễ than vãn. Bà tha thiết cầu thỉnh Đức Phật và Thánh Chúng đến thuyết pháp cho bà nghe để vơi bớt sự sầu muộn đau khổ.

Ở núi Kỳ Xà Quật, Đức Phật biết được, Ngài cùng Thánh Chúng, các vị trời đến thành Vương Xá, thị hiện ở hư không thuyết pháp cho hoàng hậu và nhà vua nghe.

Sau khi nghe pháp, bà thưa lên Đức Phật: “Bạch đức Thế Tôn, con chán thế gian này đầy dẫy sự ác độc khổ não, con cái ngỗ nghịch bất hiếu, nguyện Đức Phật chỉ cho con biết có thế giới nào thanh tịnh, an lạc thuần thiện, và dạy cho con phương pháp tu tập để được sanh về thế giới đó”.

Đáp lại lời cầu thỉnh của bà Vi Đề Hi, Đức Phật liền phóng quang hiện rõ mười phương thế giới chư Phật cho bà Vi Đề Hi và chúng hội thấy, để bà lựa chọn. Trong mười phương thế giới chư Phật, có rất nhiều thế giới thanh tịnh, đẹp đẽ trang nghiêm. Trong các thế giới này, thế giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là thù thắng hơn cả. Bà Vi Đề Hi liền chọn thế giới này.

Thể theo lời mong ước của bà Vi Đề Hi, Đức Phật nói kinh Quán Vô Lượng Thọ, chỉ dạy phương pháp tu tập cho bà Vi Đề Hi, và chúng sanh tu tập để được sanh về thế giới Cực Lạc.

2. Kinh Vô Lượng Thọ

Một thời Đức Phật ở thành Vương Xá, trong núi Kỳ Xà Quật, cùng chúng hội Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người mà thuyết pháp.

Lúc bấy giờ sắc diện của Đức Thế Tôn vui vẻ, sáng rỡ, đẹp đẽ lạ thường.

Ngài A Nan thấy vậy liền quỳ gối chấp tay bạch Đức Phật rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn! Hôm nay sắc diện của Đức Thế Tôn vui vẽ sáng rỡ, trong sạch như gương sáng, từ trước đến giờ chưa từng được thấy.

- Phải chăng hôm nay Đức Thế Tôn nghĩ nhớ đến công hạnh của chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại chăng?

Ðức Phật trả lời: Đúng vậy A Nan!

Liền đó, ngài A Nan cầu xin Đức Phật kể lại công hạnh tu tập của chư Phật, để ngài và chúng hội biết và học tập theo gương hạnh của chư Phật.

Theo lời thỉnh cầu của ngài A Nan, Đức Phật liền giảng Kinh Vô Lượng Thọ, kể lại công hạnh tu tập của Đức Phật A Di Đà, bốn mươi tám đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, diễn tả cảnh giới thù thắng, trang nghiêm cõi Tây Phương Cực Lạc, nói về phương pháp tu tập để được sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc.

3. Kinh A Di Đà

Một thời Đức Phật ở Xá Vệ quốc, tịnh xá Kỳ Hoàn cùng chúng hội Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người mà thuyết pháp.

Bấy giờ, Đức Phật muốn lợi ích chúng sanh hiện tại và tương lai mà giảng Kinh A Di Đà.

Kinh A Di Đà, Đức Phật diễn tả cõi Tây Phương Cực Lạc, chỉ dạy phương pháp tu tập để được sanh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, nói tâm nguyện của Ngài và chư Phật mười phương luôn ca ngợi, tán dương và bảo vệ người niệm Phật.

4. Kinh Niệm Phật Ba La Mật

Một thời Đức Phật ở thành Vương Xá, trong núi Kỳ Xà Quật cùng chúng hội Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh Văn, trời, người mà thuyết pháp.

Bấy giờ trong pháp hội có vị trưởng giả tên là Diệu Nguyệt quỳ xuống chấp tay bạch Phật:

- Bạch Đức Thế Tôn! Đức Phật thị hiện ra đời đem pháp mầu chỉ dạy chúng sanh tu tập thoát khổ được vui. Pháp của Phật có đến tám vạn bốn ngàn pháp môn.

- Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn cầu xin Đức Phật chỉ cho con, chúng hội hiện tại và thời mạt pháp về sau pháp môn nào thù thắng, vi diệu, nhưng lại dễ tu, dễ chứng, phù hợp với mọi trình độ căn cơ chúng sanh, một đời giải thoát, sớm thành Phật đạo!

Trưởng giả Diệu Nguyệt vừa bạch xong thì trời đất chấn động. Đức Phật tán thán ca ngợi trưởng giả và hứa khả lời thỉnh cầu này.

Liền đó Đức Phật nói Kinh Niệm Phật Ba La Mật. Dạy phương pháp niệm Phật rốt ráo để sớm được giải thoát giác ngộ.

 

SỰ THÙ THẮNG, TRANG NGHIÊM CỦA CÕI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

1. Thế giới

Thế giới Cực Lạc được tạo thành từ bảy chất báu là vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách. Thế giới rộng lớn, bằng phẳng. Nhà cửa là những cung vàng, điện ngọc, đền đài, lâu các rất nguy nga tráng lệ. Khắp nơi có những ao sen báu nước trong mát đủ tám công[2], có những vườn cây đẹp, có nhiều tòa tháp cao to lộng lẫy để cho mọi người vui chơi giải trí.

Ở đây không có bốn mùa xuân hạ thu đông, không khí luôn ôn hòa ấm áp, mát mẻ. Khắp nơi, gió thổi, nước chảy, cây rung đều phát ra những tiếng vi diệu, hoặc phát ra những tiếng pháp như tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, hay pháp Tứ Đế, Lục Độ v.v… làm cho tâm người thoải mái, an lạc, tăng trưởng thiện căn. Khắp cả thế giới, ngày đêm trên hư không tự nhiên rải những hoa quý đẹp để trang nghiêm thế giới, khi hoa cũ héo thì hoa tự ẩn đi trên hư không lại rải hoa mới.

2. Con người

Người ở cõi Cực Lạc rất trang nghiêm đẹp đẽ, ai cũng có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, thân tỏa hào quang, trí tuệ sáng suốt.

Ở đây, ai cũng có thần thông tự tại; mắt thấy khắp mười phương thế giới, tai nghe khắp mười phương thế giới, trong một giây có thể đi khắp mười phương thế giới, ý biết hết tâm niệm mười phương chúng sanh, biết được những chuyện quá khứ, hiện tại, vị lai trong vô số kiếp.

Đặc biệt, thọ mạng của người ở cõi Cực Lạc sống rất lâu, không thể dùng toán số mà tính được, dù cho có vô lượng Thánh Chúng trải qua vô lượng kiếp tính cũng không hết.

3. Sinh hoạt

Người ở cõi Cực Lạc ở trong những tòa lâu đài, cung điện, đài các được tạo thành từ bảy chất báu. Những tòa lâu các này có thể: hiện lớn, nhỏ hay bay đi đều tùy ý.

Ở đây, khi muốn ăn thì trăm ngàn món cao lương mỹ vị tùy ý người mà hiện ra trong những chén vàng, dĩa bạc, ăn xong chén bát tự ẩn đi không cần phải rửa, cất, đến giờ ăn chén bát, thức ăn quý lại hiện ra.

Y phục cũng vậy, đều tùy ý người mà hiện ra trăm ngàn muôn thứ nào là lụa là, gấm vóc muôn màu, lại còn có vô số đồ trang sức quý báu cho người chọn lựa.

Ở đây, con người không còn phải làm việc vất vả, suốt ngày chỉ an nghỉ, vui chơi, nghe pháp, tu tập. Lại còn dùng thần thông bay đi cúng dường mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát và giáo hóa chúng sanh, xong việc trong tích tắc liền trở về Cực Lạc. Cuộc sống ở đây thanh nhàn, thoải mái, an lạc nên gọi là Cực Lạc.

Cực Lạc là một thế giới huy hoàng, lộng lẫy, rực rỡ, tráng lệ, trang nghiêm, thanh tịnh, an lạc không có một thế giới nào sánh bằng.

Cõi Ta Bà chúng ta đang ở được tạo thành bằng đất, đá, bùn lầy. Lại còn nhiều sự ngăn ngại như núi non hiểm trở, sông ngòi ngăn cách. Thế giới này còn nhiều tai họa nguy hiểm như mưa bão, lũ lụt, sóng thần, động đất, núi lửa. Đây là những tai họa do thiên nhiên gây ra, còn những tai họa do con người gây ra như: ô nhiễm môi trường, trộm cướp, chiến tranh v.v... Thế giới này dơ xấu, nguy hiểm như vậy nên trong kinh Đức Phật nói thế giới này như nhà lửa, ngục tù.

Ở thế giới này, con người do chiêu cảm phiền não, nghiệp chướng nên mang thân hình  xấu xí như cao, thấp, ốm, mập, tật nguyền, đui, điếc, câm, ngọng. Thân mang nhiều thứ bệnh tật như hen suyễn, ung thư, cùi hủi v.v… rất đau khổ. Thân đã xấu, tâm tánh con người lại còn xấu hơn, tâm con người đầy dẫy sự tham lam, sân hận, si mê. Vì vậy mà sinh ra nhiều ác độc nào tàn hại, cướp bóc, chiến tranh làm cho con người đã khổ lại còn khổ thêm.

Về cuộc sống, vì sự ăn mặc mà con người phải lam lũ, cực khổ thức khuya dậy sớm để làm việc, vậy mà vẫn còn có người thiếu trước hụt sau. Có người tệ hơn, phải lang thang ăn xin đầu đường xó chợ, bữa đói bữa no, áo quần rách rưới, đêm đông giá lạnh không nhà để ở, không mền để đắp nên phải bỏ thân ở góc chợ, vỉa hè thật là tội nghiệp.

Thế gian này đầy rẫy sự xấu xa, ác độc, đau khổ. Cõi Cực Lạc trang nghiêm, thanh tịnh, thuần thiện, an lạc. Vậy chúng ta phải sớm tỉnh ngộ phát tâm tu hành, niệm Phật để thoát ra khỏi cảnh trần lao khổ lụy này, sớm vãng sanh về miền Cực Lạc giải thoát an vui.

 

TRÍCH DẪN NHỮNG ĐOẠN KINH ĐỨC PHẬT DIỄN TẢ SỰ THÙ THẮNG TRANG NGHIÊM CÕI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

Cõi Cực Lạc rất thù thắng, trang nghiêm khó mà nói hết được. Dưới đây, trích dẫn những đoạn kinh Đức Phật diễn tả về cõi ấy để chứng minh.

1. Trích Kinh A Di Đà:

“Bấy giờ Đức Phật bảo ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất rằng: Từ đây qua phương Tây quá mười muôn ức cõi Phật, có thế giới tên là Cực Lạc, trong thế giới đó có Đức Phật hiệu là A Di Đà hiện nay đương nói pháp.

Xá Lợi Phất! Cõi đó vì sao tên là Cực lạc?

Vì chúng sanh trong cõi đó không có những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc.

Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc.

Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc có ao bằng bảy chất báu, trong ao đầy dẫy nước đủ tám công đức, đáy ao thuần dùng cát vàng trải làm đất.

Vàng bạc, lưu ly, pha lê hiệp thành những thềm, đường ở bốn bên ao; trên thềm đường có lầu gác cũng đều nghiêm sức bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não.

Trong ao có hoa sen lớn như bánh xe: hoa sắc xanh thời ánh sáng xanh, sắc vàng thời ánh sáng vàng, sắc đỏ thời ánh sáng đỏ, sắc trắng thời ánh sánh trắng, mầu nhiệm thơm tho trong sạch…

Xá Lợi Phất! Lại trong cõi nước của Đức Phật đó, thường trổi nhạc trời, đất bằng vàng ròng, ngày đêm sáu thời rưới hoa trời mạn đà la.

Chúng sanh trong cõi đó thường vào lúc sáng sớm, đều lấy đãy hoa đựng những hoa tốt đem cúng dường mười muôn ức Đức Phật ở phương khác, đến giờ ăn liền trở về bổn quốc ăn cơm xong đi kinh hành…

Xá Lợi Phất! Trong cõi nước của Đức Phật đó, gió nhẹ thổi động các hàng cây báu và động mành lưới báu, làm vang ra tiếng vi diệu, thí dụ như trăm nghìn thứ nhạc đồng một lúc hòa chung.

Người nào nghe tiếng đó tự nhiên đều sanh lòng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Xá Lợi Phất! Cõi nước của Đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy…

Xá Lợi Phất! Đức Phật đó và nhân dân của Ngài sống lâu vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nên hiệu là A Di Đà…

Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bực bất thối chuyển”.

2. Trích Kinh Vô Lượng Thọ:

“Cõi nước của Đức Phật ấy, tự nhiên thất bảo: vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não hiệp làm thành đất rộng lớn vô hạn. Bảy báu ấy xen lẫn nhau chói sáng đẹp lạ trang nghiêm thanh tịnh hơn cả những tinh túy châu bảo của tất cả thế giới. Thất bảo ấy như thất bảo của cung trời thứ sáu.

Lại quốc độ ấy không có núi Tu Di, núi Kim Cương, núi Thiết Vi, tất cả các núi, cũng không có biển lớn, biển nhỏ, sông ngòi hang giếng. Do thần lực của Phật, ai muốn thấy thì được thấy, quốc độ ấy cũng không có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, không có bốn mùa xuân hạ thu đông. Chẳng lạnh chẳng nóng, thường ôn hòa điều thích…

Ðức Phật dạy rằng: Nầy A Nan! Ðức Phật Vô Lượng Thọ oai thần quang minh tối tôn đệ nhất, quang minh của chư Phật chẳng bằng. Quang minh của Ngài hoặc chiếu trăm thế giới, ngàn thế giới, nhẫn đến chiếu suốt hằng sa thế giới chư Phật ở Phương Ðông, chín phương kia cũng vậy…

Lại nầy A Nan! Ðức Phật Vô Lượng Thọ thọ mạng dài lâu chẳng nói kể được. Ông biết không, giả sử vô lượng chúng sanh ở trong thế giới mười phương đều được thân người và đều làm cho thành tựu bực Thanh Văn, Duyên Giác đồng hội họp thiền định nhứt tâm hết sức trí huệ của họ trải năm ngàn muôn kiếp cùng suy tính số năm kiếp thọ mạng dài lâu của đức Phật ấy cũng chẳng biết cùng tận được.

Chúng Bồ Tát, Thanh Văn và hàng thiên nhơn ở quốc độ An Lạc ấy thọ mạng dài lâu cũng như vậy, chẳng phải tính đếm hay dùng thí dụ mà biết được…

Lại nầy A Nan! Trong cõi nước An Lạc, những cây bảy báu đầy khắp cả nước: những cây vàng, cây bạc, cây lưu ly, cây pha lê, cây san hô, cây mã não, cây xa cừ. Hoặc có những cây hai thứ báu, ba thứ báu, nhẫn đến bảy thứ báu hiệp chung làm thành…

Này A Nan! Ðế Vương trong đời có trăm ngàn âm nhạc, từ Chuyển Luân Thánh Vương nhẫn đến cõi trời thứ sáu Ðại Tự Tại Thiên, âm nhạc tuần tự hơn nhau ngàn ức muôn lần.

Muôn thứ âm nhạc trên Trời Ðại Tự Tại chẳng bằng một thứ âm thanh nơi những cây bảy báu ở nước An Lạc của đức Vô Lượng Thọ Phật, âm thanh nầy còn hơn ngàn ức lần.

Cõi nước An Lạc cũng có muôn thứ tự nhiên âm nhạc. Tiếng nhạc ấy không tiếng nào chẳng phải là tiếng pháp trong trẻo rõ ràng vi diệu hòa nhã, là đệ nhứt trong những âm thanh ở các thế giới mười phương.

Ở nước An Lạc, những giảng đường, tinh xá, cung điện, lâu đài đều toàn bảy báu trang nghiêm tự nhiên hóa thành. Lại còn có chơn châu, minh nguyệt châu, châu ma ni, và các châu báu làm thành dây hoa giăng che phía trên nhà.

Bốn phía nhà có những ao tắm bằng bảy báu hoặc rộng mười do tuần hoặc rộng hai mươi, ba mươi, nhẫn đến hoặc rộng trăm ngàn do tuần, ngang rộng sâu cạn đều riêng một thứ. Trong ao, nước bát công đức lặng đầy trong thơm, mùi vị như cam lộ…

Trên bờ những ao tắm ấy, có cây chiên đàn hoa lá rũ rợp mùi thơm khắp nơi.

Những hoa sen xanh, những hoa sen vàng, hoa sen đỏ, hoa sen trắng cõi trời màu nào ánh sáng màu ấy đẹp sáng che trên mặt nước.

Chúng Bồ Tát, Thanh Văn và trời, người nước ấy lúc vào ao báu, nếu ý muốn nước ngập bàn chân, thì nước ngập bàn chân, ý muốn nước ngập gối thì nước ngập gối, ý muốn nước đến lưng thì nước đến lưng, ý muốn nước đến cổ thì nước đến cổ, ý muốn nước xối trên thân thì nước liền tự nhiên xối trên thân, ý muốn nước trở lại như cũ thì nước trở lại như cũ, điều hòa ấm mát tự nhiên theo đúng ý muốn của người tắm. Tắm xong, thân thể thơ thới, tinh thần cởi mở, phiền não tiêu trừ trong sạch sáng suốt nhẹ nhàng như là không có thân.

Các báu ở đáy ao chói suốt sâu bao nhiêu cũng chiếu thấu lên trên.

Sóng gợn lăn tăn an tường lan đi chẫm rãi không mau không chậm, tự nhiên vang lên vô lượng âm thanh vi diệu, tùy theo người đáng nên nghe thế nào thì đều được nghe:

Hoặc nghe tiếng niệm Phật, hoặc nghe tiếng diệu pháp, hoặc nghe tiếng ca ngợi Bồ Tát Tỳ Kheo Tăng, hoặc nghe tiếng tịch tịnh, hoặc nghe tiếng không vô ngã, hoặc nghe tiếng đại từ bi, hoặc nghe tiếng Ba la mật, tiếng thập lực, tiếng vô úy, tiếng pháp bất cộng, tiếng thần thông, tiếng trí huệ, tiếng vô sở tác, tiếng bất sanh bất diệt, tiếng vô sanh nhẫn, cho đến tiếng cam lộ quán đảnh, và những tiếng diệu pháp khác.

Những âm thanh như vậy đến xứng theo ý người nghe làm cho vui mừng vô lượng, thuận theo nghĩa ly dục thanh tịnh chơn thiệt tịch diệt, thuận theo Tam bảo, lực, vô úy, pháp bất cộng, thuận theo đạo sở hành của các bực Bồ Tát, Thanh Văn.

Nước An Lạc ấy không có tên tam đồ khổ nạn, chỉ có âm thanh vui thích tự nhiên, vì thế nên nước ấy được tên là An Lạc.

Nầy A Nan! Nơi quốc độ An Lạc của đức Vô Lượng Thọ Phật, những người sanh về đó có đủ sắc thân thanh tịnh, các âm thanh vi diệu, thần thông công đức như vậy. Cung điện của họ ở, những thứ y phục, uống ăn, hoa hương và đồ trang nghiêm đều như là những vật ở cung Trời Ðại Tự Tại thứ sáu.

Người nước ấy muốn ăn, chén bát bảy báu tự nhiên hiện ra, những là chén bát bằng vàng, bạc, lưu ly, xa cừ, mã não, san hô, hổ phách, minh nguyệt, chơn châu đều theo đúng ý muốn mà hiện đến, thức uống ăn trăm vị thơm ngon tự nhiên đầy trong chén bát ấy.

Dầu cho những thức uống ăn như vậy mà không có ai ăn. Chỉ thấy sắc ngửi mùi ý cho là ăn thì liền tự nhiên no đủ, thân tâm nhu nhuyến không hề tham luyến. Xong rồi tất cả biến mất, đến giờ lại hiện ra.

Nầy A Nan! Cõi nước của đức Phật ấy thanh tịnh an ổn khoái lạc vi diệu kế đạo vô vi Niết bàn…

Nầy A Nan! Ở nước An Lạc, trời người có những y phục, uống ăn, hoa hương, chuỗi ngọc, phan, lọng, âm thanh vi diệu, cung điện, nhà cửa, lâu đài đều cân xứng theo thân hình cao thấp lớn nhỏ của họ. Hoặc một báu, hai báu, nhẫn đến vô lượng thứ báu tùy theo ý họ muốn mà hiện đến.

Nước ấy lại có gấm lụa vi diệu trải trên đất báu, trời người nước ấy đi trên đó.

Nước An Lạc ấy được giăng che với vô lượng màng lưới báu bằng chỉ vàng xỏ chơn châu và trăm ngàn thứ châu báu trân diệu đẹp lạ xen lẫn trang nghiêm. Bốn phía thòng rũ những cái linh báu. Màu sắc, ánh sáng rất mực nghiêm lệ.

Gió công đức tự nhiên thổi động nhẹ. Gió đó điều hòa, chẳng lạnh chẳng nóng, ấm mát dịu dàng thổi đến màng lưới báu và những cây báu phát ra vô lượng pháp âm vi diệu, thoảng phất muôn thứ hương thơm công đức ấm áp. Ai được nghe thì phiền não trần lao tự nhiên chẳng phát khởi. Gió chạm đến thân thì đều được khoái lạc như Tỳ Kheo nhập diệt tận định.

Lại gió thổi hoa rơi khắp mọi nơi trong nước ấy, theo màu hoa có thứ lớp chẳng tạp loạn. Những hoa ấy mềm dịu chói sáng hơi thơm ngào ngạt. Chân đi giẫm lên hoa lún xuống bốn tấc, vừa dở chân hoa trở lại như cũ. Việc dùng của hoa đã xong, đất tự nứt ra, hoa theo đó ẩn mất sạch hết không còn sót. Tùy theo thời tiết, gió thổi rải hoa rơi trải mặt đất báu ngày đêm sáu lần như vậy.

Lại có những hoa sen báu khắp cả nước ấy. Mỗi đóa hoa sen báu có trăm ngàn ức cánh, vô lượng màu sắc chói sáng. Hoa sắc xanh ánh sáng xanh, hoa sắc trắng ánh sáng trắng, vàng đỏ tím huyền, màu nào sáng ấy rực rỡ hơn cả mặt trời, mặt trăng. Trong mỗi đóa hoa sen phát ra ba mươi sáu trăm ngàn ức tia sáng, trong mỗi tia sáng hiện ra ba mươi sáu trăm ngàn ức Phật thân màu vàng tử kim đủ những tướng tốt. Mỗi Đức Phật lại phóng trăm ngàn ánh sáng khắp vì mười phương mà nói pháp vi diệu. Chư Phật ấy đều gầy dựng vô lượng chúng sanh ở nơi chánh đạo…

Nầy A Nan! Bồ Tát nước An Lạc thừa oai thần của Đức Vô Lượng Thọ Phật, khoảng thời gian một bữa ăn, đi đến vô lượng thế giới mười phương cung kính cúng dường chư Phật Thế Tôn, theo ý nghĩ của họ, những món cúng dường như hoa, hương, kỹ nhạc, y phục, phan lọng, vô số vô lượng thứ tự nhiên hóa hiện ra, tất cả đều trân quý vi diệu thế gian chẳng có được. Chư Bồ Tát ấy liền đem rải lên cúng dường chư Phật và chư Bồ Tát Thanh Văn. Những thứ ấy ở trên không hóa thành lọng hoa xinh đẹp sáng chói tỏa hương thơm khắp nơi. Lọng hoa ấy chu vi bốn trăm dặn, rồi lần lần lớn gấp bội cho đến trùm khắp cõi Ðại Thiên, sau đó tuần tự ẩn mất.

Chư Bồ Tát đều vui mừng thăng lên hư không đồng tấu thiên nhạc, dùng âm thanh vi diệu ca ngợi công đức của chư Phật, lắng nghe kinh pháp vui mừng vô lượng. Cúng dường chư Phật xong, bỗng nhiên nhẹ nhàng bay về bổn quốc An Lạc vẫn còn trước giờ ăn.

Nầy A Nan! Lúc đức Vô Lượng Thọ Phật ban pháp ngữ cho hàng Trời, Người, Thanh Văn, Bồ Tát thì đều vân tập tại thất bửu giảng đường. Thính chúng được nghe diệu pháp không ai là chẳng khai ngộ vui mừng. Liền đó bốn phương tự nhiên gió nhẹ thổi động những cây thất bửu phát ra ngũ âm. Vô lượng hoa đẹp theo gió bay tứ tán để cúng dường bất tuyệt.

Tất cả hàng chư Thiên đều mang trăm ngàn thứ hoa hương cõi trời và muôn thứ kỹ nhạc trời cúng dường Đức Phật ấy cùng Bồ Tát, Thanh Văn. Rải hoa hương khắp nơi, hòa tấu âm nhạc, chư Thiên hàng hàng lớp lớp trước sau qua lại, vẹt tránh lẫn nhau. Trong lúc ấy, tất cả đều sung sướng khoái lạc chẳng thể nói được”.

 

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐƯỢC SANH VỀ CÕI TÂY PHƯƠNG CỰC LẠC

Muốn được sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc, người niệm Phật phải có đủ ba điều kiện, thường gọi là Tư Lương Tịnh Độ. Ba điều kiện này là Tín, Hạnh và Nguyện. Ba điều này rất quan trọng, giống như kiềng ba chân, thiếu một chân thì không đứng vững được. Cũng giống như người đi đường, chuẩn bị một chuyến đi xa mà không có tư lương hay thiếu tư lương thì không thể đi được, nếu có đi thì cũng không đến nơi. Nên trước khi đi phải chuẩn bị những thứ cần thiết như tiền bạc, áo quần, thức ăn v.v… Người tu Tịnh Độ cũng vậy muốn được vãng sanh về Cực Lạc thì phải đủ ba điều kiện Tín, Hạnh và Nguyện. Ba điều kiện này không có, thì dù có tu cũng chỉ tạo duyên phước lành mà thôi chứ không thể vãng sanh.

1. Tín

Tín là lòng tin, đức tin. Lòng tin rất quan trọng, làm một việc gì mà ta không có lòng tin thì sự việc sẽ không thành công, tại sao vậy? Vì ta không tin nên ta không làm, nếu có làm đi nữa thì chỉ làm qua loa, làm lấy lệ thì làm sao mà thành công được.

Người tu Tịnh Độ cũng vậy, chúng ta phải có niềm tin ở pháp môn mình đang tu. Ta phải có đức tin chắc chắn không phân vân, nghi ngờ, do dự dù có người bài bác, dụ dỗ, xuyên tạc hay dùng tiền bạc, danh vọng, sức mạnh, quyền lực để ép buộc chúng ta bỏ niềm tin này ta cũng không bỏ, cho dù có mất mạng. Tin như vậy mới gọi là đức tin chắc chắn, đức tin bất động không có gì lay chuyển. Chúng ta có đức tin như vậy thì lo gì sự tu tập không thành công, lo gì không vãng sanh Cực Lạc.

Lòng tin cũng có nhiều khía cạnh. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu những khía cạnh của lòng tin.

a. Tin Phật

Thứ nhất, chúng ta tin Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Ngài là bậc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác có trí huệ cao siêu, tâm từ bi vô hạn. Trong vũ trụ hư không này không có gì Ngài không thấy, không biết. Với tâm từ bi bao la rộng lớn, thấy sanh linh chìm đắm đau khổ trong biển khổ sanh tử luân hồi, nên Ngài thị hiện ra đời, đem pháp mầu chỉ dạy chúng sanh, để chúng sanh tu tập thoát khổ được vui. Đặc biệt, Ngài đem Pháp Môn Tịnh Độ thù thắng chỉ dạy cho chúng ta tu tập một đời giải thoát, sớm thành Phật đạo. Chúng ta tin Đức Phật Thích Ca, tin giáo pháp của Ngài, vì Ngài là bậc chân thật ngữ không bao giờ nói dối. Ta tin Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni tất nhiên là tin Pháp Môn Tịnh Độ mà Ngài nói ra.

Thứ hai, chúng ta tin Đức Phật A Di Đà. Với tấm lòng từ bi bao la rộng lớn, Ngài phát 48 đại nguyện thành lập một thế giới trang nghiêm, thù thắng, vi diệu, an lạc để độ chúng sanh. Ta tin Đức Phật A Di Đà là vị Phật có thật, vị Phật được Đức Phật Bổn Sư giới thiệu, Ngài làm giáo chủ ở Cõi Tây Phương Cực Lạc. Ngài ở Cực Lạc nhưng Ngài thường hóa thân đến khắp mười phương thế giới để độ chúng sanh, tiếp dẫn người niệm Phật về thế giới của Ngài. Chúng ta có niềm tin chắc thật nơi Đức Phật A Di Đà, tâm luôn hướng về Ngài cầu Ngài gia hộ và tiếp dẫn chúng ta về thế giới của Ngài.

b. Tin pháp

Tin pháp là tin giáo pháp Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni nói ra. Giáo pháp này có công năng cứu khổ chúng sanh, đưa chúng sanh từ bến mê đến bờ giải thoát, giác ngộ. Giáo pháp của Phật được kết tập lại thành ba tạng là Kinh, Luật và Luận. Trong tạng Kinh có những Kinh dạy về Pháp Môn Tịnh Độ như: Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ v.v… Chúng ta tin giáo pháp của Phật đương nhiên là tin Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh Quán Vô Lượng Thọ.

Chúng ta tin cõi Tây Phương Cực Lạc là có thật, một thế giới trang nghiêm, thanh tịnh được Đức Phật diễn tả rất rõ trong Kinh A Di Đà và Kinh Vô Lượng Thọ.

Trong Kinh Đức Phật diễn tả cõi Tây Phương Cực Lạc có những sự trang nghiêm, thù thắng như: Ở đây không có tam đồ ác đạo, không có cảnh sanh tử luân hồi, đau khổ. Mọi người toàn hưởng những điều vui. Tất cả mọi thứ như nhà cửa, ăn mặc đều tùy tâm ý của người mà có, dung sắc rất đẹp, ai cũng có thần thông, trí huệ. Ta tin cõi Tây Phương Cực Lạc có những sự thù thắng này, và tin mình ứng dụng, tu tập pháp này sẽ được vãng sanh về cõi Cực Lạc.

Chúng ta tin Pháp Môn Tịnh Độ là pháp dễ tu, dễ chứng, là pháp môn tu tắt một đời có thể đưa chúng ta từ phàm phu đến quả vị Thánh. Chúng ta tin niệm Phật A Di Đà thì sẽ được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, tin niệm Phật sẽ được Phật tiếp dẫn, được vãng sanh, giải thoát, sớm thành Phật. Chúng ta phải có niềm tin chắc thật như vậy, và quyết chí hạ thủ công phu tu tập, quyết một đời này vãng sanh Cực Lạc không còn do dự, chần chờ.

c. Tin bản thân mình

Trong kinh Đức Phật dạy rằng: “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành”. Khi thành đạo dưới cội Bồ Đề Đức Phật cũng thốt lên rằng: “Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng, trí huệ Như Lai”. Đức Phật đã khẳng định như vậy tại sao chúng ta lại tự khinh mình.

Vậy chúng ta tin mình có Chân Tâm, Phật Tánh. Tin mình tu tập sẽ thành Phật. Tin mình có sức mạnh, ý chí dũng mãnh. Tin mình sẽ vượt qua được những khó khăn trở ngại. Chúng ta xác quyết niềm tin như vậy và bắt đầu hạ thủ công phu tu tập, quyết buông bỏ tất cả thế gian, tâm chuyên nhất vào sự tu tập, hàng ngày đi, đứng, nằm ngồi đều niệm Phật, tâm chuyên nhất vào danh hiệu Đức Phật A Di Đà không hề xao lãng. Ta tin được như vậy, làm được như vậy thì lo gì sự tu tập không thành công, không giải thoát, không vãng sanh Cực Lạc.

Lại còn hai khía cạnh đức tin nữa là tin Lý và tin Sự.

a. Tin lý

Các vị Tổ Sư thường nói: “Tự Tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”. Thật vậy, tự tánh của chúng sanh vốn là Phật. Chân tâm, bản tánh của chúng sanh đồng với Đức Phật Thích Ca, Đức Phật A Di Đà không khác. Bây giờ chúng ta tin chân tâm của mình chính là Phật A Di Đà của mình.

Tất cả mọi loài, mọi cảnh giới đều xuất phát từ tâm. Tâm ô uế, bất tịnh, ác độc sẽ chiêu cảm cảnh giới địa ngục, ngạ qủy, súc sanh. Tâm hiền lành, lương thiện sẽ được quả báo trời, người. Tâm thanh tịnh, tâm đại từ, đại bi sẽ hưởng phúc báu ở cảnh giới Niết Bàn giải thoát hay miền Cực Lạc an vui. Nói chung, mọi loài, mọi cảnh giới trang nghiêm hay bất tịnh, đau khổ hay an lạc đều bắt nguồn từ tâm.

Cõi Tây Phương Cực Lạc cũng chính từ tâm nguyện đại từ, đại bi của Đức Phật A Di Đà hiện ra. Ngài thương chúng sanh chìm đắm trong sông mê, biển khổ nên phát ra 48 lời đại nguyện thành lập Tịnh Độ để cứu độ chúng sanh.

Tin lý là chúng ta tin tâm mình, tin tất cả đều từ tâm biến hiện, địa ngục cũng từ tâm mà cực lạc cũng từ tâm. Vậy muốn cho mình được an lạc, giải thoát thì chúng ta phải quay trở về Chơn tâm, trở về Tự tánh Di Đà của mình. Một khi chúng ta đã trở về Chơn tâm, Tự tánh Di Đà của chính mình thì đó chính là Tịnh Độ, là Cực Lạc.

b. Tin sự

Tuy nói: “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ”, nhưng nhìn lại mình, ta vẫn là phàm phu, vẫn còn mê muội, vẫn còn ở trong cõi ngũ dục (tài sắc, danh lợi, ăn uống, ngủ nghỉ), lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp trần). Chúng ta không thể ngồi không mà thành Tổ, thành Phật, không thể ngồi không mà hưởng cảnh Niết Bàn, Cực Lạc. Từ vô thỉ kiếp đến nay ta bị vô minh, phiền não, nghiệp chướng che đậy, trói buộc, đọa đày làm cho trôi lăn, đau khổ trong sanh tử luân hồi. Bây giờ, muốn giải thoát, giác ngộ, ta phải tẩy trừ chúng, muốn tẩy trừ chúng phải siêng năng, tinh tấn tu tập.

Trong tám vạn bốn ngàn pháp môn tu tập, Pháp Môn Tịnh Độ là pháp môn thù thắng, vi diệu dễ tu, mau chứng, sớm giải thoát, sớm thành Phật. Chúng ta tin tưởng và ứng dụng tu tập, siêng năng tinh tấn niệm Phật thì sẽ thành công, sẽ được vãng sanh Cực Lạc.

Nói: “Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ” nhưng thực sự mấy ai đã sống được với tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ của mình. Chúng ta đang sống trong đối đãi, sống trong thế giới ngũ trược khổ đau này. Thân chúng ta phải chịu cảnh sanh, lão, bệnh, tử đau khổ. Thế giới này lắm điều tai họa như thiên tai, chiến tranh v.v… Đức Phật A Di Đà thương chúng sanh, nên thành lập cõi Tịnh Độ ở phương Tây, để tiếp rước chúng sanh về thế giới của Ngài hưởng sự an lạc, giải thoát. Chúng ta phải tin Đức Phật A Di Đà, tin cõi Tây Phương Cực Lạc, và niệm Phật phát nguyện vãng sanh, để sớm thoát kiếp khổ đau sanh tử luân hồi này.

Chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị Thánh nhân, chư Đại Đức Tăng Ni luôn luôn tha thiết kêu gọi chúng ta tu tập, niệm Phật để được vãng sanh về Cực Lạc.

Các ngài còn nói: “Nếu như chúng sanh cố chấp mà tu, thì thà chấp Sự mà tu còn tốt hơn chấp Lý. Vì người chấp Sự, họ thấy đây kia đối đãi, thấy thiện thấy ác, thấy có tu tập, thấy cõi Ta Bà đau khổ, cõi Cực Lạc an vui, do thấy, như vậy nên cố gắng tu tập, tránh ác làm lành, siêng năng niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh Độ”.

Lại các Ngài sợ người tu chấp Lý, làm chướng ngại sự tu tập, sự vãng sanh nên các Ngài dạy tiếp: “Người học rộng biết nhiều, suốt ngày tìm chương trích cú, lại đi tìm học những pháp cao siêu rồi cho mình là hay giỏi, tu tập hơn người. Đâu bằng các ông già bà cả chỉ biết tin tưởng niệm một câu Nam Mô A Di Đà Phật, cầu vãng sanh Tịnh Độ. Tuy đời này họ là phàm phu cái gì cũng không biết, nhưng đời sau họ là Thánh Nhân, là Bồ Tát làm thầy trời người. Còn người học rộng biết nhiều, rồi dương dương tự đắc, khinh khi mọi người, xem thường người ít học. Đây chính là nhân làm chướng ngại sự tu tập, giải thoát của chính mình”.

Người chấp Lý, đây là một bệnh rất nặng hết phương cứu chữa. Suốt ngày họ nói Chơn Tâm, Phật Tánh, nói những giáo lý cao siêu nhưng chỉ nói trên đầu môi chót lưỡi. Nếu ai đụng tới lòng tự ái thì tham, sân, si nổi lên đùng đùng. Có người khuyên niệm Phật thì họ nói: tự tánh của ta là Phật A Di Đà, Chơn Tâm của ta là Tịnh Độ, là Cực Lạc cần gì phải niệm Phật cho mệt. Những người này, họ tự đóng, tự ngăn cản con đường tu tập, con đường vãng sanh của chính mình.

2. Hạnh

Hạnh là thực hành, là ứng dụng tu tập. Sau khi chúng ta hiểu và tin Pháp Môn Tịnh Độ rồi, chúng ta bắt đầu ứng dụng tu tập, nghĩa là hàng ngày, đi, đứng, nằm, ngồi đều chuyên tâm niệm Phật.

Hình thức tu tập có nhiều cách như: lễ Phật, sám hối, tụng kinh, niệm Phật, tĩnh tọa, bố thí, cúng dường, làm tất cả việc lành v.v…

Hạnh cũng được chia làm hai là Chánh Hạnh và Trợ Hạnh.

a. Chánh Hạnh

Chánh là phần chính yếu, quan trọng, là gốc. Chánh Hạnh của người tu Pháp Môn Tịnh Độ là chuyên tâm niệm Phật. Hàng ngày, đi, đứng, nằm ngồi tất cả mọi thời, mọi oai nghi, cử chỉ đều phải niệm Phật. Ở chỗ sạch sẽ, thanh tịnh, trang nghiêm thì niệm lớn. Ở chỗ ô uế, bất tịnh thì niệm nhỏ, niệm thầm. Nói chung, tất cả mọi thời đều phải luôn luôn niệm Phật. Đây là công hạnh tu tập chính yếu của hành giả tu tập Pháp Môn Tịnh Độ.

Như bữa cơm, cơm là chính, các món ăn là phụ. Nếu bữa cơm mà không có cơm thì không gọi là bữa cơm. Hành giả tu Pháp Môn Tịnh Độ cũng vậy, việc chính yếu là niệm Phật, sau đó chúng ta mới làm mọi việc thiện để bổ sung cho công phu niệm Phật của mình mau thành tựu. Nếu như suốt ngày chúng ta chỉ chú trọng vào công việc từ thiện bên ngoài, mà không niệm Phật thì không phải là hành giả tu tập Pháp Môn Tịnh Độ.

b. Trợ Hạnh

Trợ là phụ, giúp cho phần chánh. Trợ Hạnh là những công hạnh tu tập phụ giúp cho phần Chánh Hạnh sớm thành công, sớm có kết quả. Trợ Hạnh là những việc làm lành như: cúng dường, bố thí, phóng sanh, giúp đỡ mọi người v.v… Nói chung là làm tất cả việc lành, việc thiện, rồi đem những thiện căn, phước đức này hồi hướng cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Hành giả tu tập Pháp Môn Tịnh Độ cần phải phân biệt, nhận định được đâu là Chánh Hạnh, đâu là Trợ Hạnh. Chúng ta phải chú tâm, đặt nặng vào phần Chánh Hạnh. Nếu chúng ta biết kết hợp vừa làm tất cả việc lành, nhưng trong tâm vẫn luôn niệm Phật, tâm vẫn không khi nào rời danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật, thì đây là công hạnh thù thắng, một việc làm mà lợi cả hai, Chánh Trợ đầy đủ thì lo gì mà không vãng sanh.

3. Nguyện

Nguyện là mong muốn, ao ước, hướng đến. Người tu Tịnh Độ phải có tâm mong muốn, ao ước sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Chúng ta thấy cõi Ta Bà đầy rẫy sự dơ xấu như: bùn lầy, đất đá, chông gai, núi non hiểm trở. Thế giới này lắm điều tai họa, nguy hiểm như: Bão tố phong ba, lũ lụt, động đất, núi lửa, chiến tranh. Lại còn  nhiều thứ ác độc như: rắn, rít, cọp, sói, trộm, cướp v.v... Trong Kinh Đức Phật ví dụ thế giới này như ngục tù, nhà lửa.

Thân người thì ô uế, bất tịnh ngày đêm rỉ tiết ra những thứ hôi thối, bất tịnh như: máu, mủ, mồ hôi, tiểu tiện v.v…, lại phải chịu cảnh sanh, già, bệnh, chết  làm đau khổ. Tâm thì đầy rẫy phiền não, vô minh, điên đảo, vọng tưởng, nên khởi lên tham, sân, si gây đau khổ cho mình và người.

Chúng ta thấy thế giới, con người ở đây như vậy, nên ta nhàm chán thế giới này, nhàm chán thân bất tịnh này. Tâm lúc nào cũng tha thiết mong muốn cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc, như con thơ lạc mẹ, khi nào cũng mong muốn tìm về với mẹ.

Hành giả tu Pháp Môn Tịnh Độ, phải có tâm tha thiết, mong muốn sanh về Tây Phương Cực Lạc như vậy. Mỗi khi công phu niệm Phật, hay làm một việc lành gì, ta liền đến bàn Phật, trước tôn tượng Đức Phật A Di Đà. Nếu trong nhà không có thờ Phật thì ta xoay về hướng Tây mà tha thiết phát nguyện. Nguyện rằng: “Con tên…  pháp danh…, con nguyện đem công đức niệm Phật, công đức làm việc lành này hồi hướng được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Ngưỡng mong Đức Phật A Di Đà tiếp độ, tiếp dẫn con về Tây Phương Cực lạc”. Ta có tâm tha thiết, mong muốn như vậy, có những lời phát nguyện như vậy thì sẽ tương ưng, phù hợp, chiêu cảm với bản nguyện độ sanh, tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà. Đức Phật A Di Đà sẽ gia hộ, hộ niệm chúng ta. Đến khi lâm chung, Đức Phật A Di Đà và Thánh Chúng hiện ra, tiếp dẫn chúng ta về Cực Lạc.

Nếu người tu Tịnh Độ mà không có tâm tha thiết, mong muốn cầu sanh về Tịnh Độ, không phát nguyện sanh về Cực Lạc, thì người đó dù niệm Phật nhiều cũng không vãng sanh, chỉ hưởng phước báu nhân thiên mà thôi.

Để hiểu rõ về Tín, Hạnh và Nguyện của hành giả tu tập Pháp Môn Tịnh Độ, chúng tôi đưa ra một ví dụ cụ thể sau:

Chiếc xe hoàn hảo phải đầy đủ các bộ phận gồm:

Xe phải có thân xe, thân xe vững chắc mới chở người, chở vật được. Cũng vậy, Tín như thân xe. Có tin, chúng ta mới tu tập, có tu tập mới có kết quả.

Xe phải có động cơ và bánh xe. Xe không có động cơ và bánh thì không thể chạy. Cũng vậy, Hạnh như động cơ và bánh xe. Chúng ta có hành trì tu tập thì mới thoát khỏi sanh tử luân hồi khổ đau, mới được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, nếu chỉ có tin mà không ứng dụng tu tập cũng không được vãng sanh.

Xe đã có thân xe, động cơ và bánh xe. Nhưng không có tay lái (vô lăng) thì rất  khó chạy, khó điều khiển. Xe có tay lái thì rất dễ chạy, tùy theo người lái, xe sẽ chạy đến nơi muốn đến. Cũng vậy, người tu Tịnh Độ phải có Nguyện, Nguyện như tay lái, như người dẫn đường. Niệm Phật mà không có Nguyện thì khó mà vãng sanh Tịnh Độ.

Qua ví dụ chiếc xe, chúng ta thấy, một chiếc xe để chạy được an toàn, đến nơi, đến chốn thì xe phải có đầy đủ các bộ phận như đã nói trên.

Người tu Tịnh Độ cũng vậy, muốn được vãng sanh chắc chắn thì phải có đủ ba đều kiện là Tín, Hạnh và Nguyện, thiếu một trong ba đều kiện này thì khó mà vãng sanh hay không được vãng sanh.

 

PHƯƠNG PHÁP TU TẬP PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

Phương pháp tu tập Pháp Môn Tịnh Độ là niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, cầu vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Niệm Phật có rất nhiều phương pháp, nhiều cách thức niệm khác nhau. Chúng ta sẽ tìm hiểu bốn Phương Pháp Niệm Phật căn bản.

Trước khi nói đến Phương Pháp Niệm Phật, chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa hai chữ “Niệm Phật”.

Chữ “Niệm” nghĩa là nhớ, nghĩ. Ví như người mẹ có một đứa con thơ duy nhất, đứa con ngoan hiền, học giỏi lại hiếu thảo với cha mẹ. Không may người con bị thất lạc làm cho người mẹ ngày đêm thương nhớ, luôn nghĩ đến con. Người mẹ tìm mọi cách, mọi phương tiện để tìm kiếm con. Nếu tìm chưa ra thì mẹ ăn không ngon, ngủ không yên.

Chữ  “Phật” có ba nghĩa là Tự giác, Giác tha và Giác hạnh viên mãn.

Tự giác: Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn, Ngài đã dứt sạch vô minh, phiền não, nghiệp chướng, không còn sanh tử luân hồi.

Giác tha: Giác tha là chỉ dạy, giáo hóa mọi loài chúng sanh. Chư Phật từ khi mới phát Bồ Đề Tâm cho đến ngày thành Phật, từ ngày thành Phật cho đến ngày nhập Niết Bàn, trong khoảng thời gian này, các Ngài luôn luôn làm hạnh lợi tha, giáo hóa, chỉ dạy chúng sanh bỏ ác làm lành, dạy chúng sanh tu tập để được giác ngộ như mình. Công hạnh lợi tha của chư Phật rất vĩ đại. Như Đức Phật A Di Đà, Ngài phát 48 lời đại nguyện làm lợi ích chúng sanh v.v…

Giác hạnh viên mãn: Nghĩa là công hạnh tu tập, công hạnh giáo hóa cứu độ chúng sanh các Ngài đã làm đầy đủ, viên mãn.

Hai chữ “Niệm Phật” nghĩa là nhớ, nghĩ đến Đức Phật. Chúng ta nhớ nghĩ đến công hạnh tu tập, nhớ nghĩ đến công đức, trí huệ, nhớ nghĩ đến hình tướng, danh hiệu Đức Phật. Như ta nhớ nghĩ Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, nhớ nghĩ Đức Phật Dược Sư v.v… Nhưng Phương Pháp Niệm Phật trong Pháp Môn Tịnh Độ là chuyên tâm, nhớ nghĩ đến Đức Phật A Di Đà, và cầu nguyện Ngài tiếp dẫn mình vãng sanh về thế giới Cực Lạc.

Sau đây là 4 Phương Pháp Niệm Phật căn bản:

1. Thật Tướng Niệm Phật

Thật Tướng là tướng chân thật. Tướng chân thật này là  Chân Tâm, Phật Tánh, là Tự Tánh Di Đà của mọi chúng sanh. Chúng ta ai cũng có Chân Tâm, Tự Tánh Di Đà của chính mình. Tự Tánh này thanh tịnh, sáng suốt, không sanh không diệt. Nếu bây giờ ta giác ngộ trở về sống với Chân Tâm, Phật Tánh, trở về sống với Tự Tánh Di Đà của mình thì sẽ giác ngộ, giải thoát. Đây là pháp Thật Tướng Niệm Phật.

Trong  Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật nói: “Chúng sanh thì “Bối giác hiệp trần”, còn Thánh Nhân thì “Bối trần hiệp giác”. Nghĩa là chúng sanh quay lưng, bỏ tánh giác của mình mà đi vào trong trần lao, khổ não. Còn Thánh Nhân thì ngược lại, các Ngài xả bỏ trần lao, trở về với tánh giác của mình. Kinh Pháp Hoa Đức Phật nói ví dụ: “Kẻ cùng tử”. Kẻ cùng tử bỏ cha trốn đi hơn năm mươi năm trôi nổi, khổ sở nơi xứ người. Kẻ cùng tử là chúng sanh.  Cha gã cùng tử là Đức Phật, là Chân Tâm, Phật Tánh của chúng sanh.

Chúng ta từ vô thỉ kiếp đến nay, do vô minh, điên đảo nhận lầm thân tâm (vọng tâm) này là thật, là của mình, nhận lầm ngoại cảnh là vật sở hữu của mình. Vì vậy mà ta bảo vệ, giữ gìn, lo cho thân này đủ thứ, tạo mọi điều kiện cho nó hưởng thụ. Lại còn bảo vệ, giữ gìn, gia tài sự nghiệp v.v… Do sự mê lầm, tham chấp này mà ta gây tạo vô số tội lỗi, nghiệp chướng, phiền não. Những phiền não, nghiệp chướng này lại dẫn chúng ta đi trong sanh tử, luân hồi. Nhưng sự thật thì thân tâm (vọng tâm), thế giới này là vô thường, sanh diệt, giả dối, hư vọng không thật. Chỉ có Chân Tâm, Phật Tánh, Tự Tánh Di Đà của mọi người mới chân thật, thường hằng. Bây giờ ta biết, giác ngộ được như vậy, ta quay trở về sống với Chơn Tâm, Phật Tánh thường hằng của mình, không chạy theo vọng trần hư dối nữa. Từ đây, ta đã chấm dứt động cơ, nguyên nhân tạo nghiệp, chấm dứt dòng sanh tử, luân hồi khổ đau.

2. Quán Tượng Niệm Phật

Pháp quán này, hành giả chọn một pho tượng, hay bức tranh Đức Phật A Di Đà thật trang nghiêm để trước mặt. Hàng ngày quán chiếu hình tượng Phật, quán cho đến khi không còn quán tượng nữa mà hình ảnh ấy vẫn hiện ở trong tâm, vậy là pháp quán thành công.

Tâm tính của chúng ta suốt ngày cứ lăng xăng, suy nghĩ, tính toán, mơ tưởng, tưởng tượng cảnh ngũ dục, lục trần, mơ tưởng những thứ mình yêu thích, tham luyến. Những tưởng tượng, mơ mộng này làm cho ta khổ sở, ăn không ngon, ngủ không yên. Chính những suy nghĩ, tính toán, tưởng tượng này dẫn chúng ta tạo tội lỗi, nghiệp chướng gây khổ đau cho mình và người.

Đức Phật thương xót dạy cho ta pháp Quán Tượng Niệm Phật. Hàng ngày ta chú tâm, quán chiếu, nhớ nghĩ  đến hình tượng Đức Phật A Di Đà. Ta quán chiếu  Đức Phật có hai điều lợi. Thứ nhất, tâm không còn suy nghĩ, tính toán, tưởng tượng chuyện thế gian, vậy là ta cắt đứt, tiêu diệt nguyên nhân, động lực tạo nghiệp sanh tử. Thứ hai, ta quán chiếu, nhớ nghĩ đến Đức Phật, mà Phật là Bậc đạo đức, từ bi, giác ngộ, giải thoát, thì chúng ta cũng sẽ huân tập những đức tánh tốt ấy. Trong Kinh Đức Phật dạy: “Chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật thì tương lai nhất định làm Phật”. Thế gian cũng có câu tục ngữ: “Gần mực thì đen, gần đen thì sáng”. Vậy hàng ngày, chúng ta quán Phật, niệm Phật đây là nhân đưa ta đến quả Phật trong tương lai.

3. Quán Tưởng Niệm Phật

Pháp quán này, có rất nhiều cách quán. Trong kinh Quán Vô Lương Thọ Đức Phật dạy 16 pháp quán như: quán mặt trời, đất, nước, cây báu, hoa sen ở thế giới Cực Lạc. Hoặc quán Bồ Tát Quan Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, Đức Phật A Di Đà v.v…

Nếu quán Phật, quán Đức Phật A Di Đà thân 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, 100 phước trang nghiêm, phóng hào quang rực rỡ, quán cho đến khi nào nhắm mắt, mở mắt đều thấy Phật, tâm khi nào cũng nhớ Phật, thấy Phật là pháp quán thành công.

Pháp Quán Tưởng Niệm Phật có rất nhiều lợi ích. Hiện tại thì đoạn trừ vọng tưởng, phiền não. Tương lai sẽ được vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc.

Để biết thêm về pháp quán tưởng, chúng ta tìm hiểu một đoạn trong Kinh Lăng Nghiêm Đức Phật dạy về tình, tưởng của chúng sanh như sau:

“- A Nan! Bản tánh của tất cả chúng sanh vốn chơn thật trong sạch, vì vọng kiến mà vọng sanh tập khí, do đó chia thành nội phần và ngoại phần.

- A Nan! Nội phần tức là phần trong của chúng sanh. Do lòng ái nhiễm phát khởi vọng tình, vọng tình tích chứa không thôi, sanh ra ái thủy, nên chúng sanh hễ nghĩ đến thức ăn ngon thì chảy nước miếng; nhớ đến người xưa, hoặc thương hoặc giận, thì chảy nước mắt, tham cầu của báu, trong tâm ham muốn, cả mình đều thấm nhuần nước tham; tâm tham dâm dục thì hai căn nam nữ tự nhiên chảy dịch. A Nan, những ái dục ấy dù khác, nhưng sự chảy nước là đồng, tánh nước thấm ướt chẳng lên được, tự nhiên sa đọa, gọi là Nội Phần.

- A Nan! Ngoại Phần tức là phần ngoài của chúng sanh. Do lòng khao khát phát ra vọng tưởng, vọng tưởng chứa mãi không thôi, sanh ra thắng khí. Nên chúng sanh hễ tâm giữ giới cấm thì cả thân nhẹ nhàng; tâm trì chú ấn thì cử chỉ hùng dũng, tâm muốn sanh cõi trời thì chiêm bao thấy bay lên, tâm nhớ cõi Phật, thì thắng cảnh thầm hiện, phụng sự Thiện Tri Thức thì tự khinh thân mạng. A Nan, những vọng tưởng dù khác, nhưng sự nhẹ nhàng bay lên là động, bay động chẳng chìm, tự nhiên vượt lên, gọi là Ngoại Phần.

- A Nan! Tất cả sanh tử tương tục trên thế gian, sống thì tùy thuận theo tập khí, chết thì biến đổi theo dòng nghiệp, đến lúc lâm chung, còn chút hơi ấm, các việc thiện ác của một đời đồng thời hiện ra, sống thì thuận, chết thì nghịch, hai tập khí giao xen lẫn nhau, thuần tưởng thì bay lên, ắt sanh cõi trời, nếu cái tâm bay ấy gồm cả phước đức, trí huệ và tịnh nguyện, thì tự nhiên tâm được mở mang, thấy tất cả Tịnh Độ với mười phương chư Phật, theo nguyện vãng sanh.

- Tình ít tưởng nhiều, nhẹ nhàng bay xa thì làm Phi Tiên, Đại Lực Quỷ Vương, Phi Hành Dạ Xoa, Địa Hành La Sát, dạo khắp cõi trời, chẳng gì ngăn ngại. Trong đó nếu có thiện tâm thiện nguyện, hộ trì Phật Pháp, hoặc hộ trì giới cấm và người trì giới; hoặc hộ trì thần chú và người trì chú; hoặc hộ trì thiền định, thành tựu pháp nhẫn, thì những hạng ấy được ở cạnh pháp tọa của Như Lai.

- Tình và tưởng bằng nhau, chẳng bay chẳng chìm, sanh nơi cõi người; tưởng sáng suốt thì thông minh, tình ám muội thì ngu độn.

- Tình nhiều tưởng ít, đọa vào súc sinh, nghiệp nặng thì làm loài có lông, nghiệp nhẹ thì làm loài có cánh.

- Bảy phần tình, ba phần tưởng, thì chìm dưới thủy luân, sanh nơi hỏa luân, thân làm ngạ quỷ, thọ cái khổ của lửa hồng, thường bị đốt cháy, dầu được uống nước cũng hóa thành lửa, nên nói bị nước hại, trải qua trăm ngàn kiếp, chẳng thể ăn uống.

- Chín phần tình, một phần tưởng, thì đọa dưới hỏa luân, thân vào giữa phong luân và hỏa luân, nghiệp nhẹ thì vào ngục Hữu Gián, nghiệp nặng thì vào ngục Vô Gián.

- Thuần tình thì chìm sâu vào ngục A Tỳ, nếu tâm chìm sâu ấy, có phỉ báng Đại Thừa, phá giới cấm của Phật, cuồng vọng thuyết pháp, hư tiêu tín thí, lạm nhận cung kính, hoặc phạm ngũ nghịch, thập trọng cấm, thì lại phải sanh khắp ngục A Tỳ mười phương”.

Qua đoạn Kinh Lăng Nghiêm ở trên, chúng ta thấy Đức Phật dạy. Ai nặng về tình, nghĩa là lòng tham lam ái nhiễm thì đi xuống, chìm đắm đau khổ trong cảnh địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh. Người nặng về tình thì cuộc sống, tâm tư của họ nghiêng về tình cảm hơn lý trí. Tình cảm nhiều thì hay phát sinh tham, sân và si nên họ dễ bị đọa. Ai nặng về tưởng, nghĩa là tư duy, quán chiếu, tưởng tượng, vậy nên tâm thức nhẹ nhàng đi lên sanh các cõi trời, nếu quán tưởng Phật thì sanh về Tịnh Độ. Người nặng về tưởng thì cuộc sống, tâm tư của họ nghiêng nặng, thiên về lý trí hơn tình cảm, do sống với lý trí nên họ ít tạo tội, vì vậy mà họ ít đọa vào các đường ác.

Hành giả tu pháp Quán Tưởng Niệm Phật. Chúng ta không cầu sanh cõi trời mà chỉ phát nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, thế giới của Đức Phật A Di Đà. Chúng ta thực hành như vậy thì phương pháp tu tập, tâm tư, nguyện vọng của ta tương ưng, phù hợp với hạnh nguyện độ tha, tiếp dẫn  của Đức Phật A Di Đà. Thì nhất định, chúng ta sẽ được vãng sanh, sẽ được Đức Phật A Di Đà và Thánh Chúng tiếp dẫn về Cực Lạc.

4. Trì Danh Niệm Phật

Chữ “Trì” nghĩa là nắm, giữ. Ví như cầm trứng, ta phải nắm kĩ không dám buông tay, nếu buông tay quả trứng sẽ rớt bể. Lại như kéo xe, khi xe xuống dốc, ta phải giữ lại để xe chạy từ từ, nếu không xe sẽ lao xuống dốc.

Pháp “Trì Danh Niệm Phật” là pháp trì niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà, nghĩa là trong tâm, miệng khi nào cũng niệm hồng danh sáu chữ Nam Mô A Di Đà Phật, hay bốn chữ A Di Đà Phật.

Trong các Pháp Niệm Phật, pháp Trì Danh Niệm Phật là pháp dễ tu, dễ thực hành, ai tu cũng được, lại mau có kết quả, bảo đảm cho sự vãng sanh. Chư Phật, chư Bồ Tát, chư vị Tổ Sư và các vị Hiền Nhân dạy Pháp Môn Tịnh Độ, khuyên người niệm Phật cầu vãng sanh Cực Lạc, các Ngài cũng dạy, khuyên mọi người thực hành pháp này. Pháp Trì Danh Niệm Phật là pháp phù hợp, tương ứng với hạnh nguyện, tâm nguyện độ tha, tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà. Trong bốn mươi tám đại nguyện của Đức Phật A Di Đà, nguyện thứ 18 Ngài phát nguyện rằng: “Ai hàng ngày tin ưa thế giới Cực Lạc, niệm danh hiệu Ngài từ một niệm đến mười niệm thì lâm chung Ngài sẽ tiếp dẫn về Tây Phương Cực Lạc”. Lại nữa, trong các kinh Đức Phật dạy người niệm Phật, phần nhiều Đức Phật dạy, khuyên người tu pháp Trì Danh Niệm Phật như: Kinh Vô Lượng Thọ, Kinh A Di Đà, Kinh Niệm Phật Ba La Mật v.v… Tiếp đến là Luận, sách của Chư Tổ cũng phần nhiều là dạy pháp Trì Danh Niệm Phật.

Pháp Trì Danh Niệm Phật là pháp rất quan trọng đối với hành giả tu Pháp Môn Tịnh Độ. Người tu Tịnh Độ niệm Phật cầu vãng sanh mà thực hành pháp Trì Danh Niệm Phật thì bảo đảm vãng sanh Cực Lạc.

Pháp Trì Danh Niệm Phật cũng có nhiều cách. Có 6 cách tiêu biểu:

4.1. Lễ Bái Niệm Phật

Cách này kết hợp vừa lễ Phật vừa niệm Phật. Có thể niệm một danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” lạy một lạy, hay niệm nhiều danh hiệu lạy một lạy tùy người hành trì. Cách Lễ Bái Niệm Phật này thể hiện lòng cung kính Đức Phật, thể hiện sự tha thiết, mong muốn vãng sanh Cực Lạc. Phương pháp này rất hay, làm cho hành giả sớm tiêu trừ tội lỗi, nghiệp chướng và cũng làm cho máu huyết lưu thông, gân cốt dẻo dai.

Buổi khuya, khi hành giả công phu niệm Phật, chúng ta nên lạy một trăm lẻ tám lạy. Buổi khuya lạy Phật thì có rất nhiều điều lợi; ta vừa công phu niệm Phật, cũng vừa sám hối nghiệp chướng, lại vừa vận động thân thể thay cho thời tập thể dục buổi sáng, làm cho thân thể mạnh khỏe, ít bệnh. Thật là “Nhất cử lưỡng lợi” vậy.

4.2. Tràng Chuỗi Niệm Phật

Hành giả vừa lần chuỗi vừa niệm Phật. Có thể niệm một danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” lần một hạt, hay niệm một chữ lần một hạt, tùy theo mỗi người.

Chúng ta niệm Phật, cốt yếu là niệm trong tâm chứ không phải hình thức, nhưng nói thì dễ mà hành thì khó. Tâm ta nhớ nghĩ chuyện thế gian thì nhiều mà nhớ Phật niệm Phật thì ít. Bây giờ, tay cầm tràng chuỗi để mình luôn nhớ, ý thức đang tu, đang niệm Phật. Tràng chuỗi là phương tiện để mình nhiếp tâm, ý thức sự tu tập không để cho tâm phân tán, vọng động.

4.3. Tùy Tức Niệm Phật

Tùy là theo, tức là hơi thở. Pháp niệm Phật này là niệm Phật theo hơi thở. Hành giả hít vào niệm “A Di Đà Phật”, thở ra niệm “A Di Đà Phật”. Cách niệm Phật này là niệm thầm trong tâm theo hơi thở ra vào của mình.

Phương pháp này rất thích hợp với người Thiền Tịnh song tu, nghĩa là ngồi thiền điều tâm bằng danh hiệu Phật thay cho pháp quán Sổ Tức, Tùy Tức hay những pháp quán chiếu khác. Những lúc ngồi thiền hay tỉnh tọa niệm Phật, ta chọn nơi thanh vắng, yên tỉnh, ngồi kiết già hay bán già, hai bàn tay chồng lên nhau, mắt hơi khép lại. Sau đó, chúng ta hít thở nhẹ và đều, mỗi hơi thở niệm một danh hiệu Phật.

Những lúc nghỉ ngơi ta cũng nên ứng dụng phương pháp này. Lúc nghỉ ngơi là lúc ta cần đến sức khỏe, vì vậy lúc này ta không thể công phu niệm Phật như bình thường. Lúc này, ta có thể ngồi hay nằm nghỉ, vừa nghỉ ta vừa niệm Phật theo hơi thở. Như vậy, chúng ta nghỉ trong một vài tiếng sẽ khỏe lại mà vẫn không mất thời khóa công phu tu tập, niệm Phật của mình.

4.4. Cao Thanh Niệm Phật

Cao Thanh Niệm Phật là niệm Phật to tiếng, từng chữ, từng câu, từng danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”. Niệm cách này trừ được các thứ bệnh như buồn ngủ, giải đãi, tán loạn v.v...  Niệm Phật lớn tiếng cũng là một bài học, một tấm gương, một sự khuyến khích đến những người xung quanh. Mọi người xung quanh thấy chúng ta niệm Phật họ cũng niệm, tu tập theo. Như vậy, hành giả tu cho mình mà cũng đã làm hạnh lợi tha vậy.

Ngày xưa, Tổ Diên Thọ mỗi đêm khuya thanh vắng, Ngài leo lên đỉnh núi cao niệm Phật, tiếng niệm Phật của Ngài sang sảng du dương vang khắp cả một vùng, làm cho người dân trong vùng ai ai cũng cảm động và niệm Phật theo. Tiếng niệm Phật của Ngài vang vọng đến cả kinh thành, nhà vua nghe được, cho người đi thỉnh Ngài về kinh thành hoằng hóa, mở pháp hội dạy người niệm Phật ở kinh thành.

4.5. Niệm Phật Mặc Niệm

Mặc Niệm là niệm nhỏ, niệm thầm, môi miệng chỉ hơi mấp máy, nhưng trong tâm vẫn nghe rõ ràng, sáng suốt từng chữ, từng câu danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật”.

Trong pháp Trì Danh Niệm Phật, cách Niệm Phật mặc niệm là cách niệm Phật dễ nhất, đơn giản nhất, thuận tiện nhất.

Cách niệm Phật này dễ, ai thực hành cũng được, nhất là người bận rộn, người già và người bệnh, vì niệm Phật mặc niệm ít mệt, ít tốn sức.

Cách này đơn giản vì không cần hình thức, nghi lễ như: pháp phục, chuông mỏ, tràng chuổi, bàn Phật, đạo tràng v.v...

Cách này thuận tiện vì trong mọi cử chỉ oai nghi như: đi, đứng, nằm ngồi. Trong mọi hoàn cảnh môi trường như: khi rảnh rỗi, lúc bận rộn, nơi yên tĩnh, chốn ồn ào, nơi ít người, chổ đông người, khi đi trên xe, trên tàu, trên máy bay v.v… Nói chung, trong mọi oai nghi cử chỉ, trong mọi hoàn cảnh môi trường chúng ta đều tu tập, đều niệm Phật được mà không ảnh hưởng đến môi trường, công việc. Ngược lại, công phu tu tập của ta được tin tấn, niêm mật, niệm Phật được liên tục, không gián đoạn, tăng trưởng công đức, trí huệ, sự vãng sanh Tây Phương Cực Lạc được bảo đảm, chắc chắn.

Người rảnh rỗi, ngoài những thời tu tập niệm Phật chính theo thời khóa của riêng mình hay cùng với đại chúng, đạo tràng. Ngoài những thời khóa tu tập chính này, chúng ta nên ứng dụng, thực hành cách niệm Phật mặc niệm để cho công phu tu tập của ta được liên tục, không gián đoạn.

4.6. Kim Cang Niệm Phật

Pháp niệm Phật này là niệm không lớn, không nhỏ, không nhanh, không chậm. Hành giả niệm vừa đủ mình nghe, niệm từ từ một cách khoan thai, danh hiệu nào rõ ràng, chắc thật danh hiệu đó, niệm này nối tiếp niệm kia không gián đoạn. Công phu nghiêm mật, chắc thật như vậy nên ví như kim cang. Kim cang là một loại đá quý cứng chắc không có thứ gì phá hoại nó được, ngược lại nó có thể phá hoại mọi thứ.

Phương pháp này có công hiệu rất lớn. Khi niệm Phật to có thể làm cho hành giả dễ mệt, mất sức nên công phu tu tập không được lâu dài. Niệm nhỏ lại dễ rơi vào trạng thái  hôn trầm, buồn ngủ, tán loạn. Phương pháp này tránh được hai trạng thái trên. Thực hành phương pháp này thì thời khóa công phu tu tập của hành giả sẽ được lâu dài, có thể một thời công phu niệm Phật vài tiếng đồng hồ trở lên. Lại nữa, hành giả niệm Phật rõ ràng, chắc thật, danh hiệu Phật liên tục nối nhau không xen hở nên dễ đạt được nhất tâm, dễ đạt được niệm Phật Tam Muội.

Như vậy, trong bốn phương pháp niệm Phật trên, ba phương pháp Thật Tướng Niệm Phật, Quán Tượng Niệm Phật và Quán Tưởng Niệm Phật là phương pháp cao, khó thực hành. Duy chỉ có pháp Trì Danh Niệm Phật là pháp dễ tu, dễ thực hành, mà lại mau chứng, ai ứng dụng tu tập cũng được, trên các bậc căn cơ cao như chư Bồ Tát, Tổ Sư, dưới đến người bình dân, người mù chữ, người ác cho đến súc sanh đều thực hành được và đều có kết quả, đều được vãng sanh. Vì vậy mà từ xưa đến nay, chư Phật, chư Bồ Tát, các vị Tổ Sư và chư Đại Đức Tăng Ni, các ngài đều dạy, khuyên, khuyến khích hành giả thực hành pháp Trì Danh Niệm Phật.

Trong pháp Trì Danh Niệm Phật cũng có nhiều cách niệm khác nhau. Ở trên, chúng tôi đưa ra sáu cách niệm Phật căn bản, tiêu biểu. Tuy nhiên trong sáu cách này, hành giả chọn cách niệm Phật nào cảm thấy thích, thấy phù hợp với mình để thực hành.

Hành giả cũng có thể thực hành luôn cả sáu cách Trì Danh Niệm Phật. Tùy theo hoàn cảnh, môi trường và sức khỏe mà chúng ta ứng dụng cho phù hợp. Như khi thấy mình tội lỗi, nghiệp chướng nhiều thì hành pháp Lễ Bái Niệm Phật. Khi công phu niệm Phật với đại chúng trong đạo tràng hay công phu tu tập ở nhà thì ta niệm to, niệm lớn (Cao Thanh Niệm Phật). Nhất là khi buồn ngủ, tán loạn, ta phải niệm Phật lớn tiếng để tâm được tỉnh táo, bớt tán loạn. Khi công việc bận rộn, hay những chỗ đông người, khi đi trên xe, trên tàu, trên máy bay v.v…, những lúc này ta niệm nhỏ, niệm thầm (Niệm Phật Mặc Niệm). Khi tỉnh tọa, nghỉ ngơi, ta niệm Phật theo hơi thở (Tùy Tức Niệm Phật). Khi thời gian rảnh rỗi, muốn công phu tu tập được lâu dài, ta ứng dụng pháp Kim Cang Niệm.

Nói chung, tùy theo hoàn cảnh, môi trường mà hành giả ứng dụng niệm Phật mỗi cách khác nhau, miễn sao trong tâm vẫn luôn nhớ Phật, niệm Phật.

 

LỢI ÍCH CỦA PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

Người tu Pháp Môn Tịnh Độ, hàng ngày niệm Phật có nhiều lợi ích cho bản thân, gia đình và xã hội hiện tại và tương lai.

I. Lợi ích hiện tại

1. Niệm Phật sẽ trừ được niệm chúng sanh

Tâm chúng ta luôn suy nghĩ tính toán lăng xăng, không lúc nào yên, nên Phật thường gọi là: “Tâm viên ý mã”, nghĩa là tâm ý như con khỉ chuyền cành, như con ngựa chạy rong. Chính những tâm niệm, ý thức này dẫn chúng sanh, chúng ta đi trong sanh tử luân hồi. Vì vậy, Duy Thức Tông nói: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” là vậy.

Tâm ta ác độc, luôn tìm cách hại người, hại vật thì đây chính là tâm niệm của loài Địa Ngục, tương lai sẽ làm chúng sanh Địa Ngục, ở trong cảnh giới Địa Ngục. Tâm ta tham lam, bỏn sẻn, keo kiệt, đây chính là tâm niệm của loài Ngạ Quỷ, tương lai sẽ làm Ngạ Quỷ, ở trong cảnh giới Ngạ Quỷ. Tâm ta si mê, ám độn, mê tín, đây chính là tâm niệm của loài Súc Sanh, tương lai sẽ làm thân Súc Sanh, ở trong cảnh giới Súc Sanh. Tâm ta hướng về Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), quy y Tam Bảo, thọ trì Ngũ Giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và các chất say) thì tương lai tiếp tục làm Người, ở cảnh giới loài Người. Tâm ta hướng đến việc thiện, hàng ngày cúng dường, bố thí, tu hành Thập Thiện[3] thì đây chính là tâm chư Thiên, tương lai sẽ làm thân chư Thiên, ở cảnh giới chư Thiên v.v…

Nói chung, tùy tâm niệm của chúng ta lương thiện hay ác độc mà tương lai chiêu cảm quả báo tương xứng trong các loài chúng sanh. Nhưng phần đông, đa số tâm niệm của chúng sanh, chúng ta suy nghĩ hướng đến việc thiện thì ít mà suy nghĩ hướng về việc ác thì nhiều. Tâm chúng ta luôn mong cầu, hướng đến ngũ dục, lục trần rồi khởi lên tham sân si phiền não nghiệp chướng. Những phiền não, nghiệp chướng này lại dẫn chúng ta sa đọa vào trong tam đồ, ác đạo chịu nhiều khổ đau.

Trong Phật Giáo, có một bức tranh minh họa, tượng trưng, ví dụ rất sinh động về pháp giới chúng sanh. Đó là bức tranh: “Thập Pháp Giới”, bức tranh này ở giữa viết chữ Tâm () rất lớn, trên chữ tâm vẽ bốn cảnh giới của bốn bậc Thánh là Phật, Bồ Tát, Duyên Giác và Thanh Văn. Hai bên chữ tâm vẽ ba cảnh giới là Trời, Người và A tu la. Dưới chữ tâm vẽ ba cảnh giới là Súc Sanh, Ngạ Qủy và Địa Ngục.

Ý nghĩa bức tranh này chỉ cho chúng ta biết từ một cái “Tâm” mà hiện ra mười cảnh giới khác nhau. Tất cả các cảnh giới Thánh phàm, đau khổ hay an vui đều xuất phát từ tâm. Tâm đại từ đại bi thương tất cả chúng sanh, cứu độ tất cả chúng sanh đó là tâm Phật, tâm Phật thì làm Phật. Tâm tùy duyên tìm cách làm lợi ích chúng sanh đó là tâm Bồ Tát, tâm Bồ Tát sẽ làm Bồ Tát. Tâm chán sanh tử khổ đau, tu tập để được giải thoát giác ngộ đó là tâm Thanh Văn, Duyên Giác, tâm Thanh Văn Duyên Giác sẽ làm Thanh Văn, Duyên Giác. Tâm bỏ ác làm lành, bố thí, cúng dường, giữ giới, ăn chay, phóng sanh là tâm Trời, Người, tâm Trời Người sẽ làm thân Trời Người. Tâm cúng dường, bố thí, nhưng lại hay nóng giận, ưa đấu tranh, có giữ giới mà giữ không trọn vẹn là tâm A Tu La, tâm A Tu La thì làm A Tu La[4], ở cảnh giới A Tu La. Tâm tham, sân, si nặng nề là tâm Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục, tâm Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục, sẽ làm thân Súc Sanh, Ngạ Quỷ, Địa Ngục.

Chúng ta biết được tất cả các cảnh giới Thánh phàm, đau khổ hay an vui đều xuất phát từ tâm. Bây giờ, chúng ta hãy xét lại mình, xem tâm của ta hàng ngày niệm cảnh giới nào nhiều, có lẽ ta niệm cảnh giới chúng sanh nhiều hơn là niệm cảnh giới Thánh, vì vậy mà hiện tại hay tương lai chúng ta đều đau khổ. Hôm nay, chúng ta biết được Pháp Môn Tịnh Độ, hàng ngày ứng dụng tu tập, chuyên tâm niệm Phật, tâm niệm Phật thì không còn niệm chúng sanh, vậy là ta đã cắt đứt con đường sanh tử. Con đường của chúng ta đi bây giờ là con đường Phật đạo, đi trên con đường Phật đạo thì dù sớm hay muộn gì chúng ta cũng sẽ thành Phật.

Lại nữa, khi xưa chúng ta chưa tu, tâm khi nào cũng tham, sân, si làm khổ đau cho mình và người. Hôm nay, chúng ta tu tập, hàng ngày giữ giới, ăn chay, niệm Phật, tâm khi nào cũng muốn làm lợi ích mọi người, không ác ý với ai. Như vậy, mình luôn được hạnh phúc, bình an, gia đình, xã hội cũng được nhiều lợi ích.

2. Niệm Phật sẽ trừ được tâm buồn phiền lo sợ

Chúng ta là phàm phu nên không tránh được những buồn phiền, lo sợ. Sống trên thế gian này, dễ sanh những buồn phiền, lo sợ do gặp nhiều nghịch cảnh như: người thân chia lìa, con cháu ngỗ nghịch, gia tài thất thoát, công danh, sự nghiệp không thành, trộm cướp, chiến tranh, thiên tai v.v…, những nghịch cảnh này làm cho ta buồn phiền, lo sợ, đau khổ. Lúc này, chúng ta hãy cố gắng niệm Phật thật nhiều, thì những phiền muộn ấy sẽ từ từ thuyên giảm, tâm trí bình tỉnh, sáng suốt trở lại.

Người không tu, không biết niệm Phật thì những buồn phiền, lo sợ này làm cho ăn không ngon, ngủ không yên, ngày đêm dằn vặt đau khổ, có khi tìm đến cái chết, nhưng cái chết không giải quyết được vấn đề, mà làm tăng thêm khổ đau cho mình và người thân. Đạo Phật không tán đồng sự tự tử. Đức Phật dạy: “Nếu gặp oan gia thì lấy ân đáp lại, gặp sự nguy nan, khó xử thì hãy bình tĩnh, sáng suốt tìm cách giải quyết, tâm buồn phiền, lo sợ, đau khổ thì hãy buông xả, lo tu tập để thoát khổ”. Người tu tập, có chánh kiến (cái thấy biết sáng suốt) khi gặp những nghịch cảnh như vậy hãy tìm cách hóa giải, nhất là ứng dụng Pháp Niệm Phật thì những buồn phiền, lo sợ ấy từ từ sẽ hết.

3. Niệm Phật sẽ diệt được tham sân si phiền não

Tham, sân, si, phiền não là những thứ giặc làm cho chúng sanh, chúng ta đau khổ. Bọn chúng cũng là nguyên nhân, nguồn gốc dẫn chúng ta đi trong sanh tử luân hồi. Bây giờ, chúng ta tu tập, niệm Phật thì những thứ giặc này lần lần sẽ được dứt trừ, tiêu diệt.

Ví như có một cái giếng mới đào, muốn cho nước trong người ta bỏ phèn chua và than xuống, sau một vài tiếng nước dưới giếng sẽ trong. Hay như có một ly nước đục, muốn ly nước được trong, người ta bỏ hóa chất lọc nước vào làm cho nước trong. Cũng vậy, tâm chúng ta đầy rẫy những cấu uế bất tịnh, đầy rẫy tham sân si phiền não. Nếu chúng ta bỏ danh hiệu “Nam Mô A Di Đà Phật” vào trong tâm, danh hiệu Phật có tác dụng thanh lọc những cấu uế trong tâm làm cho tâm được thanh tịnh, sáng suốt, mát mẻ.

Người tu tập Pháp Môn Tịnh Độ, hàng ngày siêng năng tinh tấn niệm Phật. Sau một thời gian tu tập, ta thấy được nhiều kết quả. Khi chưa tu, chưa niệm Phật, tâm ta tham sân si phiền não đủ thứ, lại hay giận hờn với mọi người, hay cải vã làng xóm, ham ăn, ham ngủ, ưa nói chuyện thị phi của thiên hạ. Nay tâm ta hiền lành, ít tham sân si phiền não, tâm từ bi thương người thương vật, tâm khi nào cũng hoan hỷ, dễ tha thứ cho người, ưa cúng dường, bố thí, phóng sanh, cứu vật v.v… Những thành quả tốt đẹp này là do công phu tu tập niệm Phật, do công đức, oai lực của danh hiệu Đức Phật A Di Đà. Nếu niệm Phật đạt đến nhất tâm bất loạn, đạt đến niệm Phật Tam Muội, niệm Phật Ba La Mật sẽ đoạn sạch vô minh, phiền não, chứng đắc giải thoát Niết Bàn ngay trong đời này.

4. Niệm Phật sẽ được Phật gia hộ tiêu tai giải nạn

Người phát tâm niệm Phật thì được chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng, chư Thiện Thần Hộ Pháp gia hộ. Vậy nên, người niệm Phật gặp rất nhiều sự linh ứng, mầu nhiệm vượt ra ngoài khoa học, khoa học không thể giải thích.

Có người bệnh nặng hết phương cứu chữa, họ thành tâm niệm Phật cầu Phật gia hộ thì bệnh được lành. Có người đi trên xe, trên tàu, khi xe tàu gặp nạn, họ niệm Phật cầu Phật gia hộ thì được thoát nạn. Có người ra biển gặp sóng to, gió lớn nguy hiểm đến tánh mạng, họ niệm Phật cầu Phật gia hộ, thì được bình an. Những chuyện niệm Phật cảm ứng từ xưa đến nay rất nhiều.

Niệm Phật có nhiều sự linh ứng, mầu nhiệm như vậy nên chúng ta phải thường xuyên niệm Phật. Cuộc đời, mạng sống của chúng ta có rất nhiều sự nguy hiểm, rủi ro, nhất là trong thời đại ngày nay có nhiều sự nguy hiểm như: trộm cướp, bệnh tật, thiên tai, tai nạn giao thông v.v… Chúng ta không thường niệm Phật cầu Phật gia hộ thì những tai nạn, rủi ro không lường trước được.

Niệm Phật cũng sớm tiêu trừ tội lỗi, nghiệp chướng. Người nghiệp chướng nặng nề nếu thường xuyên niệm Phật thì nghiệp chướng sẽ sớm tiêu trừ. Trong Kinh Đức Phật dạy: “Niệm một danh hiệu Nam Mô A Di Đà Phật sẽ tiêu trừ 80 ức kiếp tội lỗi sanh tử”. Vậy nên, chúng ta niệm Phật càng nhiều thì nghiệp chướng sẽ lần lần tiêu trừ, công đức ngày càng tăng trưởng, sự tu tập mau tiến bộ, sớm được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

II. Lợi ích trong tương lai

1. Sau khi xả bỏ báo thân này sẽ được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc

Điều lợi ích quan trọng, to lớn của hành giả tu Pháp Môn Tịnh Độ là được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc. Chúng ta niệm Phật có đầy đủ ba điều kiện là Tín, Hạnh và Nguyện thì bảo đảm, chắc chắn sẽ được vãng sanh về Cực Lạc. Khi đã được vãng sanh Cực Lạc, chúng ta trở thành bậc Thánh bất thối chuyển, được ở trong một thế giới huy hoàng lộng lẫy, thanh tịnh, trang nghiêm, an lạc. Hàng ngày, ta diện kiến Đức Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí và chư Thánh Chúng cõi Cực Lạc. Chúng ta được Phật và chư Bồ Tát dìu dắt, dạy dỗ thật là một thuận duyên thù thắng không chi bằng. Vãng sanh Cực Lạc là một công đức, lợi ích lớn.

2. Vãng sanh Cực Lạc chúng ta có cơ duyên đi cúng dường mười phương chư Phật, giáo hóa chúng sanh

Trong Kinh Đức Phật nói: “Người ở cõi Cực Lạc có thần thông tự tại, chỉ trong khoảng chưa đầy bữa ăn họ có thể đi cúng dường mười phương chư Phật”. Chúng ta vãng sanh về Cực Lạc, ta dùng thần thông đi cúng dường mười phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Thánh Hiền Tăng. Ta lại dùng thần thông đi đến mười phương thế giới giáo hóa cứu độ chúng sanh, nhất là trở lại cõi Ta Bà giáo hóa, cứu độ bà con quyến thuộc của mình. Chúng ta làm được những việc này thì công đức bất khả tư nghì không thể nào tính đếm được. Ta làm được những việc này, chỉ có vãng sanh về Cực Lạc mới làm được, còn ở cõi Ta Bà hay thế giới khác không thể làm được. Vì vậy, vãng sanh Cực Lạc là một công đức, một thắng duyên to lớn, là mục đích tối hậu của hành giả niệm Phật.

3. Ở cõi Cực Lạc chúng ta tu tập dễ dàng, sớm thành Phật đạo

Trong Kinh A Di Đà Đức Phật nói: “Xá Lợi Phất! Lại trong cõi Cực Lạc, những chúng sanh vãng sanh vào đó đều là bực Bất Thối Chuyển”. Kinh Niệm Phật Ba La Mật Đức Phật lại xác quyết một lần nữa: “Diệu Nguyệt nên biết, đây thật là pháp vi diệu thù thắng đệ nhất, mà chư Phật dùng để cứu độ khắp hết thảy chúng sanh. Đây thật là môn tu thích đáng khế hợp mọi căn cơ mà chư Phật dùng để đưa hết thảy muôn loài xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết Bàn tại thế, thành Phật trong một đời”.

Qua hai đoạn kinh trên, chúng ta thấy, ai được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc đều trở thành bậc Bất Thối Chuyển, một đời thành Phật, nếu tu tập chậm lắm là vài đời sẽ thành. Ở điểm này, chúng ta lấy giáo lý mà so sánh. Trong giáo lý tiệm tu Đức Phật dạy: “Từ sơ phát Bồ Đề Tâm tu tập cho đến ngày thành Phật phải trải qua Ba A tăng kỳ kiếp”, Ba A tăng kỳ kiếp là một con số rất lớn không thể nào tính đếm được. Còn về quả vị tu chứng, người tu từ khi mới phát Tâm Bồ Đề tu tập cho đến thành Phật phải trải qua 52 quả vị gồm: Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Thập Địa, Đẳng Giác và Diệu Giác. Vậy  nên, người tu ở cõi Ta Bà hay những thế giới khác, từ khi phát tâm tu tập cho đến ngày thành Phật phải trải qua thời gian lâu xa, trải qua bao nhiêu địa vị. Còn người ở cõi Cực Lạc, tu tập trong một thời gian ngắn, chỉ trong một đời hay vài đời là thành Phật. Qua sự so sánh này, chúng ta thấy tu Pháp Môn Tịnh Độ rất dễ dàng mà mau chóng, vược qua các địa vị đi thẳng đến quả vị Phật. Vì vậy mà Đức Phật, chư Bồ Tát, các vị Tổ sư nói Pháp Môn Tịnh Độ là pháp thù thắng đệ nhất, là con đường tu tắt.

Lại so sánh tiếp, trong 52 quả vị Bồ Tát, Thập Địa gồm có mười bậc, bậc thứ Tám là Bát Địa cũng còn gọi là Bất Động Địa, địa vị này không còn thối chuyển nên gọi là Bất Động. Người tu Tịnh Độ khi được vãng sanh liền được Bất Thối Chuyển, ngang hàng với Bồ Tát Bát Địa.

Để làm cho hành giả tu tập hiểu được Pháp Môn Tịnh Độ là pháp thù thắng, con đường tu tắt, vượt qua các vị, sớm thành Phật đạo. Các vị Tổ sư Tịnh Độ đưa ra một ví dụ minh họa như sau:

Ví như có hai con sâu ở trong cây tre, chúng muốn ra ngoài. Con thứ nhất đục dọc các đốt tre từ dưới lên đến trên ngọn để ra ngoài.

Con sâu thứ hai khôn ngoan hơn, không đục dọc mà đục ngang thân tre, chỉ cần đục một lớp là ra ngoài dễ dàng.

Lại một ví dụ khác, ví dụ phương tiện giao thông. Hàng ngày chúng ta đi lại từ chổ này đến chổ kia phải có phương tiện để đi, phương tiện đầu tiên là đi bộ, thứ đến đi xe đạp, xe máy, xe ô tô và cuối cùng là đi máy bay. Trong các loại phương tiện này, đi bộ là chậm nhất và đi máy bay là nhất nhất.

Người tu Pháp Môn Tịnh Độ, niệm Phật được ví dụ như con sâu đục ngang thân tre, và đi máy bay nên gọi là tu tắt.

Pháp Môn Tịnh Độ là pháp thù thắng đệ nhất trong Tám vạn bốn ngàn pháp môn. Chúng ta nhờ có nhân duyên phước đức nhiều đời nhiều kiếp nên nay mới gặp được pháp môn này. Chúng ta hãy ứng dụng thực hành tu tập, niệm Phật và phát nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, tu tập sớm thành Phật đạo, cùng chư Phật giáo hóa cứu độ chúng sanh.

 

TRÍCH DẪN NHỮNG ĐOẠN KINH LUẬN NHỮNG LỜI CHỈ DẠY KHUYÊN TU PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ CỦA PHẬT BỒ TÁT TỔ SƯ VÀ CÁC VÌ HIỀN NHÂN

Để làm rõ thêm Phương pháp tu tập Pháp Môn Tịnh Độ, nhất là pháp Trì Danh Niệm Phật, và làm tăng thêm niềm tin cho hành giả niệm Phật, dưới đây trích dẫn những đoạn Kinh, Luận, những lời chỉ dạy, khuyên tu Pháp Môn Tịnh Độ của Phật, chư Bồ Tát, chư vị Tổ Sư, chư vị Hiền Nhân. Những đoạn kinh luận, những lời chỉ dạy này là khuôn vàng thước ngọc, là kim chỉ nam, là hành trang cho hành giả tu tập Pháp Môn Tịnh Độ.

1. Kinh A Di Đà

Kinh A Di Đà, đoạn Đức Phật dạy cách niệm Phật để được sanh về Cực Lạc:

“Xá Lợi Phất! Nếu có hàng thiện nam tử, thiện nữ nhân nào nghe nói Đức Phật A Di Ðà, rồi chấp trì danh hiệu Đức Phật đó, hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, một lòng không tạp loạn.

Thời người đó đến lúc lâm chung Đức Phật A Di Ðà cùng hàng Thánh Chúng hiện thân trước người đó.

Người đó lúc chết tâm thần không điên đảo, liền được vãng sanh về cõi nước Cực Lạc của Phật A Di Ðà.

Xá Lợi Phất! Ta thấy có sự lợi ích ấy nên nói những lời như thế.

Nếu có chúng sinh nào, nghe những lời trên đó, nên phải phát nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc”.

2. Kinh Vô Lượng Thọ

Nguyện thứ 18 trong Kinh Vô Lượng Thọ, ngài Pháp Tạng phát nguyện như vầy:

“Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng ở ngôi chánh giác”.

Đoạn Đức Phật dạy về Ba phẩm vãng sanh:

“Nầy A Nan! Chúng sanh ở mười phương, những người và chư thiên nguyện cầu sanh về nước An Lạc của đức Vô Lượng Thọ Phật có ba hạng:

Hạng thượng phẩm là những người bỏ nhà lìa ái dục mà làm Sa Môn, phát Tâm Bồ Đề, chuyên một lòng niệm Vô Lượng Thọ Phật, tu các công đức, nguyện sanh về nước ấy. Lúc chúng sanh này lâm chung, Đức Vô Lượng Thọ Phật cùng hàng Thánh chúng hiện ra trước người ấy, liền theo Đức Phật sanh về nước An Lạc, tự nhiên hóa sanh từ trong hoa sen thất bảo, ở bực Bất Thối Chuyển, trí huệ dũng mãnh, thần thông tự tại.

Vì thế nên, nầy A Nan! Có ai muốn hiện đời được thấy Đức Vô Lượng Thọ Phật thì phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề tu những công đức nguyện sanh về nước An Lạc.

Nầy A Nan! Hạng trung phẩm là những người và chư thiên ở các thế giới mười phương, có ai chí tâm nguyện sanh về nước ấy, dầu chẳng làm Sa Môn tu các công đức lớn được, nhưng phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề chuyên một mặt niệm Vô Lượng Thọ Phật, làm lành hoặc ít hoặc nhiều, giữ gìn giới Bát quan trai, xây dựng tháp tượng, trai tăng, treo phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương, dùng đây để hồi hướng nguyện sanh về nước An Lạc. Lúc người nầy lâm chung, Đức Vô Lượng Thọ Phật hóa hiện thân ra đủ tướng tốt và quang minh như chơn Phật cùng với Thánh Chúng đến trước người ấy, liền theo Đức Hóa Phật sanh về nước An Lạc ở bực Bất Thối Chuyển. Công đức trí huệ kế bực thượng phẩm.

Nầy A Nan! Hạng hạ phẩm là có những người và chư thiên ở các thế giới mười phương chí tâm muốn sanh về nước An Lạc, giả sử chẳng làm được các công đức, họ phải phát tâm Vô Thượng Bồ Đề, một mặt chuyên tâm niệm Vô Lượng Thọ Phật cho đến mười niệm nguyện sanh nước An Lạc, hoặc nghe pháp Ðại Thừa vui mừng tin ưa chẳng sanh nghi hoặc niệm Vô Lượng Thọ Phật cho đến một niệm, dùng tâm chí thành nguyện sanh nước An Lạc. Người ấy lúc lâm chung chiêm bao thấy Đức Vô Lượng Thọ Phật cũng được vãng sanh, công đức trí huệ kế bực trung phẩm”.

3. Kinh Quán Vô Lượng Thọ

Kinh Quán Vô Lượng Thọ, đoạn Đức Phật dạy về 16 pháp quán, trong đó ba pháp quán 14, 15 và 16. Ngài dạy như sau:

“Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: “Người sanh Cực Lạc thế giới, bực thượng phẩm thượng sanh ấy. Nếu có chúng sanh nguyện sanh Cực Lạc thế giới phát ba thứ tâm liền được vãng sanh.

Những gì là ba tâm?

Một là chí thành tâm, hai là thâm tâm và ba là hồi hướng phát nguyện tâm. Người đủ ba tâm này ắt sanh Cực Lạc thế giới.

Còn có ba hạng chúng sanh sẽ được vãng sanh.

Những gì là ba hạng?

Một là từ tâm bất sát đủ các giới hạnh. Hai là đọc tụng kinh điển phương đẳng Đại thừa. Ba là tu hành lục niệm hồi hướng phát nguyện nguyện sanh Cực Lạc.

Người đủ các công đức nầy từ một ngày đến bảy ngày liền được vãng sanh.

Lúc sanh về nước ấy, vì người nầy tinh tiến dũng mãnh nên A Di Đà Như Lai cùng Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số Hóa Phật, trăm ngàn Tỳ Kheo Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư Thiên, cung điện bảy báu. Quan Thế Âm Bồ Tát cầm đài kim cương cùng Đại Thế Chí Bồ Tát đến trước hành nhơn. A Di Đà Phật phóng đại  quang minh chiếu thân hành giả cùng các Bồ Tát trao tay nghinh tiếp. Quan Thế Âm, Đại Thế Chí cùng vô số Bồ Tát tán thán hành giả khuyến khích sách tiến tâm hành giả. Hành giả thấy rồi hoan hỷ dũng dước tự thấy thân mình ngồi đài kim cương đi theo sau Phật. Như khoảng khảy ngón tay vãng sanh nước Cực Lạc. Sanh nước Cực Lạc rồi thấy sắc thân Phật A Di Đà đầy đủ các tướng. Thấy chư Bồ Tát sắc tướng đầy đủ. Quang minh cây rừng báu diễn nói diệu pháp. Nghe rồi liền ngộ Vô sanh pháp nhẫn. Trong thời gian giây lát đi khắp thập phương thế giới kính thờ chư Phật. Ở trước chư Phật thứ đệ thọ ký. Trở về bổn quốc được vô lượng trăm ngàn đà la ni. Đây gọi là người thượng phẩm thượng sanh.

Người thượng phẩm trung sanh ấy. Người nầy bất tất thọ trì đọc tụng kinh điển phương đẳng Đại thừa, chỉ khéo hiểu nghĩa thú, nơi đệ nhứt nghĩa tâm chẳng kinh động, thâm tín nhơn quả, chẳng hủy báng Đại thừa. Đem công đức ấy hồi hướng nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới. Người có công hạnh như vậy, lúc lâm chung, A Di Đà Phật cùng Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, vô lượng đại chúng vây quanh cầm đài tử kim đến trước hành giả khen rằng: Nầy Pháp tử! Ngươi hành Đại thừa hiểu đệ nhứt nghĩa nên nay ta đến nghinh tiếp ngươi. Đức Phật A Di Đà cùng ngàn Hóa Phật đồng thời trao tay. Hành giả ấy tự thấy mình ngồi đài tử kim, chắp tay xếp cánh tán thán chư Phật. Như khoảng một niệm liền sanh nước Cực Lạc trong ao thất bửu, Đài tử kim ấy như hoa sen lớn qua một đêm liền nở. Thân hành giả màu vàng tử ma, dưới chưn cũng có  hoa sen bảy báu.

Phật và Bồ Tát đồng thời phóng quang chiếu thân hành giả mắt liền mở sáng. Nhơn túc tập trước nên khắp nghe các âm thanh thuần nói thậm thâm đệ nhứt nghĩa đế. Hành giả ấy liền xuống kim đài lạy Phật chắp tay tán thán Thế Tôn, qua bảy ngày liền được chẳng thối chuyển Vô thượng Bồ Đề, liền có thể bay đi khắp mười phương kính thờ chư Phật, ở trước chư Phật tu các tam muội, qua một tiểu kiếp được Vô sanh nhẫn hiện tiền thọ ký. Đây gọi là người thượng phẩm trung sanh vậy.

Người thượng phẩm hạ sanh ấy. Người nầy cũng tin nhơn quả chẳng hủy báng Đại thừa, chỉ phát tâm Vô thượng Bồ Đề. Đem công đức ấy hồi hướng nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới.

Hành giả ấy lúc lâm chung, A Di Đà Phật cùng Quan Thế Âm, Đại Thế Chí và chư Bồ Tát cầm hoa sen vàng hóa làm năm trăm Phật đến rước. Năm trăm Hóa Phật đồng thời  trao tay khen rằng: Nầy Pháp tử. Nay ngươi thanh tịnh phát tâm Vô thượng Bồ đề, ta đến rước ngươi. Hành giả lúc thấy sự ấy liền tự thấy thân mình ngồi kim liên hoa. Ngồi rồi hoa búp lại theo sau Phật liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới trong ao thất bửu. Qua một ngày một đêm kim liên hoa mới nở. Qua bảy ngày mới được thấy Phật. Dầu thấy thân Phật mà chẳng thấy tỏ rõ các tướng hảo. Sau hai mươi mốt ngày mới thấy rõ hết. Nghe các âm thanh đều diễn diệu pháp, đi khắp mười phương cúng dường chư Phật. Ở trước chư Phật nghe thậm thâm pháp. Qua ba tiểu kiếp được bá pháp minh môn trụ bực Hoan hỉ địa. Đây gọi là người thượng phẩm hạ sanh vậy.

Đây gọi là pháp tưởng hàng thượng phẩm vãng sanh, gọi là pháp quán thứ mười bốn”.

Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: “Người trung phẩm thượng sanh ấy.

Nếu có chúng sanh thọ trì ngũ giới, trì bát giới trai, tu hành các giới chẳng tạo ngũ nghịch không có các tội lỗi. Đem thiện căn nầy nguyện cầu sanh Cực Lạc thế giới. Hành giả lúc lâm chung, A Di Đà Phật cùng các Tỳ Kheo quyến thuộc vây quanh phóng ánh sáng kim sắc đến chỗ hành giả diễn nói khổ không vô thường vô ngã tán thán xuất gia được lìa các sự khổ. Hành giả thấy rồi lòng rất vui mừng tự thấy thân mình ngồi đài liên hoa quỳ dài chắp tay đảnh lễ Phật, lúc chưa cất đầu lên liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới, liên hoa liền nở. Lúc hoa sen nở nghe các âm thanh tán thán Tứ đế liền được A La Hán đạo tam minh, lục thông, đủ bát giải thoát. Đây gọi là người trung phẩm thượng sanh vậy.

Người trung phẩm trung sanh ấy.

Nếu có chúng sanh hoặc một ngày một đêm trì bát giới trai, hoặc một ngày một đêm trì giới Sa di, hoặc một ngày một đêm trì Cụ Túc giới oai nghi không kém thiếu. Đem công đức này hồi hướng nguyện cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới.

Do giới hương huân tu, hành giả nầy lúc lâm chung thấy A Di Đà Phật cùng các quyến thuộc phóng kim sắc quang cầm bửu liên hoa đến trước hành giả. Hành giả tự nghe hư không có tiếng khen rằng: Này thiện nam tử! Như ngươi hàng thiện nhơn tùy thuận lời dạy tam thế chư Phật nên ta đến rước. Hành giả tự thấy thân mình ngồi trên hoa sen, hoa sen liền búp lại sanh trong ao báu Tây phương Cực Lạc thế giới. Qua bảy ngày liên hoa mới nở. Hoa nở rồi mở mắt chắp tay tán thán Thế Tôn, nghe pháp hoan hỉ được quả Tu Đà Hoàn. Qua nửa kiếp thành bực A La Hán. Đây gọi là người trung phẩm trung sanh vậy.

Trung phẩm hạ sanh ấy.

Nếu có thiện nam thiện nữ hiếu dưỡng cha mẹ làm việc nhơn từ thế gian. Người này  lúc lâm chung gặp thiện tri thức vì họ mà nói rộng những sự vui nơi quốc độ Phật A Di Đà cũng nói bốn mươi tám nguyện của Pháp Tạng Tỳ Kheo, nghe rồi liền chết. Ví như khoảng thời gian tráng sĩ co duỗi cánh tay, liền được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới. Qua bảy ngày gặp Quan Thế Âm và Đại Thế Chí Bồ Tát, nghe pháp hoan hỷ được quả Tu Đà Hoàn. Qua một tiểu kiếp thành A La Hán. Đây gọi là người trung phẩm hạ sanh vậy.

Đây gọi là pháp tưởng hạng trung phẩm vãng sanh, gọi là pháp quán thứ mười lăm”.

Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: “Người hạ phẩm thượng sanh ấy.

Hoặc có chúng sanh tạo những nghiệp ác. Người ngu như vậy dầu chẳng hủy báng kinh điển Phương đẳng Đại thừa mà tạo nhiều việc ác không có tàm quí. Người nầy lúc lâm chung gặp thiện tri thức vì họ mà nói mười hai bộ kinh Đại thừa danh tự đầu đề. Do nghe tên các kinh như vậy dứt trừ ngàn kiếp ác nghiệp cực trọng. Trí giả lại bảo chắp tay xếp cánh xưng Nam mô A Di Đà Phật. Do xưng danh hiệu Phật nên trừ năm mươi ức kiếp tội sanh tử. Lúc ấy Phật A Di Đà liền sai Hóa Phật, hóa Quan Thế Âm, hóa Đại Thế Chí đến trước hành giả khen rằng: Này thiện nam tử! Vì ngươi xưng danh hiệu Phật các tội tiêu diệt ta đến rước ngươi. Nghe nói lời ấy rồi, hành giả liền thấy quang minh của Hóa Phật chiếu sáng cả nhà. Thấy rồi hoan hỉ mạng chung ngồi bửu liên hoa theo sau Hóa Phật sanh trong ao báu Cực Lạc thế giới. Qua bốn mươi chín ngày hoa sen báu mới nở. Đương lúc hoa nở, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát phóng đại quang minh đứng trước người ấy, vì người ấy nói thậm thâm Thập nhị bộ kinh. Người ấy nghe rồi tin hiểu phát vô thượng đạo tâm. Qua mười tiểu kiếp đủ bá pháp minh môn được nhập bực Sơ địa. Đây gọi là người hạ phẩm thượng sanh vậy”.

Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi : “Người hạ phẩm trung sanh ấy.

Hoặc có chúng sanh hủy phạm ngũ giới bát giới và cụ túc giới. Người ngu này trộm của vật Tăng kỳ, trộm của vật hiện tiền Tăng, bất tịnh thuyết pháp, không có tàm quý, dùng các ác nghiệp để tự trang nghiêm. Người tội như đây do nghiệp ác phải đọa địa ngục, lúc lâm chung các lửa địa ngục đồng thời hiện đến. Gặp thiện tri thức vì lòng đại từ bi vì người ấy mà khen nói thập lực oai đức của Đức Phật A Di Đà, rộng khen quang minh thần lực của đức Phật A Di Đà, cũng tán dương giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Người ấy nghe rồi trừ tám mươi ức kiếp tội sanh từ. Lửa mạnh địa ngục biến thành gió mát thổi các thiên hoa bay đến. Trên hoa đều có Hóa Phật, Hóa Bồ Tát tiếp rước người ấy. Trong khoảng một niệm liền được sanh trong hoa sen nơi ao báu Cực Lạc thế giới. Qua sáu kiếp hoa sen mới nở. Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát dùng phạm âm thanh an úy người ấy, vì người ấy mà nói kinh điển Đại thừa thậm thâm. Nghe pháp ấy rồi, người ấy liền phát tâm vô thượng đạo. Đây gọi là người hạ phẩm trung sanh vậy”.

Đức Phật bảo A Nan và Vi Đề Hi: “Người hạ phẩm hạ sanh ấy.

Hoặc có chúng sanh tạo nghiệp bất thiện ngũ nghịch, thập ác đủ các bất thiện. Người ngu như vậy, do ác nghiệp phải đọa ác đạo trải qua nhiều kiếp thọ khổ vô cùng. Người ngu ấy lúc lâm chung gặp thiện tri thức dùng nhiều lời an ủy vì nói diệu pháp dạy bảo niệm Phật. Ngươi ấy bị khổ bức không rãnh niệm được. Thiện hữu bảo rằng nếu ngươi chẳng thể niệm Phật kia được thì ngươi nên xưng danh hiệu Phật A Di Đà, như vậy chí tâm khiến tiếng xưng danh chẳng dứt đủ mười niệm. Nên xưng như vầy: Nam Mô A Di Đà Phật. Do xưng danh hiệu Phật nên trong mỗi niệm trừ tám mươi ức kiếp tội sanh tử. Lúc mạng chung thấy kim liên hoa dường như mặt nhựt trụ trước người ấy. Như khoảng một niệm liền được vãng sanh Cực Lạc thế giới ở trong hoa sen mãn mười hai đại kiếp hoa sen ấy mới nở. Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát dùng âm thanh đại bi vì người ấy diễn nói thiệt tướng các pháp, nói pháp trừ diệt tội. Người ấy nghe pháp rồi rất vui mừng liền phát tâm Vô thượng Bồ Đề. Đây gọi là người hạ phẩm hạ sanh.

Đây gọi là pháp tưởng hạng hạ phẩm vãng sanh, gọi là pháp quán thứ mười sáu vậy”.

4. Kinh Niệm Phật Ba La Mật

Kinh Niệm Phật Ba La Mật, đoạn trưởng giả Diệu Nguyệt xin Đức Phật chỉ dạy pháp môn thù thắng và lời chỉ dạy của Đức Phật:

“Trưởng giả Diệu Nguyệt từ trong đại chúng bước ra, đi nhiễu quanh Đức Phật ba vòng. Rồi đến trước Như Lai, chấp tay quì xuống, gối bên hữu chấm sát đất, cung kính bạch với Đức Phật rằng:

- Hi hữu Thế Tôn! Hi hữu Thế Tôn! Được làm thân người là khó, như con rùa gặp bộng cây nổi, nhưng được gặp Phật ra đời còn khó gấp muôn lần.

Gặp Phật ra đời đã khó, nhưng được nghe Chánh pháp lại còn khó gấp muôn phần. Được nghe Chánh pháp đã khó, nhưng làm thế nào để nương theo giáo nghĩa tu tập lại còn khó gấp vô lượng phần.

Bởi vì sao? Theo chỗ con xét nghĩ, thì trong tám vạn bốn ngàn pháp mầu mà Như Lai đã chỉ dạy, nhằm đưa hết thảy chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến, phải có một pháp mầu cứu vớt những hạng chúng sanh tội khổ, mê đắm, xấu ác. Hôm nay con phụng vì hết thảy chúng sanh tội khổ nơi thời Mạt pháp, cũng như phụng vì các bậc Trưởng giả, Cư sĩ, Bà La Môn, Sát Đế Lợi, Thủ Đà La tại thành Vương Xá này, mà khẩn cầu đức Thế Tôn rủ lòng thương xót, ban cho chúng con một cách thức tu hành thật dễ dàng để giải thoát, một con đường thật vắn tắt để hoàn thành Phật Trí…

Liền khi ấy, Đức Như Lai từ nơi tướng lông trắng chặng giữa chân mày, phóng ra hào quang chiếu khắp vô lượng vô biên vi trần số thế giới mười phương mà nói lời nầy:

- Lành thay! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân! Nay ta vì lời thưa thỉnh của Ưu bà tắc Diệu Nguyệt, và của Ưu bà di Vi Đề Hy, lại nương theo Bổn nguyện của vô lượng vô số bất khả thuyết chư Phật, mà tuyên dương giáo nghĩa bí mật vi diệu tối thắng đệ nhất, nhằm cứu độ hết thảy chúng sanh ở trong thời kỳ Phật Pháp cuối cùng.

Giáo nghĩa này, chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật hiện tại đang nói, và chư Phật vị lai sẽ nói. Tất cả chúng sanh đời Mạt pháp sẽ nương nơi giáo nghĩa này mà được giải thoát rốt ráo, mãi mãi xa lìa các đường ác, hiện đời an ổn, sau khi mạng chung đuợc sanh về cõi Phật, chứng ngôi vị Bất Thối, dần dần tu tập cho đến khi đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề…

Chư Phật đã dùng Phật nhãn quán sát khắp mười phương, thấy rõ nghiệp lực chúng sanh lành dữ không đồng đều, thấy thân tướng và cảnh giới của chúng sanh xấu tốt có sai biệt. Nhưng điểm sanh khởi chẳng rời sát na tâm sanh diệt, chỗ hội quy cũng không rời sát na tâm sanh diệt. Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát na tâm sanh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp NIỆM PHẬT.

Diệu Nguyệt cư sĩ, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, đủ lòng tin thì chỉ cần chuyên nhất xưng niệm danh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT, suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được Y báo, và Chánh báo của Phật A Di Đà ở cõi Cực Lạc. Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp nối liền nhau, lập tức vào Phổ Đẳng Tam Muội của Đức A Di Đà, được Phật tiếp dẫn về Tịnh Độ Tây Phương. Vĩnh viễn xa lìa các đường ác, không còn luân hồi sanh tử. Đó gọi là quả vị Bất Thối Chuyển. Từ lúc ấy nhẫn lại về sau, vượt qua Thập Địa, chứng Vô Thượng Giác.

Diệu Nguyệt nên biết, đây thật là pháp vi diệu thù thắng đệ nhất, mà chư Phật dùng để cứu độ khắp hết thảy chúng sanh.

Đây thật là môn tu thích đáng khế hợp mọi căn cơ mà chư Phật dùng để đưa hết thảy muôn loài xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết Bàn tại thế, thành Phật trong một đời.

Đây là môn tu Đại Oai Lực Đại Phước Đức mà chư Phật giúp chúng sanh vượt thắng thân phàm phu, mà thâm nhập cảnh giới Chơn thường.

Đây là môn tu Đại Bát Nhã Đại Thiền Định, mà chư Phật dùng làm thuyền bè đưa hết thảy chúng sanh qua thấu bờ bên kia, không còn sanh già bịnh chết, hoàn toàn hưởng dụng pháp lạc.

Đây là môn tu Đại Trang Nghiêm Đại Thanh Tịnh, mà chư Phật dùng để đưa hết thảy chúng sanh vào giới luật, nhiếp chúng sanh vào oai nghi, an ổn khoái lạc.

Đây là một môn tu Đại Nhu Hòa Đại Nhẫn Nhục, mà chư Phật giúp hết thảy chúng sanh tự tại giữa khổ và vô thường mà thành tựu Tri Kiến Phật.

Đây là môn tu Đại Bồ Đề Đại Siêu Việt, mà chư Phật dùng làm cứu cánh để giúp hết thảy chúng sanh thành Phật như Phật ngay trong một kiếp.

Đây là môn tu Đại Từ Bi Đại Dũng Mãnh, mà chư Phật dùng để giúp chúng sanh có được cái Tâm bằng Tâm chư Phật, có được cái nguyện bằng Nguyện chư Phật, mau chóng vượt qua địa vị phàm phu và tự chứng Pháp thân từng phần.

Lại nữa trong quá khứ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp nhẫn lại đến nay, chư Phật cũng chỉ dùng một pháp Niệm Phật nầy để độ khắp chúng sanh. Trong hiện tại cũng có vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật ở mười phương, cũng đang thuyết giảng giáo nghĩa Niệm Phật nầy để rộng cứu vớt chúng sanh.

Trong đời vị lai, tất cả chư Phật nếu muốn cứu vớt hết mọi chúng sanh, thì cũng phải do nơi pháp Niệm Phật này. Do đó mà Như Lai bảo rằng: Niệm Phật là Vua của tất cả các Pháp”.

5. Đại Thế Chí Bồ Tát niệm Phật viên thông, trích Kinh Lăng Nghiêm

Đại Thế Chí Bồ Tát do niệm Phật mà chứng viên thông, nhẫn đến tu Bồ Tát đạo, giáo hóa chúng sinh đều không rời pháp môn niệm Phật.

Trong pháp hội Thủ Lăng Nghiêm, lúc Đức Bổn Sư hỏi về nguyên do chứng nhập viên thông của Thánh Chúng, đức Đại Thế Chí Bồ Tát bạch Phật rằng:

“Con nhớ lại hằng hà sa số kiếp về trước, Đức Siêu Nhật Nguyệt Quang Như Lai dạy cho con pháp Niệm Phật Tam Muội. Ví như hai người, một người chuyên nhớ, một người chuyên quên, Hai người như thế, dù có gặp nhau cũng như không gặp, dù có thấy nhau cũng như không thấy. Nếu hai người tha thiết nhớ nhau, thời hai người nhớ in sâu, như hình với bóng chẳng xa cách nhau.

Thập phương chư Phật thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu con trốn tránh, mẹ nhớ ích gì. Nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thời mẹ con trải qua nhiều kiếp chẳng xa trái nhau.

Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, niệm Phật thời hiện tại hay tương lai, nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng xa, chẳng nhờ phương tiện nào khác mà tự mở ngộ tâm mình. Như người nhiễm hương, thân có mùi hương, như thế gọi là Hương quang trang nghiêm. Trước đây con vốn do tâm niệm Phật mà chứng nhập vô sanh nhẫn, nay ở thế giới này, đón tiếp người niệm Phật, về nơi Tịnh Độ.

Phật hỏi viên thông, con không chọn lựa, chỉ thu nhiếp lục căn, tịnh niệm tương tục, được thành chánh định, đó là đệ nhất”.

6. Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát khuyên tấn chúng hội niệm Phật, trích trong kinh “Quán Phật Tam Muội Hải”:

“Lúc Đức Thế Tôn giảng pháp “Quán Phật Tam Muội” xong, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát bảo đại chúng rằng:

Về thuở quá khứ, thời kỳ Phật Bửu Oai Ðức Như Lai, đồng tử Giới Hộ, con trai của một ông Trưởng giả, từng thọ pháp Tam Quy khi còn ở trong thai mẹ. Năm lên tám, một hôm cha mẹ thỉnh Đức Bửu Oai Ðức Phật về nhà cúng dường. Ðồng tử Giới Hộ thấy đức Phật cử chỉ đoan trang đi chậm rãi, dưới chơn Phật, mỗi bước mọc hoa sen, thân Phật tỏa ánh sáng rực rỡ, thời mừng rỡ cung kính, liền cúi đầu đảnh lễ. Lễ Phật rồi, đồng tử chí thành chăm nhìn Phật không rời.

Ðồng tử Giới Hộ nhơn vì một lần được thấy Phật và nhìn Phật đó mà tiêu trừ được tội sanh tử của trăm nghìn ức na do tha kiếp. Từ đó về sau, đời đời luôn đặng gặp chư Phật, nhiều đến số trăm ức na do tha hằng hà sa Đức Phật. Các Đức Thế Tôn ấy đều giảng dạy pháp “Quán Phật Tam Muội” đúng như lời của Đức Bổn Sư vừa giảng.

Sau đó có trăm vạn Đức Phật ra đời đồng một hiệu: Chiên Ðàn Hải. Ðồng tử chầu chực khắp tất cả chư Phật, thường lễ Phật, cúng dường, chấp tay nhìn Phật. Do công đức quán Phật, nên rồi lại đặng gặp trăm vạn a tăng kỳ Đức Phật liền chứng đặng trăm vạn ức “Niệm Phật Tam Muội”, chứng đặng trăm vạn a tăng kỳ “Triền đà la ni môn”. Khi đồng tử đã chứng các môn tam muội và đà la ni, chư Phật liền hiện thân thuyết vô tướng pháp cho. Khi đồng tử đặng nghe vô tướng pháp, trong giây lát bèn chứng đặng “Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội”.

Thuật xong, Đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát kết luận: “Ðồng tử Giới Hộ tối sơ do nhờ thọ pháp Tam Quy, một lần chí thành lễ Phật, quán Phật, tâm không mỏi nhàm, nên rồi được gặp vô số chư Phật. Huống là người chuyên lòng luôn tưởng nơi Phật!

Ðồng tử Giới Hộ đó không phải ai đâu lạ, chính là tiền thân của tôi đấy!”.

Văn Thù Sư Lợi nói dứt lời, Đức Bổn Sư phán với ngài A Nan: “Ông nên đem lời của Văn Thù Sư Lợi nói lại cho khắp tất cả đại chúng và tất cả chúng sanh đời sau.

Nếu ai có thể lễ Phật, ai có thể niệm Phật, ai có thể quán Phật, thời người ấy sẽ đồng với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát”.

Cũng như Bồ Tát Phổ Hiền, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát từng có lời tự nguyện về Cực Lạc thế giới, chép trong kinh “Văn Thù Phát Nguyện” như sau:

Nguyện tôi đến lúc mạng chung

Trừ hết tất cả những chướng ngại

Diện kiến Đức Phật A Di Đà

Liền được vãng sanh Cực Lạc quốc…”

7. Mã Minh Bồ Tát khuyên người niệm Phật

Bồ Tát Mã Minh là một trong những vị Tổ nổi tiếng, khi Ngài sinh ra, cảm bầy ngựa trong nhà hí vang, nhân đó mà đặt tên là Mã Minh. Đời Ngài cực lực hoằng dương Đại Thừa, Ngài viết rất nhiều bộ luận để xiểng dương Đại Thừa. Bộ Đại Thừa Khởi Tín Luận có đoạn dạy người niệm Phật:

“Nên mạnh mẽ tinh tấn, ngày đêm sáu thời, lễ bái chư Phật; thành tâm sám hối, khuyến thỉnh, tùy hỷ, hồi hướng về quả Bồ Ðề. Tu tập như thế không thôi nghỉ thì sẽ được khỏi các chướng, căn lành thêm lớn. Lại nói: “Như Lai có thẳng phương tiện để nhiếp hộ kẻ tín tâm. Ấy là dùng nhân duyên chuyên nhớ niệm Phật tùy nguyện cầu sanh về Tịnh Ðộ ở phương khác, do được thường thấy Phật nên vĩnh viễn xa lìa ác đạo”. Như trong Tu Đa La nói: “Nếu người chuyên niệm Phật A Di Đà ở phương Tây, đem những căn lành mình tu hồi hướng về cõi kia, thì được vãng sanh. Do thường thấy Phật nên không còn lo thối chuyển”.

8. Long Thọ Bồ Tát khuyên người niệm Phật

Ngài là vị tổ của nhiều Tông phái Phật Giáo. Đời Ngài chuyên hoằng dương Đại Thừa, Ngài sáng tác rất nhiều bộ luận. Trong đó, bộ Luận Đại Trí Độ và bộ Luận Tỳ  Bà Sa dạy người niệm Phật như sau:

Luận Đại Trí Độ:

“Niệm Phật Tam Muội có thể trừ các thứ phiền não và những tội đời trước. Các pháp Tam Muội khác, có môn trừ được nghiệp dâm, không thể trừ được nghiệp sân, có môn trừ được nghiệp sân, không thể trừ nghiệp dâm. Có môn trừ được ba độc, tham, sân, si, không thể trừ các tội đời trước. Môn Niệm Phật Tam Muội có thể trừ các thứ phiền não và các thứ tội chướng. Lại nữa, Niệm Phật Tam Muội có phước đức lớn, hay độ chúng sanh. Chư Bồ Tát muốn mau diệt tội chướng, được nhiều phước đức, sớm độ chúng sanh, không chi hơn tu môn Niệm Phật Tam Muội.

Hỏi: Bồ Tát phải thường ở cõi trần lao để giáo hóa chúng sanh, sao lại nguyện sanh về Tịnh Độ?

Đáp: Nếu chưa vào Vô sanh nhẫn của Bồ Tát vị, chưa được thọ ký, chưa đến ngôi Bất Thối Chuyển, mà xa lìa chư Phật, tất sẽ chìm trong biển phiền não, hư mất hết các căn lành! Như thế, đã không thể độ mình, làm sao độ chúng sanh được? Ví như, kẻ dùng chiếc thuyền không bền chắc để đưa người, khi gặp sóng to gió lớn, tất thuyền sẽ bị hư rã, mình và người đều chết đắm. Lại như người đem ấm nước sôi đổ vào ao băng tuyết, muốn cho ao băng tuyết tiêu tan, ban sơ chỉ tan được chút ít, kết cuộc chính nước sôi ấy sẽ trở thành băng tuyết. Bồ tát chưa vào Vô sanh pháp vị mà xa lìa chư Phật cũng lại như thế! Nếu Bồ Tát chưa đủ nhẫn lực, chưa đủ phương tiện, muốn dùng chút ít công đức để ra hóa độ chúng sanh, sự lợi ích tuy có đôi phần, nhưng trái lại chính mình sẽ bị đọa lạc.

Lại nữa, nếu Bồ Tát mắt thường thấy sắc tướng của Phật, tại thường nghe âm thanh Phật nói, thì tâm sẽ được thanh tịnh, được pháp lạc, được trí huệ lớn, kế đó y theo lời dạy tu hành, tất sẽ mau giải thoát. Gặp Phật được vô lượng sự lợi ích như thế, tại sao không nhất tâm cầu về cõi Phật? Như trẻ thơ không nên rời mẹ, người đi xa không rời lương thực, lúc nóng bức không rời gió nước trong mát, tiết nghiêm hàn không rời sưởi ấm, sang sông không rời thuyền câu, đau bệnh không rời thuốc hay; Bồ Tát không rời chư Phật còn qúa hơn các việc như trên. Tại sao thế? Bởi dù là cha mẹ, hàng thân thuộc, bậc thiện tri thức, ngôi vua chúa, hay các đấng thiên vương cũng không thể làm lợi ích cho chúng sanh bằng Phật. Chư Phật có đủ năng lực đưa loài hữu tình lìa các cảnh khổ, lần lần tiến lên ngôi vị Thế Tôn....

Hỏi: Làm thế nào để thường được gần gũi chư Phật?

Đáp: Chúng sanh luân hồi từ vô thỉ kiếp, tạo vô lượng tội chướng nhân duyên. Cho nên, dù có tu phước đức, trí tuệ vẫn kém ít, dù có tu trí huệ, phước đức cũng không được bao nhiêu. Bồ tát khi cầu Phật đạo, cần phải thực hành sanh nhẫn và pháp nhẫn. Do thực hành sanh nhẫn, đối với tất cả chúng sanh phát tâm từ bi hỷ xả, nên diệt được tội chướng trong vô lượng kiếp, sanh vô lượng phước đức căn lành. Do thực hành pháp nhẫn, nên phá hết các vô minh về pháp chấp, sanh vô lượng trí tuệ. Nếu hai hạnh ấy được hòa hiệp, thì đời đời không xa rời chư Phật.

Lại một hạnh: Ví như chúng sanh tâm dục nặng; thì đọa làm thân dâm điểu; tâm sân nặng thì thọ sanh trong loài độc trùng. Nếu kẻ nào thường niệm Phật, ưa thích cõi Phật, không tham phước báu cõi nhân thiên, tất sẽ tùy tâm mến trọng của mình, quyết được sanh về Tịnh Độ, thường gần gũi chư Phật....”

Luận Tỳ Bà Sa:

“Đức Phật A Di Đà có bản nguyện như thế này: “Nếu người xưng niệm danh hiệu và quy y nơi ta, kẻ ấy quyết được quả Vô Thượng Bồ Đề”. Cho nên, phải thường nhớ niệm Phật. Lại dùng kệ khen ngợi Phật rằng:

Nếu người muốn thành Phật
Xưng niệm A Di Đà
Ứng thời vì hiện thân
Nên nay con quy mạng.

Do sức nguyện Phật kia
Mười phương chư Bồ Tát
Đến nghe pháp cúng dường
Nên con cúi đầu lễ.

Các Bồ Tát cõi ấy
Đầy đủ những tướng hảo.
Thân đẹp tự trang nghiêm
Nên con lạy quy y.

Chư Bồ Tát Cực Lạc
Mỗi ngày trong ba thời
Cúng dường Phật mười phương
Nên con cúi đầy lạy.

Nếu người trồng căn lành
Nghi thì hoa không nở
Kẻ lòng tin thanh tịnh
Hoa nở được thấy Phật.

Hiện tại Phật mười phương
Dùng các thứ nhân duyên
Khen công đức Di Đà
Nên con quy mạng lễ.

Cõi Cực Lạc nghiêm đẹp
Mầu nhiệm hơn thiên cung
Công đức rất sâu dầy
Nên con lễ chân Phật.

9. Thiên Thân Bồ Tát khuyên người niệm Phật

Ngài người xứ Thiên Trúc, lúc đầu theo Tiểu Thừa, sau theo Đại Thừa. Ngài trước tác 1000 bộ luận nên có hiệu là Thiên Thân.

Trong bộ Vãng Sanh Luận Ngài dạy:

“Vô Lượng Thọ Kinh Luận nói: “Nếu tu ngũ niệm môn thành tựu, kết quả sẽ được vãng sanh về Cực Lạc, thấy Phật A Di Đà. Ngũ niệm môn là gì?

Lễ bái môn

Tán thán môn

Phát nguyện môn

Quán sát môn

Hồi hướng môn.

Lễ bái là thế nào? Ấy là dùng thân lễ Đức Phật A Di Đà, tỏ ý cung kính, cầu Phật nhiếp thọ.

Tán thán môn là thế nào? Đây là dùng miệng khen ngợi sắc thân, danh nghĩa, ánh sáng, trí huệ của Đức Như Lai kia, muốn tu hành như thật cho được tương ưng.

Phát Nguyện môn? Ấy là một lòng chuyên niệm vào nơi chánh định, nguyện sanh về Cực Lạc.

Quán sát là thế nào? Đây là dùng chánh niệm quán sát công đức trang nghiêm của cõi Cực Lạc, công đức trang nghiêm của Phật A Di Đà, và công đức trang nghiêm của chư Bồ Tát, và Thánh Chúng.

Hồi hướng là thế nào? Ấy là tâm từ bi không bỏ những chúng sanh khổ não, nguyện đem căn lành công đức của mình, hồi hướng cầu cho tất cả loài hữu tình đều được sanh về Cực Lạc”.

10. Trích dẫn “Thuyết Chuyên Tu Và Tạp Tu Tịnh Nghiệp” của tổ Thiện Đạo:

“Có người gạn hỏi:

- Sao Hòa thượng không dạy người Quán tưởng Phật, mà chỉ bảo chuyên Trì danh?

Ngài đáp:

- Chúng sinh đời này phần nhiều chướng nặng tâm thô, thức thần tán động, mà cảnh Tịnh Độ rất tế diệu, nên Quán tưởng khó thành. Vì thế, đức Phật xót thương, khuyên thẳng nên xưng danh hiệu. Chính vì xưng danh là hạnh dễ làm, nếu cứ giữ mỗi niệm nối nhau tu như thế suốt đời, thì mười kẻ niệm mười kẻ được vãng sinh, trăm người tu trăm người về Tịnh Độ. Tại sao thế? Vì không duyên tạp bên ngoài, nên dễ được chánh niệm. Vì cùng với bản nguyện của Phật hợp nhau. Vì không trái với kinh giáo. Vì thuận theo lời Phật.

- Nếu bỏ chuyên niệm, tu xen tạp những hạnh khác, trong trăm ngàn người chỉ hy vọng được ba bốn kẻ vãng sinh. Bởi tại sao? Vì duyên tạp loạn động khiến cho mất chánh niệm; vì không hợp với bản nguyện của Phật A Di Đà; vì trái với kinh giáo và không thuận lời Phật; vì sự hệ niệm không nối tiếp nhau; vì tâm không thường nhớ báo đáp ơn Phật; vì tuy hành đạo mà thường tương ưng với danh lợi; vì thích theo duyên tạp, làm chướng chánh hạnh vãng sinh của mình và người. Mong tất cả mọi người khéo tự tư duy, khi đi đứng nằm ngồi phải cố gắng nhiếp tâm ngày đêm chớ rời Thánh Hiệu, thề quyết giữ đến hơi thở cuối cùng. Như thế tới lúc mãn phần, niệm trước vừa thọ chung, niệm sau liền sinh Cực Lạc. Từ đây, vĩnh viễn hưởng sự vui pháp lạc vô vi cho đến khi thành Phật, há chẳng đáng mừng ư”.

11. Trích dẫn “Vãng Sinh Tịnh Độ Quyết Nghi Hạnh Nguyện Nhị Môn” của Đại sư Tuân Thức:

“Phàm xử lý việc công hay tư, có nhiều việc để làm, tuy vội vàng mà trong lòng chẳng quên Phật và nhớ Tịnh Độ. Ví như người đời có việc cấp thiết trong lòng, dù nói năng, đi lại, ngồi nằm nhưng vẫn âm thầm nghĩ nhớ việc ấy rất rõ ràng. Tâm của người niệm Phật cũng phải như thế. Nếu như lãng quên thì phải luôn luôn thâu nhiếp trở lại, lâu dần thành thói quen, tự nhiên thường nhớ. Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật niệm Phật, hiện tại tương lai nhất định thấy Phật, cách Phật không xa. Chẳng nhờ phương tiện, tự được tâm khai ngộ”. Buộc tâm như thế, tự nhiên thường ngăn chặn tất cả niệm ác; dù muốn làm ác nhưng do nhớ Phật nên việc ác không thể thành; dù cho khi theo niệm ác tạo nghiệp ác nhưng tâm vẫn thường hổ thẹn khiêm tốn, ví như trong mình có mùi thơm, tự nhiên không còn mùi hôi thối.

Hơn nữa, phải biết lúc tâm vừa khởi niệm ác vi tế thì liền nhớ Phật, do sức mạnh của Phật nên niệm ác tự dứt, như người gặp nạn cầu người kia cứu giúp, nhất định được thoát khỏi. Nếu lúc thấy người khác chịu khổ, do trong tâm niệm Phật nên thương xót mong họ lìa khổ. Nếu là người phán xét tội nhân để hình phạt và hạ ngục, do niệm Phật nên sinh tâm thương xót, tuy y theo pháp luật nhưng phải thầm nguyện rằng: “Ta thi hành pháp luật, chẳng phải là bản ý của ta, nguyện người được vãng sinh Tịnh Độ, thệ sẽ cứu tế lẫn nhau”. Nói chung, trải qua tất cả mọi nơi mọi việc, hoặc thiện hoặc ác, do tâm nhớ Phật nên thường thệ nguyện. Trong Nguyện Vương của ngài Phổ Hiền nói: “Tất cả việc ác thảy đều chẳng thành, còn làm việc lành thì đều mau thành tựu”. Đó tức là ý này. Niệm Phật liên tục trong lòng, có thể làm thành tất cả công đức của nhân Tịnh Độ”.

12. Trích dẫn “Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự” của Đại sư Trung Phong:

“Giáo pháp Tịnh Độ được thành lập bởi 48 nguyện lực sâu nặng đại từ đại bi của Phật A Di Đà, thâu nhận tất cả chúng sinh trong mười phương, hễ ai đầy đủ lòng tin đều được vãng sinh.

Tin là tin có Tây Phương Tịnh Độ, tin có Phật A Di Đà thâu nhận chúng sinh, tin những chúng sinh chúng ta có phần vãng sinh.

Tin mà không thật hành thì chẳng thành tựu lòng tin. Hành là như trong kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhiếp cả sáu căn, Tịnh niệm tiếp nối”. Kinh A Di Đà bảo rằng: “Nghe nói về Phật A Di Đà, nắm giữ danh hiệu, một ngày, hai ngày, cho đến bảy ngày nhất tâm không loạn”. Thực hành như thế, đó gọi là thực hành chân chánh.

Thực hành mà chẳng có nguyện thì chẳng thành tựu sự thực hành.

Nguyện là phải tương ưng với từng nguyện trong 48 nguyện của Phật A Di Đà, đó là đại nguyện.

Tín Hạnh Nguyện là ba chân của cái đảnh, thiếu một tất không thể được. Nên biết, một niệm hiện giờ vốn tự viên mãn thường hằng, Tín Hạnh Nguyện nguyên là tánh đức như thế, xưa nay vốn có của chính mình. Nay chỉ là làm hiển bày phát khởi ánh sáng của bản tánh mà thôi.

Ngay khi vọng tâm tạp loạn, liền đề khởi một niệm như đối trước đấng Từ Tôn, nắm vững sáu chữ Hồng danh, mỗi câu mỗi câu miệng niệm tai nghe, sự tạp loạn ấy tự nhiên theo đó lặng lẽ. Từ một niệm đến mười niệm, cho đến niệm niệm chẳng đổi dời, đó chính là chỗ trong kinh gọi Tịnh niệm tiếp nối.

Người niệm Phật cần phải có lòng tin tha thiết, chánh nhân mạnh mẽ, nghĩ nhớ về sự sinh tử luân hồi đáng buồn thương, chán nản cảnh trần lao lăng xăng mà đau lòng. Đề khởi một danh hiệu Phật, ngay đó liền không có cái thấy nào khác, cho đến nhất tâm không loạn, năng sở đều quên, chẳng cần nói về việc đến nhà, đâu nhọc gì đề cập đến danh từ thẳng tắt, đây thật đáng gọi là: Thuật thần diệu để chứng đắc sự tu hành, con đường chân chánh vượt qua phương tiện”.

13. Trích dẫn “Tịnh Độ Hoặc Vấn” của Đại sư Thiên Như:

“Kiếp người mong manh như đá chạm nháng lửa, như chớp giật lưng trời, mới còn đó đã mất đi, có chi là trường cửu? Thừa lúc chưa già chưa bệnh, gác qua thế sự, rủ sạch thân tâm, còn sống được một ngày lo một ngày niệm Phật, được một thời công phu tu một thời Tịnh nghiệp, dù có chết tốt hay chết xấu, lộ phí của ta đã chuẩn bị sẵn rồi, con đường phía trước chắc chắn là êm đẹp.

Ở đời, nếu là người thiết tha nghĩ đến vô thường, dụng tâm chân thật, thì chẳng cần biết khổ hay vui, thuận hay nghịch, ồn ào hay yên lặng, rảnh hay bận, mặc kệ việc chung hay riêng, tiếp người đãi khách, lắm duyên phiền nhiễu, ứng phó nhiều mặt, đều không cản trở được việc niệm Phật của người ấy.

Nếu duyên thế tục còn nặng, khả năng mình còn kém, cũng nên tranh thủ chút thời gian trong lúc bận rộn, cốt tìm lấy chút yên lặng trong chỗ ồn ào. Mỗi ngày có thể niệm ba vạn câu hoặc một vạn, hoặc ba ngàn, hoặc một ngàn, nên định chắc số lượng làm thời khóa, không được phép bỏ qua một ngày. Nếu quá bận rộn, không có thời gian rảnh rỗi thì mỗi sáng sớm phải niệm mười niệm, tích góp lâu ngày sẽ thành công, cũng chớ để luống qua. Ngoài việc niệm Phật, có thể lễ Phật tụng kinh, sám hối, phát nguyện, kết đủ mọi duyên, làm đủ các phước thiện, bố thí tùy sức, tu các thiện nghiệp để trợ giúp việc niệm Phật. Dù làm được một việc lành nhỏ, cũng nên hồi hướng về Tây Phương. Nếu dụng công như thế, không chỉ chắc chắn được vãng sinh mà còn nâng cao phẩm vị.

Chuyên trì danh hiệu, thêm lễ Phật sám hối rất phù hợp với thuyết chuyên tu không gián đoạn của ngài Thiện Đạo. Chuyên tu không gián đoạn, tức thân phải chuyên lễ Phật A Di Đà không lễ các Phật khác; miệng phải chuyên xưng danh hiệu Phật A Di Đà không xưng hiệu Phật khác hoặc tụng các kinh khác; ý phải chuyên quán tưởng Phật A Di Đà không quán tưởng gì khác. Nếu khởi tham sân si làm gián đoạn công phu liền phải sám hối ngay, không để cách ngày, cách đêm và cách giờ. Thường giữ được thanh tịnh cũng gọi là chuyên tu không gián đoạn.

Phương pháp buộc niệm chẳng hạn cuộc đi đứng nằm ngồi, chỉ cốt ở chỗ chí thành, niệm niệm tiếp nối tâm không gián đoạn, dám bảo đảm mắt thịt ở hiện đời liền có thể thấy Phật, hoặc thấy ánh sáng, hoặc được xoa đảnh, đâu phải đợi đến lúc mạng chung! Đây là một pháp môn thẳng tắt, rất đơn giản, rất trọng yếu, cực kỳ linh nghiệm”.

14. Trích dẫn “Linh Phong Tông Luận” của Đại sư Ngẫu Ích:

“Niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ là một pháp môn thâu nhiếp trọn vẹn trăm ngàn pháp môn, chẳng phải nêu một mà phế bỏ tất cả. Chỉ cần vào sâu một môn, lấy niệm Phật làm chánh hạnh, tất cả giới định tuệ làm trợ hạnh. Chánh, trợ cùng thực hành như thuyền thuận gió, lại thêm đôi chèo tốt, dây thừng to thì mau chóng đến bờ. Pháp niệm Phật tuy nhiều, Trì danh là giản tiện nhất; pháp Trì danh cũng nhiều, nhớ số là ổn thỏa nhất. Người chân thật tu trì, đâu mong cầu khác lạ với hàng ngu phu ngu phụ!

Ra khỏi nhà lửa ba cõi, có hai con đường ngang và dọc. Dùng tự lực đoạn hoặc vượt thoát sinh tử, gọi là ra khỏi ba cõi theo chiều dọc, đó là việc khó, phải dần dần mới thành công. Nhờ Phật lực tiếp dẫn vãng sinh Tây Phương, gọi là ra khỏi ba cõi theo chiều ngang, đó là việc dễ, lại nhanh chóng thành công. Tổ Huệ Viễn nói: “Thành công cao, dễ tiến tu; niệm Phật là bậc nhất”. Kinh Đại Tập nói: “Thời mạt pháp, ức ức người tu hành, hiếm có ai thành đạo, chỉ nương nơi Pháp Môn Niệm Phật mà được giải thoát”, ví như thuyền vượt qua biển chẳng nhọc công sức. Người có thể tin tưởng lối tắt Tây Phương, chí thành phát nguyện, nhất tâm niệm Phật cầu vãng sinh là bậc đại trượng phu chân chánh. Nếu lòng tin không chân thật, phát nguyện không khẩn thiết, thực hành không gắng sức, Phật dù có đại từ bi làm thuyền, nhưng nếu chúng sinh chẳng chịu lên thuyền, cũng không làm sao được!

Muốn nhanh chóng thoát khỏi nỗi khổ luân hồi, không gì bằng trì danh niệm Phật cầu sinh về thế giới Cực Lạc. Muốn chắc chắn vãng sinh cõi Cực Lạc, không gì bằng lấy lòng tin làm người dẫn đường phía trước, sự phát nguyện làm người thúc đẩy ở sau. Tin sâu, nguyện tha thiết, dù tâm tán loạn niệm Phật cũng được vãng sinh. Tin không chân thật, nguyện không mạnh mẽ, dù nhất tâm không loạn cũng chẳng được vãng sinh.

Sao gọi là tin?

1. Tin nguyện lực của Phật A Di Đà.

2. Tin lời dạy của Phật Thích Ca.

3. Tin lời khen ngợi của chư Phật trong sáu phương.

Không tin những điều ấy, thật không thể cứu độ. Cho nên, trước phải tin sâu đừng sinh khởi nghi hoặc.

Sao gọi là nguyện?

Lúc nào cũng chán nản nỗi khổ sinh tử nơi Ta Bà, ưa thích niềm vui giác ngộ nơi Tịnh Độ. Có làm việc gì, hoặc thiện hoặc ác, thiện thì hồi hướng cầu vãng sinh, ác thì sám hối nguyện cầu vãng sinh, hoàn toàn không có hai chí hướng. Đó là nguyện.

Tín Nguyện đã đầy đủ thì niệm Phật mới là chánh hạnh, sửa ác làm lành đều là trợ hạnh. Tùy công phu sâu cạn phân ra chín phẩm bốn cõi, chẳng lạm mảy may, chỉ cần chính mình kiểm xét, chẳng cần hỏi han kẻ khác.

Người tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật, nhưng khi niệm Phật tâm nhiều tán loạn, chỉ được sinh về Hạ phẩm Hạ sinh. Tâm loạn dần ít, được sinh về Hạ phẩm Trung sinh. Không còn tán loạn, được sinh về Hạ phẩm Thượng sinh.

Niệm đến Sự nhất tâm không loạn, chẳng khởi tham sân si, được sinh về ba phẩm Trung. Niệm đến Sự nhất tâm không loạn, tự nhiên trước đoạn kiến tư trần sa hoặc, cũng có thể hàng phục và đoạn trừ vô minh, được sinh về ba phẩm Thượng.

Thế nên, Tín Nguyện Trì danh niệm Phật có thể trải qua chín phẩm, xác thật không sai lầm.

Hơn nữa, người Tín Nguyện Trì danh tiêu trừ hàng phục nghiệp chướng, còn lậu hoặc được vãng sinh thì ở cõi Phàm Thánh Đồng Cư.

Đoạn sạch kiến tư hoặc mà vãng sinh thì ở cõi Phương Tiện Hữu Dư.

Phá tan một phần vô minh mà vãng sinh thì ở cõi Thật Báo Trang Nghiêm.

Trì niệm đến chỗ cứu cánh, đoạn sạch vô minh mà vãng sinh thì ở cõi Thường Tịch Quang.

Thế nên, Trì danh có thể làm thanh tịnh bốn cõi, cũng là điều xác thực không sai lầm.

Hỏi: Làm sao Trì danh có thể đoạn trừ vô minh?

Đáp: Danh hiệu Phật được trì, không luận là ngộ cùng chẳng ngộ, đều là Nhất cảnh Tam đế. Tâm niệm hay trì, không luận là thông đạt hay không thông đạt, đều là Nhất tâm Tam quán. Chỉ vì chúng sinh vọng tưởng chấp trước, tình kiến phân biệt, cho nên không khế hợp chỗ chân thường viên mãn. Đâu biết rằng, tâm hay trì niệm tức là Thỉ giác, danh hiệu Phật được niệm tức là Bản giác. Nay ngay đó trì niệm, ngoài sự trì niệm không có Phật, ngoài Phật không có sự trì niệm, năng sở không hai, thì Thỉ giác hợp với Bản giác, gọi là Cứu cánh giác .

Pháp Môn Niệm Phật không có gì kỳ đặc, chỉ cần tin sâu, giữ chặt, ngay đó niệm đi! Một ngày đêm niệm đến mười vạn, năm vạn, ba vạn câu làm chuẩn, nhất định không thiếu. Trong một ngày niệm ra tiếng một cây hương, niệm thầm một cây hương, xoay vần không gián đoạn, phải lấy nhất tâm không loạn làm kỳ hạn, cho đến hết đời này thề không thay đổi. Như thế, nếu không được vãng sinh thì chư Phật ba đời đã nói dối. Một khi đã được vãng sinh vĩnh viễn không bao giờ thối lui, tất cả các pháp môn đều được hiện tiền. Rất kỵ hôm nay thế này, ngày mai thế khác. Chẳng hạn như gặp người theo giáo môn thì nghĩ đến việc tầm chương, trích cú; gặp người tu thiền lại muốn tham cứu hỏi đáp; gặp người trì luật thì nghĩ đến việc đắp y, ôm bát. Như thế, nơi nơi đều không rõ, việc việc cũng chẳng hay. Ông đâu biết rằng: “Niệm Phật A Di Đà đã thành thục, giáo lý cùng tột của ba tạng, mười hai phần giáo đều ở trong đó; một ngàn bảy trăm tắc công án, nghĩa thiền cùng tột cũng ở trong đó; ba ngàn oai nghi, tám muôn tế hạnh, ba tụ tịnh giới, cũng ở trong đó. Người chân thật niệm Phật: thân tâm, thế giới đều buông bỏ, đó là đại bố thí; không khởi tham, sân, si, đó là đại trì giới; không chấp thị phi, nhân ngã, đó là đại nhẫn nhục; không còn một chút gián đoạn, xen tạp, đó là đại tinh tấn; không còn rong ruổi theo vọng tưởng, đó là đại thiền định; không bị lối tẻ khác mê hoặc, đó là đại trí tuệ”.

Hãy tự kiểm điểm xem, nếu thân tâm thế giới chưa chịu buông bỏ, niệm tham sân si vẫn còn dấy lên, thị phi nhân ngã còn ôm giữ, gián đoạn xen tạp còn chưa trừ, vọng tưởng còn rong ruổi chưa dứt, những lối tẻ khác còn có thể mê hoặc tâm trí, thì biết chẳng phải là chân thật niệm Phật. Muốn đạt tới cảnh giới nhất tâm không loạn, đầu tiên khi hạ thủ công phu, cần phải dùng tràng hạt, niệm niệm ghi nhớ rõ ràng, ấn định thời khóa nhất định không được thiếu, lâu ngày thuần thục, không niệm cũng tự niệm, sau đó nhớ cũng được, không nhớ cũng được. Nếu bước đầu vội muốn lộ vẻ mình hay giỏi, muốn tỏ ra không trước tướng, muốn học lối viên dung tự tại, rốt cuộc niệm lực khó thành. Đây nói chung bởi tin chưa sâu, thực hành chưa hết sức, dù cho ông có là người giảng rộng mười hai phần giáo, hay trình bày được một nghìn bảy trăm chuyển ngữ cũng chỉ là việc làm bên bờ sinh tử. Đến lúc lâm chung, những thứ đó nhất định không dùng được! Trân trọng!”

15. Trích dẫn “Ngữ Lục” của Đại sư Triết Ngộ:

“Tất cả pháp môn lấy việc minh tâm làm thiết yếu, tất cả hạnh môn lấy việc tịnh tâm làm thiết yếu. Song mà, cốt yếu của chỗ minh tâm không gì bằng niệm Phật. “Nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền tương lai nhất định thấy Phật. Chẳng nhờ phương tiện tự được tâm khai ngộ”. Niệm Phật như thế chẳng phải là chỗ cốt yếu của sự minh tâm sao?

Hơn nữa, chỗ cốt yếu của việc tịnh tâm cũng không gì bằng niệm Phật. Một niệm tương ưng, một niệm là Phật; mỗi niệm tương ưng, mỗi niệm là Phật. Thanh châu gieo vào nước đục, nước đục không thể không trong; Phật hiệu gieo vào tâm loạn, tâm loạn không thể không thành Phật. Niệm Phật như thế chẳng phải cốt yếu của tịnh tâm sao?

Một câu Phật hiệu đều thâu nhiếp chỗ cốt yếu của hai môn ngộ và tu. Nói về ngộ thì tín ở trong ấy, nói về tu thì chứng ở trong ấy. Tin hiểu, tu chứng đều thâu nhiếp; chỗ cốt yếu của Đại Thừa, Tiểu Thừa và tất cả các kinh điển đều bao hàm trọn vẹn. Vậy thì một câu A Di Đà chẳng phải là đạo chí yếu sao?

Một tâm niệm hiện giờ của chúng ta hoàn toàn chân mà thành vọng, hoàn toàn vọng mà tức là chân, trọn ngày bất biến, trọn ngày tùy duyên. Hễ không theo duyên pháp giới Phật mà niệm Phật thì niệm chín pháp giới kia. Không niệm Tam thừa thì niệm Lục phàm; không niệm người trời thì niệm Tam đồ; không niệm ngạ quỷ, súc sinh thì niệm địa ngục. Bởi vì, hễ còn nơi hữu tâm thì không thể vô niệm. Tâm thể vô niệm chỉ riêng Phật chứng ngộ, từ Đẳng Giác trở xuống đều là còn niệm. Nếu khởi một niệm tất rơi vào mười pháp giới, không có niệm nào ra ngoài mười pháp giới. Vì mười pháp giới bao hàm tất cả, mỗi khi khởi một niệm là một duyên để thọ sinh. Nếu người biết lý này mà không niệm Phật thì chưa có điều đó.

1. Nếu tâm này có thể tương ưng với bình đẳng, đại từ, đại bi, công đức của y báo chánh báo và Vạn đức Hồng danh tức là niệm pháp giới Phật.

2. Nếu tâm này có thể tương ưng với tâm Bồ Đề, Lục Độ Vạn hạnh, tức là niệm pháp giới Bồ Tát.

3. Dùng tâm vô ngã tương ưng với mười hai nhân duyên, tức là niệm pháp giới Duyên Giác.

4. Dùng tâm vô ngã quán sát Tứ Đế, tức là niệm pháp giới Thanh Văn.

5. Hoặc tương ưng với Tứ thiền, Bát định và Thượng phẩm Thập thiện, tức là niệm pháp giới Trời.

6. Nếu tương ưng với ngũ giới, tức là niệm pháp giới Người.

7. Nếu tu các pháp giữ giới làm lành mà còn tâm sân hận, kiêu mạn, hơn thua, tức là rơi vào pháp giới A tu la.

8. Nếu dùng tâm chậm yếu niệm Hạ phẩm thập ác, tức là rơi vào pháp giới Súc sinh.

9. Hoặc dùng tâm vừa hưỡn vừa gấp tương ưng với Trung phẩm thập ác, thì rơi vào pháp giới Ngạ quỷ.

10. Nếu dùng tâm mãnh liệt tương ưng với Thượng phẩm thập ác, tức là rơi vào pháp giới Địa ngục.

Thập ác là sát sinh, trộm cướp, tà dâm, nói dối, nói thêu dệt, nói lời ác, nói hai lưỡi, tham, sân, tà kiến. Ngược lại những điều này tức là Thập thiện. Nên thầm tự kiểm điểm những ý niệm sinh khởi hằng ngày, xem coi tương ưng với pháp giới nào nhiều. Nếu tương ưng với pháp giới nào mạnh, chỗ an thân lập mạng sau này không cần phải nhọc hỏi người khác nữa.

Một niệm hiện giờ của chúng ta duyên sinh không tánh, không tánh duyên sinh, chẳng sinh pháp giới Phật thì sinh chín pháp giới kia. Nếu ước về duyên sinh không tánh thì chúng sinh và chư Phật bình đẳng một tánh không. Ước về không tánh duyên sinh, thì mười pháp giới hơn kém cách xa.

Vua A Xà Thế lúc lâm chung, do người đuổi ruồi lấy phất trần phất qua mặt. Ông khởi một niệm sân hận liền đọa làm rắn độc.

Một người phụ nữ qua sông xảy tay, làm đứa con rơi xuống nước. Vì mò tìm con nên bị chết chìm, bởi lòng từ mà được sinh lên cõi trời.

Ôi! Một niệm từ bi và sân hận, bèn phân ra cõi trời và súc sinh. Thế thì một niệm duyên sinh lúc lâm chung, có thể không cẩn thận được sao? Nếu dùng tâm này, duyên niệm Phật A Di Đà cầu sinh Tịnh Độ sẽ thấy Phật, được vãng sinh. Nhưng một niệm này không thể cầu may mà được, cần phải giữ gìn chân thật thường ngày thuần thục. Thế nên, chúng ta niệm ngàn muôn lần một câu A Di Đà này, cho đến niệm trọn ngày trọn năm, đều là để làm thuần thục một niệm này mà thôi. Nếu được một niệm thuần thục, thì khi lâm chung chỉ có một niệm này không còn niệm nào khác. Đại sư Trí Giả nói: “Khi lâm chung, tâm ở nơi định là tâm thọ sinh Tịnh Độ”. Chỉ có một niệm này, không còn niệm nào khác, như vậy chẳng phải là tâm ở nơi định hay sao? Nếu niệm được như thế mà không thấy Di Đà thì còn thấy ai? Chẳng sinh về Tịnh Độ thì còn sinh về nơi nào? Chỉ e chúng ta tự tin không nổi thôi.

“Thật vì sinh tử, phát Tâm Bồ Đề.

Lấy Tín Nguyện sâu, trì danh hiệu Phật”.

Mười sáu chữ này là toàn bộ cương lĩnh của Pháp Môn Niệm Phật. Nếu tâm “thật vì sinh tử” không phát khởi thì tất cả lời khai thị đều trở thành luận bàn vô ích.

Tất cả nỗi thống khổ ở thế gian không gì hơn sinh tử. Chẳng thoát khỏi sinh tử, thì sinh tử tử sinh, sinh sinh tử tử, ra khỏi một bào thai lại vào một bào thai, bỏ một đãy da lại lấy một đãy da, khổ đã chẳng kham, huống chi luân hồi chưa ra khỏi, khó tránh đọa lạc. Một niệm sai lầm liền vào nẻo ác, ba đường dễ vào khó ra, địa ngục trường kỳ thống khổ. Vừa nghĩ đến điều này trong lòng như lửa đốt. Thế nên, hiện nay xét nghĩ thống thiết về sinh tử như an táng mẹ cha, như cứu lửa cháy đầu.

Song mà, ta có sinh tử, ta mong cầu ra khỏi, mà tất cả chúng sinh đều ở trong sinh tử cũng nên ra khỏi. Họ với ta vốn đồng một thể, đều là cha mẹ nhiều đời, là chư Phật vị lai. Nếu chẳng nghĩ suy độ khắp, chỉ mong cầu lợi ích riêng mình, đối với lý có điều thiếu sót, nơi lòng có chỗ chưa an. Huống nữa, nếu không phát tâm rộng lớn thì ở ngoài không thể cảm thông với chư Phật, bên trong không thể khế hợp bản tâm; bên trên không thể thành Phật đạo trọn vẹn, ở dưới không thể lợi ích chúng sinh rộng lớn. Ân ái từ vô thỉ làm sao giải thoát, oán hờn lầm lỗi bao đời làm sao cởi mở, tội nghiệp nhiều kiếp khó thể sám trừ, căn lành bao đời khó thể thành thục. Tùy sự tu hành, vướng nhiều chướng duyên, dù có được thành tựu cuối cùng cũng rơi vào nơi nhỏ hẹp nghiên lệch.

Thế nên, phải xứng với bản tánh phát tâm Đại Bồ Đề. Tâm rộng lớn đã phát nên tu hạnh rộng lớn. Nhưng trong tất cả hạnh môn, thì môn thực hành dễ nhất, thành tựu dễ nhất, ổn thỏa hoàn toàn, viên đốn cùng tột, thì không gì bằng “lấy Tín Nguyện sâu, trì danh hiệu Phật”.

Bảo rằng tin sâu nghĩa là: Phạm âm của Thích Ca Như Lai quyết không lừa dối, tâm đại từ bi của Thế Tôn Di Đà quyết chẳng nguyện suông. Hơn nữa, lấy nhân niệm Phật cầu vãng sinh, tất cảm quả thấy Phật vãng sinh, như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu; vang thì ứng tiếng, bóng ắt theo hình.

Nếu nhân đã chân thì quả sẽ thật. Điều ấy có thể không đợi hỏi Phật cũng tự tin được. Huống chi, một niệm tâm tánh hiện giờ của chúng ta, trọn ngày tùy duyên, trọn ngày bất biến, dọc ngang cùng khắp. Ngay nơi thể không gì ở ngoài, Di Đà Tịnh Độ đều ở trong đây. Đem tâm Phật của ta, niệm Phật nơi tâm của ta. Lẽ nào Phật nơi tâm của ta chẳng ứng với tâm Phật của ta hay sao?

Truyện vãng sinh ghi chép tướng lành lúc lâm chung hàng hàng lớp lớp, lẽ nào lại lừa gạt ta sao? Tin như thế rồi nguyện ưa thích thiết tha. Lấy niềm vui ở cõi kia, xem lại nỗi khổ nơi Ta Bà, tâm chán lìa sẽ sâu sắc như rời hầm phẩn, như ra lao ngục. Lấy nỗi khổ nơi Ta Bà trông về niềm vui Cực Lạc, tâm chán nản ưa thích tự nhiên khẩn thiết như về cố hương, như đến Bảo sở. Nói tóm lại, như khát nghĩ đến uống, như đói nghĩ đến ăn, như bệnh khổ nghĩ đến thuốc hay, như trẻ thơ nghĩ về từ mẫu, như tránh kẻ thù cầm dao bức bách, như rơi vào nước lửa cấp thiết cầu cứu vãn. Nếu có thể khẩn thiết như thế, tất cả cảnh duyên không thể dẫn dắt được.

Sau đó, lấy tâm Tín Nguyện này chấp trì danh hiệu. Trì một tiếng là một hạt giống nơi chín phẩm, niệm một câu là một chánh nhân của sự vãng sinh. Cần phải tâm tâm tương tục, niệm niệm không khác, chỉ chuyên tâm, chỉ cần mẫn, không xen tạp, không gián đoạn, càng lâu dài càng bền chắc, càng trì niệm càng thiết tha. Trải qua lâu dài tự thành một khối vào nơi nhất tâm không loạn. Quả thật như thế, nếu không vãng sinh thì Thích Ca Như Lai là người nói dối, Thế Tôn Di Đà chỉ lập nguyện suông. Lẽ nào lại có việc ấy hay sao?

Hiện trạng sinh tử của chúng ta chỉ do hai thứ: tâm lực và nghiệp lực.

Tâm lực là tâm niệm có nhiều mối, khi lâm chung đi theo mối nặng nhất. Nghiệp lực cứ như người mang nợ, chủ nợ mạnh lôi kéo trước tiên. Nghiệp lực tuy lớn, nhưng tâm lực lại càng lớn hơn. Bởi nghiệp không tự tánh, hoàn toàn nương nơi tâm.

Tâm hay tạo nghiệp, tâm hay chuyển nghiệp, nên khi tâm chú trọng thì làm cho nghiệp thêm mạnh, mới hay dẫn dắt thọ sinh. Nếu ta dùng tâm chú trọng tu Tịnh nghiệp thì Tịnh nghiệp mạnh. Tâm chú trọng, nghiệp mạnh chỉ hướng tới Tây Phương, khi lâm chung quyết định sinh về Tây Phương, chẳng sinh vào nơi khác. Ví như cây to, tường cao bình thường nghiêng về phía Tây, ngày kia khi ngã đổ tất không về chỗ khác.

Thế nào là tâm chú trọng? Chúng ta tu tập Tịnh nghiệp, lòng tin quý ở nơi sâu, chí nguyện quý ở nơi tha thiết. Do tin sâu, nguyện tha thiết, nên tất cả tà thuyết không thể lay động mê hoặc, tất cả cảnh duyên không thể kéo lôi. Giả sử khi ta đang niệm Phật, bỗng Tổ Đạt Ma hiện ra bảo rằng: “Ta có pháp Thiền chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Ông hãy bỏ niệm Phật, ta sẽ trao cho ông pháp Thiền ấy!”. Lúc ấy, chỉ nên lễ bái Tổ sư mà thưa: “Trước kia con đã thọ giáo pháp môn niệm Phật của Thích Ca Như Lai, phát nguyện thọ trì trọn đời chẳng đổi. Tổ sư tuy có truyền đạo vi diệu, nhưng con không dám trái với thệ nguyện của chính mình!”. Dù Phật Thích Ca hiện thân bảo rằng: “Trước kia ta nói Pháp Môn Niệm Phật chỉ là phương tiện nhất thời thôi. Nay có pháp môn thù thắng hơn cả pháp ấy, ông nên ngừng niệm Phật ta sẽ nói pháp thù thắng này ngay!”. Bấy giờ, chỉ nên cúi đầu bày tỏ với Phật: “Trước kia con tiếp nhận Pháp Môn Tịnh Nghiệp của Thế Tôn, phát nguyện nếu còn một hơi thở quyết chẳng đổi thay. Như Lai tuy có pháp thù thắng, nhưng con không dám trái với bản nguyện của chính mình!”.

Dù Phật Tổ hiện thân còn chẳng thay đổi lòng tin, huống là thuyết giả dối của ma vương ngoại đạo, há đủ để dao động ta sao? Tin được như thế mới gọi là lòng tin sâu chắc.

Về phần nguyện, ví như có vòng sắt nóng đỏ xoay vần trên đầu, cũng không vì sự khổ ấy mà thối thất chí nguyện vãng sinh. Nếu như có cảnh dục lạc tuyệt vời của Chuyển Luân Vương hiện đến, cũng không vì sự vui sướng đó mà thối thất chí nguyện vãng sinh. Gặp những cảnh duyên thuận nghịch cùng cực như thế còn chẳng thay đổi chí nguyện, huống là cảnh thuận nghịch nhỏ nhặt ở thế gian, lẽ nào có thể lôi kéo được sao? Nguyện như thế, nguyện ấy mới đáng gọi là chí nguyện tha thiết.

Lòng tin sâu chắc, chí nguyện tha thiết gọi là tâm chú trọng. Dùng tâm này tu Tịnh nghiệp thì Tịnh nghiệp rất mạnh mẽ, do tâm chú trọng nên dễ thuần thục, do nghiệp mạnh mẽ nên dễ chín mùi. Khi Tịnh nghiệp Cực Lạc thành thục, duyên nhiễm Ta Bà phải hết. Nếu duyên nhiễm đã hết, thì lúc lâm chung dù có muốn cảnh luân hồi hiện ra cũng không được. Nếu Tịnh nghiệp đã thành thục, lúc lâm chung tuy muốn cảnh Tịnh Độ và Phật A Di Đà chẳng hiện cũng không thể được. Nhưng Tín Nguyện này lúc bình thời phải rèn luyện cho thuần thục, khi lâm chung mới khỏi lạc vào đường khác.

Biển cả Phật pháp nhờ lòng tin được vào. Một môn Tịnh Độ, lòng tin càng thiết yếu.

Thuở xưa, Vương Trọng Hồi hỏi Dương Vô Vi:

- Niệm Phật thế nào để được không gián đoạn?

Dương Vô Vi đáp:

- Sau khi đã tin không còn nghi nữa.

Vương Trọng Hồi vui vẻ rồi đi. Không bao lâu, Dương Vô Vi chiêm bao thấy Vương Trọng Hồi cảm tạ rằng:

- Nhờ sự chỉ bảo của ông tôi được lợi ích lớn, nay đã sinh về Tịnh Độ rồi!

Một là: Thật vì sinh tử, phát Tâm Bồ Đề, đó là con đường chung của người học đạo.

Hai là: Lấy Tín Nguyện sâu, trì danh hiệu Phật làm chánh tông của Tịnh Độ.

Ba là: Dùng sự nhiếp tâm chuyên chú mà niệm, làm phương tiện tu hành.

Bốn là: Lấy sự nhiếp phục phiền não hiện hành, làm việc chính của sự tu tâm.

Năm là: Lấy sự giữ vững bốn giới trọng làm căn bản vào đạo.

Sáu là: Lấy mọi thứ khổ hạnh làm trợ duyên tiến đạo.

Bảy là: Lấy nhất tâm không loạn làm chỗ trở về của Tịnh hạnh.

Tám là: Lấy những điềm lành làm chứng nghiệm vãng sinh.

Tám việc này đều nên giảng nói tận tường. Người tu Tịnh nghiệp không thể không biết.

Chấp trì danh hiệu là chăm chăm giữ lấy, gìn chặt trong lòng không tạm thời quên lãng. Nếu vừa có một niệm gián đoạn, hoặc xen tạp thì chẳng phải chấp trì. Mỗi niệm tiếp nối, không xen tạp, không gián đoạn, là tinh tấn thật sự. Tinh tấn không ngừng thì lần lần vào chỗ nhất tâm không loạn, thành tựu trọn vẹn Tịnh nghiệp. Nếu đến chỗ nhất tâm không loạn vẫn còn tinh tấn không ngừng, ắt sẽ khai mở trí tuệ, phát khởi biện tài, được thần thông, thành tựu Niệm Phật Tam Muội, cho đến mọi thứ tướng lành linh ứng lạ kỳ đều hiện tiền. Nhưng không thể đem lòng trông mong hiệu nghiệm, chỉ nên gắng sức nơi nhất tâm không loạn mà thôi.

Ngay khi niệm Phật, nên buông bỏ muôn duyên, chỉ chuyên nhất một niệm như cứu lửa cháy đầu, như an táng cha mẹ, như gà ấp trứng, như rồng dưỡng châu, không mong hiệu quả nhỏ bé, chẳng mong cầu mau chóng thành tựu, chỉ một lòng thường niệm như thế, đó gọi là môn Thiền thâm diệu vô thượng. Thế thì căn thân thế giới, mỗi niệm thầm chuyển biến theo tâm mình, tâm phàm mắt thịt chẳng thể thấy biết được. Đến lúc lâm chung, Phật A Di Đà cùng Thánh Chúng bỗng hiện ra trước mắt, hoặc hiện hương lạ nhạc trời, các thứ tướng lành. Lúc ấy, người đời mới bảo rằng Tịnh nghiệp thành tựu, nhưng đâu phải lúc ấy mới thành tựu Tịnh nghiệp!

Niệm Phật nên phát sinh bốn thứ tâm:

1. Phát sinh tâm hổ thẹn, vì từ vô thỉ kiếp đến nay chúng ta đã tạo nhiều nghiệp chướng.

2. Phát sinh tâm vui thích, vì được nghe pháp môn này.

3. Phát tâm đau buồn, vì nghiệp chướng từ vô thỉ nên khó gặp được pháp này.

4. Phát tâm cảm kích, vì Phật từ bi như thế.

Nếu có được một trong bốn thứ tâm này, Tịnh nghiệp liền có thể thành tựu.

Ngay khi niệm Phật, không thể có tư tưởng khác, không có tư tưởng khác tức là “Chỉ”. Ngay khi niệm Phật phải rõ ràng phân minh, hay rõ ràng phân minh tức là “Quán”. Trong một niệm Chỉ Quán đầy đủ, chẳng phải có pháp Chỉ Quán nào khác. Chỉ là nhân của định, định là quả của Chỉ. Quán là nhân của tuệ, tuệ là quả của Quán. Một niệm không sinh, rõ ràng phân minh là lặng lẽ mà sáng soi; rõ ràng phân minh, một niệm không sinh là sáng soi mà lặng lẽ. Người được như thế, Tịnh nghiệp nhất định thành tựu. Người thành tựu như thế đều là Thượng phẩm. Một người cho đến trăm ngàn muôn ức người, tu như thế đều thành tựu như thế”.

16. Trích dẫn “Pháp Vựng” của Đại sư Viên Anh:

“Một câu danh hiệu Phật có đủ thần lực chẳng thể nghĩ bàn, có thể trị tất cả tâm bệnh phiền não. Mỗi khi gặp nghịch cảnh tâm sinh phiền não, liền kinh hành niệm Phật, bốn bước một câu Phật hiệu, xoay vần qua lại niệm mấy vòng, dần dần cảm thấy cõi lòng mát mẻ, nóng bức tự dứt. Có khi việc nhiều phiền nhiễu, đêm khuya không thể ngủ yên, cũng chuyên xưng danh hiệu Phật, trải qua giây lâu thì thân tâm an định liền ngủ được, không có chiêm bao. Khi chép kinh, một nét một câu Phật hiệu, tinh thần không tản mác, vọng niệm không dấy khởi, viết lâu cũng không cảm thấy nhọc nhằn. Quả như có thể tin một pháp niệm Phật này, chuyên tâm xưng niệm không có gián đoạn, niệm đến chỗ tâm không cảnh lặng, tự nhiên phiền não không do đâu mà sinh khởi.

Kinh Lăng Nghiêm nói: “Thâu nhiếp tâm là Giới”. Niệm Phật chính là phương pháp thâu nhiếp tâm, tức dùng chánh niệm của việc niệm Phật làm dừng mọi vọng niệm đuổi theo cảnh duyên. Nếu vọng tâm đuổi theo duyên sắc trần, liền chuyên niệm A Di Đà Phật, Tịnh niệm tiếp nối, tự nhiên không theo sắc trần lưu chuyển, thâu nhiếp trở về chánh niệm niệm Phật. Khi tâm đuổi theo các duyên thinh trần… mỗi mỗi đều thâu nhiếp trở về chánh niệm niệm Phật, như thế tự nhiên không đến nỗi phá giới làm việc ác. Niệm Phật, niệm đến chỗ mỗi niệm tương ưng với Phật, các vọng niệm đương nhiên chẳng khởi, ý nghiệp liền thanh tịnh, mọi giới luật tự nhiên đầy đủ. Hai nghiệp thân và miệng cũng do ý nghiệp sinh khởi, ý nghiệp không nghĩ tưởng làm việc sát sinh, trộm cắp, tà dâm, không nghĩ tưởng nói lời dối trá, thêu dệt, hung ác, hai chiều thì thân và miệng tự nhiên không dẫn đến việc phạm giới. Thế nên, niệm Phật là pháp môn Tịnh nghiệp, niệm một danh hiệu Phật liền có thể làm cho ba nghiệp thanh tịnh, đó là sự minh chứng niệm Phật đầy đủ Giới học”.

17. Những lời khai thị về Pháp Môn Niệm Phật của Pháp Nhiên Thượng Nhân trích trong cuốn “Niệm Phật Tông Yếu”:

“Ngài nói: “Nam Mô A Di Đà Phật, các hạnh vãng sanh, niệm Phật là đệ nhất”.

Sau đó Ngài dạy liên tiếp những điều sau:

1. Thánh Đạo Môn tuy thâm diệu, nhưng thời điểm và căn cơ chẳng tương ứng. Tịnh Độ Môn hình như là nông cạn, nhưng thời điểm và căn cơ đều tương ứng. Thời Mạt Pháp một vạn năm, các kinh điển khác đều tiêu diệt, chỉ còn Pháp Môn Niệm Phật A Di Đà để cứu độ chúng sanh.

2. Tông Tịnh Độ siêu hơn các tông. Hạnh Niệm Phật siêu hơn các hạnh. Bởi vì thâu nhiếp tất cả các cơ vậy.

3. Chẳng luận có tội hay vô tội, chẳng kể là trì giới hay phá giới, nếu căn cứ vào thời điểm và căn cơ thì chỉ có Pháp Môn Tịnh Độ (Hạnh Niệm Phật) là yếu pháp để thoát khỏi sinh tử trong đời này.

4. Để đời này thoát khỏi sinh tử, không gì hơn vãng sinh Tịnh Độ. Để được vãng sinh Tịnh Độ, không gì hơn Niệm Phật…

6. Để được vãng sinh cõi Cực Lạc, thì dù diệu hạnh gì chăng nữa cũng không hơn niệm Phật. Vì sao thế? Vì niệm Phật là hạnh tương ưng với Bổn Nguyện của Đức Phật A Di Đà vậy…

12. Niệm Phật hoàn toàn không có hình thức. Chỉ cần biết rằng: “Hễ xưng Danh hiệu Đức Phật A Di Đà thì được sinh sang cõi Cực Lạc”, do đó chí tâm niệm Phật để cầu vãng sinh…

14. Vấn đề niệm Phật tuy có nhiều ý nghĩa, nhưng xưng Lục Tự Hồng Danh (Nam Mô A Di Đà Phật) thì đã bao hàm tất cả…

16. Chỉ biết rằng: “Bổn Nguyện của Đức A Di Đà chẳng hư dối, hễ xưng niệm danh hiệu của Ngài thì nhất định được vãng sinh”. Ngoài ra không cần nghĩ gì khác.

17. Tất cả căn cơ cứ tùy theo thiên tính mà niệm Phật để vãng sinh. Cái thân hiện nay do túc nghiệp đời trước mà có, nên trong đời này không thể thay đổi. Như người nữ mà muốn đổi thành người nam trong đời này thì không thể được…

Cứ tùy theo thiên tính mà niệm Phật. Người trí thì lấy trí mà niệm Phật vãng sinh. Người ngu thì dùng ngu mà niệm Phật vãng sinh. Có đạo tâm cũng niệm Phật vãng sinh. Không đạo tâm cũng niệm Phật vãng sinh. Người có tà kiến cũng niệm Phật vãng sinh.

Hàng phú quý, hạng bần cùng, người tham lam, kẻ tánh nóng, bậc có từ bi, hạng không có từ bi, do Bổn Nguyện Không Thể Nghĩ Bàn Của Đức A Di Đà, hễ niệm Phật thì đều được vãng sinh”…

34. Đã được thân người khó được, nếu tương lai để rơi vào ba đường dữ thì đáng buồn, đáng tiếc vô cùng.

Chán cõi dơ, ưa Tịnh Độ, bỏ ác tâm, phát thiện tâm thì được tam thế Chư Phật tùy hỷ.

Con đường để ra khỏi sinh tử tuy chẳng giống nhau, nhưng trong thời mạt pháp thì Xưng Danh Đức Phật A Di Đà là hơn cả.

Hạng tội chướng nặng nề ngu si ám độn đi nữa, nếu chịu Trì Danh thì sẽ được vãng sinh, vì tương ưng Bổn Nguyện nhiếp thọ của Đức Phật A Di Đà vậy.

Tội chướng nặng nề hãy đừng mặc cảm, vì ngũ nghịch; thập ác cũng được vãng sinh. Dù mười niệm hay một niệm đi nữa, hễ chí tâm thì Phật lai nghinh…

41. Chẳng cần để ý là tâm mình thiện hay ác, tội chướng nặng hay nhẹ, mà chỉ nên dùng miệng xưng NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT và phát khởi cái tâm quyết định! Nương Phật Thệ Nguyện chắc chắn vãng sinh!...

58. Đã tu Tịnh Độ thì mọi chuyện trong đời đều y theo Niệm Phật mà quyết định. Tất cả đều là trợ duyên cho Niệm Phật, hễ làm chướng ngại thì nên từ bỏ.

Sống một mình không Niệm Phật được thì ở chung mà Niệm Phật. Sống chung không Niệm Phật được thì ở một mình mà Niệm Phật. Tại gia mà không Niệm Phật được thì xuất gia mà Niệm Phật. Xuất gia mà không Niệm Phật được thì tại gia mà Niệm Phật. Sống giữa đời không Niệm Phật được thì trốn đời mà Niệm Phật. Trốn đời không Niệm Phật được thì sống giữa đời mà Niệm Phật…

69. Yếu đạo để hạng phàm phu thoát khỏi sinh tử không gì hơn Môn Tịnh Độ, hạnh Niệm Phật. Nói về căn cơ thì bao gồm thập ác, ngũ nghịch, tứ trọng, báng pháp, xiển đề, phá giới, v.v… Nói về hạnh thì mười tiếng hay một tiếng, ngay cả trẻ con cũng xưng được.

Nói về tín thì một niệm hay mười niệm, kẻ ngu cũng làm được. Bổn Nguyện vốn vì “mười phương chúng sinh” mà có, không để sót bất cứ căn cơ nào, không bỏ rơi bất kỳ ai. Trong mười phương chúng sinh, thì có trí hay vô trí, có tội hay vô tội, phàm phu hay Thánh Nhân, trì giới hay phá giới, người nam hay người nữ, ông già hay trẻ con… cho đến căn cơ của thời Tam Bảo đã diệt đều bao gồm cả. Hễ gặp được Bổn Nguyện, được nghe Danh Hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT và tin theo mà Niệm Phật thì Đức Phật A Di Đà dùng Quang Minh Biến Chiếu thu nhiếp chẳng rời.

Hạng tội nặng nghiệp dày, u minh ám chướng lại càng nên nương vào A Di Đà Phật Bổn Nguyện. Vì sao vậy? Lý do là vì A Di Đà Bổn Nguyện vốn vì phàm phu, chớ không phải vì Thánh Nhân”.

18. Trích dẫn “Long Thơ Tịnh Độ Văn” của Cư sĩ Vương Nhật Hưu:

“Bồ Tát Thường Bất Kinh nói: “Ta chẳng dám khinh các Ngài, các Ngài đều sẽ thành Phật”.

Thế là mọi người đều có thể trở thành Thánh Hiền, có thể thành Phật. Pháp Môn Niệm Phật là con đường trọng yếu thẳng tắt, không ai không tu được. Thế nên, khuyên khắp mọi người tu trì. Bài kệ Khuyên Tu Tây Phương, Bồ Tát Đại Từ nói:

“Khuyên đặng hai người tu, sánh bằng mình tinh tấn.

Khuyên đặng hơn mười người, phước đức đã vô lượng.

Bằng khuyên trăm nghìn người, gọi là chơn Bồ Tát.

Lại khuyên hơn số vạn, tức là A Di Đà”.

Xem đây thời biết, thuyết Tây Phương đâu không làm cho tâm mình rộng lớn, giúp cho mọi người cùng biết pháp môn này để tích lũy vô lượng phước báo hay sao?

Phàm những bậc có ân đức với ta như thầy bạn, cha mẹ, thậm chí tôi tớ, thảy đều khuyên bảo tu Tịnh Độ để đáp đền. Tất cả loài có tri giác cùng không tri giác, có tình thức cùng không tình thức, ta đều muốn đem pháp này giáo hóa, khiến cùng vãng sinh Tịnh Độ. Tất cả loài phi cầm tẩu thú, dưới đến loài bò bay máy cựa, hễ có hình tướng thấy được ta đều nên vì chúng niệm Phật vài câu, phát nguyện lành rằng: “Nguyện các ngươi đều sinh về thế giới Cực Lạc, sau khi ta đắc đạo sẽ độ hết các ngươi”. Đối với những loài không thể thấy hình tướng, cũng nên phát nguyện lành ấy. Như thế thì niệm lành thuần thục, đối với tất cả chúng sinh đều là có duyên, ắt được Thượng phẩm Thượng sinh, sau này hóa độ, ai cũng vui theo.

Trai Tăng, cúng Phật, dâng hương, hiến hoa, treo phan, xây tháp, niệm Phật, lễ sám, mọi việc phụng sự Tam Bảo, đem công đức này hồi hướng nguyện sinh Tây Phương đều được. Hoặc làm mọi phương tiện việc lành lợi ích trong thế gian, hoặc hiếu dưỡng cha mẹ, thương mến anh em, tông tộc thuận hòa. Hương thôn xóm làng, thân nhơn quyến thuộc, tiếp với nhau bằng lễ nghĩa, làm việc ơn nghĩa cho nhau. Cho đến kẻ thờ Vua thời hết lòng vì nước, kẻ làm quan thời nhơn từ lợi dân. Làm người lớn thời khéo điều hòa trong chúng. Làm bực hạ, thời khéo thờ bề trên. Hoặc dạy bảo kẻ ngu mê; hoặc giúp đỡ kẻ côi cút, yếu đuối; hoặc giúp người cấp nạn; hoặc cho kẻ bần cùng; hoặc sửa cầu, đào giếng; hoặc tặng thuốc, cho cơm; hoặc bớt phần mình, nuôi kẻ thiếu lợi ích tha nhơn; hoặc chia của lợi người mà phần mình bớt ít; hoặc dạy người làm phải; hoặc khen ngợi việc lành, cản ngăn điều dữ. Tùy sức, tùy trường hợp làm tất cả việc lành, lấy công đức đây mà hồi hướng, nguyện sinh Tây Phương cũng đặng.

Hoặc vì trong thế gian, làm tất cả việc lợi ích, chẳng luận là lớn hay nhỏ, chẳng luận là nhiều hay ít. Hoặc lấy một đồng tiền cho người, hoặc bưng một bát nước cho người, nhẫn đến lượm một cây gai giữa đường cũng là việc thiện. Ta nên khởi một niệm tưởng rằng: đem duyên lành này, hồi hướng cầu sinh về Tây Phương Cực Lạc. Thường khiến tâm giữ một niệm như vậy, đừng cho gián đoạn, mỗi niệm mỗi niệm chí thú nơi cõi Cực Lạc, quyết định một ngày kia được sinh về Thượng phẩm Thượng sinh.

Người tu Tịnh Độ nên tùy trường hợp ra công làm lành, để giúp sự tu hành mau tiến triển.

Chư Tăng phải tu Tịnh Độ, mau khỏi luân hồi, gặp Phật Di Đà, mới là xong việc của người xuất gia. Phàm thọ nhận người ta một đồng tiền, hộ ta một bữa ăn, ta đều sẽ vì kia mà giảng nói Pháp Môn Tịnh Độ này để đáp đền ân đức. Dù không tin cũng khiến cho họ biết, nghe quen lần rồi tự tin, thường khuyến hóa người khác như thế, hiện đời được người kính nể, đời sau chắc chắn sinh lên Thượng phẩm.

Kẻ sĩ chuyên cần nơi học vấn, dốc lòng hiếu thuận, xa nghĩ về tổ tiên của ta đến nay có mấy người còn sống, nên lưu tâm nơi đạo này.

Quan lại tu phước, làm mọi việc phương tiện thương người lợi vật, dùng đó hồi hướng Tây Phương, thoát khỏi luân hồi, thọ mạng và an vui vô cùng.

Người giàu sang phải tùy phận làm ăn nuôi sống, bớt chút ít giúp người, không keo kiệt đối với tiền của là thiện, tham lam tiền của là ác. Nên nghĩ phước thế gian có ngày hết, nếu đem hồi hướng Tây Phương thì vô tận.

Người nhiều khó khăn vất vả, chớ oán trời, chớ trách người, nên siêng năng sám hối, thường niệm Phật để tiêu trừ nghiệp chướng cũ, tăng trưởng duyên lành. Nếu có thể dạy người và bảo người thay nhau khuyến hóa, hiện đời tiêu trừ tai nạn được phước, đời sau ắt được sinh lên phẩm Thượng của bậc Trung.

Người làm nghề nông và buôn bán đều nên tự nghĩ, việc cày ruộng cuốc đất sao tránh khỏi sát hại các loại vật mạng vi tế, chẳng phải là ít; nghề buôn bán sao tránh khỏi sự dối trá chút ít, nên khéo léo gìn lòng giữ cho vẹn toàn, nhưng biết sám hối là tốt.

Người thợ khi làm việc, chớ quá mong cầu tài vật tiền của, làm việc cho hết lòng, nên thường niệm Phật, nguyện sau khi thấy Phật được đạo, trước sẽ độ tất cả những chúng sinh đã bị mình sát hại từ trước đến nay và những người đã từng qua lại, kế đó độ kẻ oán người thân và chúng sinh hữu duyên vô duyên. Như thế, mỗi niệm chẳng dứt, niệm tự thuần thục, quyết định được vãng sinh Cực Lạc. Nếu dạy bảo người và khiến người rộng khuyến hóa, thời hiện đời đặng phước, thân đời sau ắt sinh lên phẩm Thượng bậc Trung vậy.

Người chài lưới, đi săn, đồ tể, làm bếp, mở tiệm ăn, đều nên tự nghĩ: cá, tôm, cầm thú cùng có tánh mạng, ta nay sát hại mắc tội vô lượng. Nếu có thể đổi nghề thì tốt nhất, nếu chưa có thể nhanh chóng sửa đổi thì phải giảm bớt. Vả lại, đừng sát hại những con vật nhỏ mạng nhiều, và các loài  ốc, sò, ba ba, lươn, những vật khó chết ấy. Thường niệm Phật sám hối, phát đại nguyện rằng: “Nguyện sau khi ta thấy Phật đắc đạo rồi, độ hết tất cả những vật mạng bị ta giết hại ăn dùng, từ trước đến giờ đều sinh về Tịnh độ”. Niệm niệm không dứt, niệm tự thuần thục, cũng được sinh về thế giới Cực Lạc. Nếu đem pháp này dạy người và khiến người truyền bá rộng ra, thì hiện đời cũng có thể tiêu tai diệt tội, thân sau đâu chỉ ở phẩm Hạ của bậc Hạ vậy.

Người ở chốn phong trần phải tỉnh ngộ đoạn trừ dâm nghiệp, bằng chưa đoạn liền nên thường niệm Phật phát lời đại nguyện rằng: “Nguyện ta nghiệp ác lần tiêu, nghiệp lành mỗi ngày thêm lớn. Áo cơm vừa đủ, sớm bỏ nghề này. Sau khi ta thấy Phật đắc đạo rồi, độ hết tất cả người nhân ta mà làm nghiệp dâm, đều được sinh về Tịnh Độ”.

Người tội ác, bệnh khổ phải gấp sám hối, hồi tâm niệm Phật, thệ nguyện không làm ác sát sinh nữa, không não hại tất cả chúng sinh nữa, nguyện đời này sớm lìa bệnh khổ, sau khi thấy Phật được đạo, độ hết tất cả chúng sinh bị ta sát hại trong đời này và đời trước, tất cả kẻ oán người thân đều sinh về Tịnh Độ. Niệm niệm không dứt, niệm tự thuần thục, nhất định vãng sinh cõi Cực Lạc. Nếu đem pháp này chỉ dạy mọi người, khiến người thay nhau khuyến hóa, thì hiện đời có thể diệt trừ tai nạn tội lỗi, bệnh khổ nhất định được lành, phước báo vô cùng, đời sau ắt vãng sinh về cõi Cực Lạc”.

19. Trích dẫn “Khuyến Tu Tịnh Độ Thiết Yếu” của Cư sĩ Chân Ích Nguyện:

“Niệm Phật chính là phải ở chỗ ồn náo để rèn luyện, chẳng câu nệ đi đứng nằm ngồi. Ở nơi huyên náo có thể nhất tâm không loạn, một tiếng niệm Phật ấy còn hơn niệm nhiều tiếng ở nơi yên tịnh. Đó gọi là “tâm tịnh thì cõi nước thanh tịnh”.

Trọn ngày tuy bận rộn, lẽ nào lại không có một chút thời giờ rảnh rỗi? Sao không bớt thời gian uống trà, nói chuyện phiếm, để thâu nhiếp tâm tư mà niệm Phật? Người nhọc nhằn về tâm tư có thể nhờ đây để dưỡng tâm; người nhọc nhằn về sức lực cũng có thể nhờ danh hiệu Phật tích chứa sức mạnh. Việc ấy có lợi ích không tổn hại, còn có điều nào hơn đây nữa?

Phải nên gấp rút khẩn thiết chân thật, phát khởi sức lực dũng mãnh, duyên đời có thể buông bỏ thì buông bỏ, mạng người vô thường quyết đừng lưu luyến mà tự làm lầm mình. Dù có điều chưa có thể buông bỏ cũng chẳng ngại ông niệm Phật. Ví như có một việc khẩn thiết ở nơi lòng, tuy làm việc khác nhưng vẫn không sao quên được. Có thể niệm Phật như thế tự nhiên không có tạp niệm, cũng không đến nỗi một ngày nóng mười ngày lạnh. Còn có người tâm chân thật khẩn thiết, do thuở xưa nghiệp nặng nên bị ma nhiễu loạn. Có ma bên trong, ma bên ngoài. Ma bên trong là trong tâm khi tỉnh lúc mê, tất cả tham sân si ái, tâm này vừa lìa thì tâm kia lại khởi. Ma bên ngoài là gặp cảnh khó khăn đủ mọi chướng duyên, bức hại thân tâm, chẳng được an ổn, liền đối trước Phật phát nguyện, siêng năng cầu sám hối. Song, quan trọng ở chỗ tâm niệm Phật chẳng do ma sự mà thối lui, mặc cho mọi thứ chướng duyên, một câu Phật hiệu này quyết chẳng rời tâm ta. Sức ma tuy mạnh, dựa vào Vạn Đức Hồng danh này chống cự với nó, chẳng tính lợi hại sống chết chỉ lo chuyên niệm, thề không thối lui, lâu ngày dài tháng tất được lòng từ bi của Phật âm thầm trợ giúp, chướng duyên tiêu tan, Tịnh duyên thành tựu. Phật chẳng phụ lòng người, ắt làm mãn nguyện chúng sinh.

Phương Pháp Niệm Phật quý ở chỗ đóng cửa âm thầm tu trì. Không luận là ngồi xếp bằng hay kinh hành niệm, trì thầm hay niệm ra tiếng, đều phải nhất tâm nắm chặt danh hiệu Phật, mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng, vừa cảm thấy lờ mờ liền gấp rút đề khởi sự tỉnh giác soi chiếu. Hoặc rơi vào vô ký, hoặc sa vào vọng tưởng, luôn luôn tỉnh giác, luôn luôn đề khởi, đem một câu Phật hiệu này huân vào áp bức ý căn, đoạn dứt hôn trầm tạp niệm, đó là con đường chân chánh của pháp niệm Phật. Không thể quá gấp, gấp thì khó được lâu dài; không thể quá hưỡn, trì hưỡn thì dễ rời rạc. Lại không thể trông mong nhập định, hoàn toàn chẳng để khởi ý niệm.

Nếu buông bỏ không niệm nơi miệng rất dễ rơi vào chỗ hôn trầm nhẹ. Bởi vì niệm Phật quan trọng ở nơi nhất tâm không loạn, lúc lâm chung hoàn toàn nhờ vào niệm này vào thẳng thai sen. Đến khi đạt đến chỗ nhất tâm cùng cực, chẳng mong Thiền định hiện tiền cũng tự hiện, đây là khi công phu thuần thục, hoàn toàn khác xa với người buông bỏ không niệm nơi miệng rơi vào chỗ hôn trầm nhẹ.

Còn như Thể cứu, niệm tức vô niệm thì không ngại vô niệm mà niệm. Một niệm này tức là Tam đế: Không, Giả, Trung; tức là bốn pháp giới Sự Lý; tức là hai môn quán Duy thức, Duy tâm; tức là tâm mầu nhiệm Niết Bàn, Thật tướng Vô tướng. Đó chính là pháp niệm Lý nhất tâm của bậc thượng căn, nhưng cũng không rời nhất tâm nắm chặt câu Phật hiệu, mỗi chữ mỗi chữ rõ ràng mà niệm. Đây là điều trọng yếu của phép tắc Trì danh nơi chánh hạnh.

Lại cần phải tu rộng rãi về trợ hạnh:

1. Lễ kính Tam Bảo:

Năm vóc chuyên cần, tu rộng rãi về sự cúng dường, đó là việc bổn phận của người tu hành.

Người đời niệm Phật phần nhiều lười biếng, không chỉ hằng ngày chẳng thường lễ bái, thậm chí gặp Phật cũng không lạy, còn như tất cả sự cúng dường phần nhiều thiếu sót. Lý do chẳng qua là vì miệng niệm thì dễ, thân lễ bái thì khó; nói suông thì dễ, ra sức thực hành thì khó. Chẳng biết rằng, việc khó làm có thể làm được, điều đó mới đáng quý.

Tuy nói tu hành ở bên trong chẳng phải ở bên ngoài, nhưng dáng vẻ cung kính ở bên ngoài cũng không thể thiếu. Vả lại, ở ngay nơi bên ngoài có thể chứng tỏ ở bên trong, cho nên người xưa nói: “Người tu hành chân thật, xem hình vẽ, tượng gỗ đồng với Phật thật. Thương như cha mẹ, kính như quân vương, sớm chiều yết kiến, hết lòng thành kính, lạy xuống như núi đổ, đứng dậy tợ mây thăng, ra thì chấp tay vái chào. Người mà chấp tay vái chào thì dù xa trăm ngàn dặm cũng như thường ở trước mặt”.

Khi ăn lúc uống, trước phải nên cúng dường. Trong Văn Long Thơ Tịnh Độ nói: “Cúng Phật, trai Tăng, dâng hương, hiến hoa, treo phan, xây tháp, các việc sùng phụng Tam Bảo đều có thể hồi hướng Tây Phương”. Huống gì người cầu vãng sinh Tịnh Độ, đã là đệ tử Tam Bảo, nếu không kính trọng Tam Bảo thì tâm cầu vãng sinh ấy ắt không chân thật khẩn thiết. Thế nên mọi người phải dốc hết tâm lực quyết đừng lười biếng lơ là!

2. Sám hối nghiệp chướng:

Sám là ăn năn lỗi đã qua, hối là chừa bỏ những lỗi lầm về sau. Người tu hành lấy sám hối làm chính yếu. Bồ Tát Phổ Hiền còn có lời nguyện về sám hối, huống gì kẻ phàm phu.

Do từ vô lượng kiếp đến nay, ba nghiệp thân miệng ý gây ra những lỗi lầm sâu nặng, đều có thể trở thành nhiều sự chướng ngại nên gọi là nghiệp chướng. Nếu không sám hối, nghiệp chướng không tiêu trừ, ví như áo nhơ cần phải giặt giũ, ví như gương dính bụi cần phải lau chùi. Nhơ hết áo sạch, bụi hết gương sáng, nghiệp chướng không còn thân tâm thanh tịnh.

3. Ngăn ác làm lành:

Trong Văn Long Thơ Tịnh Độ nói: “Trì trai giới hoàn toàn, lại lễ Phật niệm Phật, đọc tụng kinh điển Đại Thừa, hiểu Đệ nhất nghĩa, lấy đó hồi hướng Tây Phương tất lên Thượng phẩm Thượng sinh”.

Nói “Trai” nghĩa là không ăn thịt, không uống rượu, không ăn ngũ tân.

Nói “Giới” nghĩa là không sát sinh, trộm cướp, tà dâm tức là ba nghiệp của thân; nói dối, nói lời thêu dệt, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác là bốn nghiệp của miệng; tham dục, sân hận, tà kiến là ba nghiệp của ý. Có thể giữ gìn không phạm đó là mười điều lành, nếu phạm không giữ gìn đó là mười điều ác.

Giữ bốn giới trước, thêm giới không uống rượu, đó là năm giới. Người giữ năm giới mà tu Tịnh Độ cũng không mất phần vãng sinh Trung phẩm. Nếu không thể giữ năm giới thì phải giữ gìn giới sát. Sát sinh là điều đứng đầu trong năm giới. Không sát sinh là đại thiện, sát sinh là đại ác. Đại sư Liên Trì nói: “Xin khuyên người đời, đã là niệm Phật thì phải y theo lời Phật dạy, phải tích đức tu phước, phải hiếu thuận với cha mẹ, phải trung thành phụng sự quân vương, anh em phải yêu thương lẫn nhau, vợ chồng phải quý kính nhau. Phải chí thành thật thà giữ chữ tín, phải nhu hòa nhẫn nhục, phải công bình chánh trực, phải khéo vun bồi âm đức, phải từ bi thương xót tất cả, không sát hại sinh mạng, không lăng nhục người dưới, không áp bức dân thường. Nếu có tâm không tốt sinh khởi liền gắng sức niệm Phật, nhất định phải niệm cho thối lui tâm không tốt này. Như thế, mới là người niệm Phật chân chánh, nhất định được vãng sinh”.

4. Cắt bỏ tình ái:

Người đời đối với người cốt nhục phần nhiều thường ái luyến. Lại xem tài sản như tánh mạng, cũng đều tham đắm không quên.

Lòng trược thế bên đây nặng nề, tâm Tịnh Độ bên kia tự nhiên nhẹ bổng. Đến lúc mạng chung, thần thức ắt đi về chỗ nặng. Ví như một cây to nghiêng nặng về bên nào, sau này lúc ngã đỗ sẽ tự nhiên ngã đỗ về bên ấy. Đó là lẽ tất nhiên.

Từ trước đến nay, vợ con cốt nhục đều là có duyên tụ hội, duyên hết ly tan. Sau khi ly tan, người này và kẻ kia đều không nhận ra nhau. Như ông từ nhiều đời đến nay, vợ con cốt nhục không ít, nhưng hiện giờ ở đâu? Ông vẫn còn thương yêu họ chăng? Nghĩ đến đây không thể không lạnh nhạt. Trong đó, lại có duyên ác tụ hội, quyến thuộc tức là oan gia, bất giác âm thầm bị hại, đâu không phải là thương yêu sai lầm rồi sao? Còn như các thứ tài sản và mọi điều ham thích chớp mắt đều trở thành không, càng phải nên nhìn thấu đáo.

5. Cởi mở oan kết:

Phàm oán thù chưa kết không nên kết, như các việc sát sinh, trộm cướp, tà dâm, và lòng tham lam sân hận đều là nhân kết thành oán thù. Có thể cấm ngăn thì không kết, không kết thì không có oán thù, còn đã kết thì nên cởi mở.

Nếu như quyến thuộc trở thành oán thù, người ngoài bỗng nhiên chống đối mình, cho đến chó cắn rắn mổ chẳng phải là không có nguyên nhân, đều do oan trái đời trước, cần phải hoan hỉ chịu đựng cởi mở với chúng. Quyết không thể bên kia qua bên đây lại, càng kết càng sâu.

Tuy Tịnh Độ là pháp môn vượt thoát theo chiều ngang, nhưng nếu có thể quyết tâm cầu vãng sinh thì dù cho kẻ oán thù lớn nhất cũng không thể ngăn trở ta vãng sinh. Nhưng cứu xét kỹ, chẳng bằng sớm nên cởi mở thì sẽ cảm thấy tâm không ngăn ngại.

Lại phải biết từ nhiều đời nhiều kiếp đến nay, oán thù không ít, nhân duyên chưa gặp, đâu thể mỗi mỗi đều cởi mở được hết. Cần phải nhờ vào sự phát nguyện ở trước Phật, nguyện dùng công đức niệm Phật này làm lợi ích khắp cả oan gia oán thù. Nếu khi ta thành Phật thì độ những chúng sinh này trước. Dùng tâm từ bi tiêu trừ lòng oán hận cũ của những người kia, lại thêm nguyện lực thì thật có lợi ích, tự nhiên hóa hận thù thành ân đức.

6. Gắng sức mạnh mẽ:

Hiện nay, người tu Tịnh Độ cũng có người chẳng bằng ta, cũng có người hơn ta. Người không bằng ta quyết không nên so sánh với họ, nói ta hơn họ như thế không có tiến bộ. Cần phải so sánh với người hơn ta, nghĩ rằng ta với họ cùng niệm Phật như nhau, tại sao họ tinh tấn? Tại sao ta lười biếng? Vì sao họ chuyên nhất? Vì sao ta lại tán loạn? Kia đã trượng phu ta đây cũng vậy. Nếu không gắng sức mạnh mẽ, mắt nhìn họ đã vượt lên Cực Lạc, còn ta vẫn như cũ nổi chìm trong biển khổ.

Hiện nay gọi là đạo hữu bạn bè, nói cười thân thiết, nhưng chớp mắt đã phân chia Thánh phàm, cách xa như trời với vực. Lẽ nào lại chẳng hổ thẹn sao? Lẽ nào lại chẳng đau xót sao? Suy xét như thế, tự nhiên mạnh mẽ tiến tới, một đời giải quyết xong xuôi, không đợi đến đời sau.

Người tu hiện nay, có kẻ phát nguyện đời sau tiếp tục tu hành. Theo họ nói, tự lường xét đời nay công hạnh cạn mỏng, đời sau gia thêm công hạnh nữa mới mong thành tựu. Như thế thật là rất sai lầm! Trong kinh nói: “Một khi mất thân người, muôn kiếp khó được lại”, dù cho được thân người nhưng có thể bảo đảm còn biết tu hành chăng?

Lại theo họ nói, đời nay phát nguyện, nhờ vào nguyện lực này đời sau quyết định biết tu hành. Điều này lại sai lầm nữa! Đã phát nguyện đắc lực như thế, sao không phát nguyện hiện đời liền vãng sinh Tịnh Độ, tự nhiên ắt được vãng sinh, cần gì phải đợi đến đời sau. Hơn nữa, đời này ông không cầu vãng sinh, đời sau lại có thể cầu vãng sinh chăng? Chẳng may, đời sau gặp chướng duyên khác không còn tu hành, như thế không chỉ chẳng thể vãng sinh mà cũng khó bảo đảm được không mất thân người. Cho nên, người xưa nói:

“Thân này chẳng chịu đời nay độ,

Lại đợi đời nào độ thân này”.

Người niệm Phật quyết phải lập chí vững chắc, xem hiện cư trú nơi Ta Bà như người khách ở tạm, lại phải xem mình là người nơi Tịnh Độ, phẩm bậc cao siêu biết chừng nào! Như thế, tự nhiên miên mật tinh tấn đến lúc chứng quả mới thôi. Đây là một pháp rất thiết yếu của sự vãng sinh Tịnh Độ.

Lược nói như thế về sáu trợ hạnh trên, nếu nói rộng ra thì có vạn hạnh, đều ở nơi tâm khiêm tốn mong cầu lợi ích của mọi người, thật sự gắng sức đảm đang. Phàm là những việc có trợ giúp cho Tịnh duyên đều siêng năng làm là được rồi!”

20. Trích dẫn “Phật Học Thiển Thuyết” của Cư sĩ Vương Bác Khiêm:

“Pháp Môn Tịnh Độ lấy ba pháp Tín Nguyện Hạnh làm tông. Ba điều trọng yếu này, thiếu một tất không được.

Sao gọi là Tín?

Tín là cửa bước vào đạo. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Lòng tin là gốc của đạo, là mẹ sinh ra các công đức”, nếu không tin sao có thể tu hành? Nếu lòng tin không sâu, nhất định tu không đắc lực. Cho nên, người niệm Phật: một là, phải tin lời Phật Bổn Sư chỉ dạy chúng ta niệm Phật quyết không sai. Hai là, phải tin nguyện lớn của Phật A Di Đà, ta nếu niệm Phật, Ngài nhất định đến độ ta. Ba là, phải tin Tây Phương quả thật có một thế giới Cực Lạc. Bốn là, phải tin mọi sự thù thắng vi diệu trang nghiêm nơi thế giới Tây Phương Cực Lạc mà trong kinh Di Đà đã nói quả thật có rất nhiều lợi ích.

Sao gọi là Nguyện?

Đã tin cõi Ta Bà có đủ mọi đau khổ, liền nguyện mau rời khỏi Ta Bà. Đã tin cõi Cực Lạc có mọi điều vui, liền nguyện vãng sinh Cực Lạc. Nguyện này đã lập, vững chắc như kim cương. Thái Sơn có thể dời, nguyện này không thể mất. Không chỉ đối với mọi thinh sắc, tài lợi nơi cõi Ta Bà chẳng có một mảy may tham luyến, dù cho có người nói: Có một thế giới khác còn đẹp hơn cõi Cực Lạc, nhưng ta cũng qua thẳng Tây Phương, không nguyện đến chỗ nào khác. Dù cho có người nói: Có một pháp môn khác còn hay hơn pháp môn niệm Phật, ta cũng quyết tâm vững lòng niệm Phật, chẳng muốn đi học pháp môn khác. Cần phải lập nguyện như thế, mới có thể bước lên con thuyền đại nguyện của Phật Di Đà, đến bờ Liên Trì nơi cõi ấy.

Sao gọi là Hạnh?

Đã tin có Tây Phương, đã nguyện sinh về Cực Lạc, cần phải dũng mãnh tinh tấn thực hành pháp niệm Phật, lại thêm không làm các việc ác, thực hành mọi điều lành.

Tây Phương tuy cách xa mười muôn ức cõi Phật, nếu ta nhất tâm niệm Phật, niệm đến chỗ cùng tột thì vừa cất niệm liền đến ngay. Nếu tâm chẳng chuyên nhất niệm Phật, phàm phu mang nghiệp lực sao có thể đến cảnh giới của Phật, Bồ Tát?

Đã tin rồi, nguyện rồi, cần phải nhất tâm niệm Phật, khẩn thiết chí thành mà niệm. Bởi vì sinh tử vô thường, niệm Phật tâm không chuyên nhất không thể cảm ứng được Phật tiếp dẫn. Nhận lấy giấy bắt của Diêm Vương, chỉ đành đi theo họ để chịu nỗi khổ sinh tử mà thôi.

Cho nên, người tu hành, niệm Phật cần phải dũng mãnh tinh tấn, chuyên nhất tâm ý, quét sạch hết tất cả vọng tưởng, buông bỏ tất cả duyên đời, miên mật khít khao, tâm miệng hợp nhau, trong một ngày 24 giờ, không một giờ một phút một giây nào không niệm Phật (chữ niệm là từ tâm phát ra, không phải nơi miệng, trong miệng không niệm, tâm niệm cũng như nhau. Nhưng chỉ dựa vào tâm niệm thì dễ lười biếng, mỗi ngày ít nhất nơi miệng cần phải trì niệm một ngàn câu càng nhiều càng tốt).

Đi cũng niệm Phật, đứng cũng niệm Phật, ngồi cũng niệm Phật, nằm cũng niệm Phật, rảnh cũng niệm Phật, bận cũng niệm Phật. Tuy trong lúc vội vàng hấp tấp cũng không rời Phật. Đợi đến khi công phu thuần thục, dù trong khi ngủ hay trong mộng cũng đang niệm Phật, niệm đến nhất tâm không loạn, quyết định về Tây, quyết định thành Phật”.

 

CUỘC ĐỜI THẾ GIAN LÀ BIỂN KHỔ

Thế gian, cuộc đời là vô thường, sanh diệt, khổ đau. Trong kinh Đức Phật thường nói cuộc đời là biển khổ. Cổ đức có bài thơ:

Biển khổ mênh mông sóng ngất trời

Khách trần chèo một chiếc thuyền chơi

Thuyền ai ngược gió hay xuôi gió

Cũng cùng chung một biển khổ thôi.

Chúng ta biết, ý thức được cuộc đời, thế gian, thân người là khổ thì ta mới nhàm chán, lo tu, lo niệm Phật để được giải thoát, giác ngộ. Dưới đây là những điều khổ căn bản Đức Phật dạy:

I. Tam khổ

Tam khổ là ba loại khổ gồm Khổ khổ, Hoại khổ và Hành khổ.

1. Khổ khổ

Khổ khổ là cái khổ chồng lên cái khổ, nghĩa là cái khổ này chưa hết cái khổ khác lại đến, cứ như thế làm cho chúng sanh, con người đau khổ triền miên. Ví như, có người nghèo, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, không có nhà cửa, lại còn bị bệnh tật liên miên, bao nhiêu cái khổ cứ dồn dập làm cho họ đau khổ, sầu não. Lại một ví dụ khác, như có những gia đình ở vùng thôn quê nghèo, vùng này hay bị thiên tai, vào mùa mưa, bảo tố lũ lụt kéo về, cuốn truôi đi bao nhiêu của cải, nhà cửa, mạng người. Chúng ta thấy, bao nhiêu cái khổ chồng chất lên những gia đình họ, nào là của cải mất mát, nhà cửa không còn, đau khổ nhất là bị mất người thân, còn nhiều cái khổ nữa như thiếu cơm ăn, áo mặc, bệnh tật v.v… do hậu quả của thiên tai. Thật đúng, cuộc đời là biển khổ, bao nhiêu sóng khổ dâng trào, chồng chất, đè lên cuộc đời con người.

2. Hoại khổ

Hoại là chỉ cho sự hư hao, mất mát, tan rã, hủy diệt. Trên thế gian này không có vật gì tồn tại vĩnh viễn mà tất cả đều chung một quy luật vô thường. Vật lớn như vũ trụ, thế giới phải trải qua bốn giai đoạn là thành, trụ, hoại và không, vì vậy thế giới có lớn đến đâu cũng có ngày hoại diệt. Mạng sống của chúng sanh, con người thì phải chịu chung quy luật là sinh, lão, bệnh, tử. Từ sanh đến tử là một quá trình thay đổi, biến chuyển, hư hoại. Nói chung, tất cả vạn vật, muôn loài đều chịu chung quy luật vô thường, sanh diệt, hư hoại nên làm cho chúng sanh, con người đau khổ.

3. Hành khổ

Hành là chỉ cho sự hành động, tạo tác, sự vô thường, thay đổi của thân tâm.

Thân biến chuyển, thay đổi trong từng phút, từng giây, vì vậy mà có cảnh sanh, già, bệnh, chết đau khổ. Thân lại hành động tạo tác những nghiệp thiện ác và bị nghiệp lực này trói buộc, dẫn đi trong luân hồi sanh tử.

Về tâm, nó biến chuyển, thay đổi mau lẹ hơn cả thân. Trong kinh Đức Phật nói: “Trong một sát na có vô số vọng niệm sanh khởi”. Những vọng niệm này lôi kéo, sai sử làm cho ta vui, buồn, giận ghét v.v… không được tự do, tự chủ. Tâm cũng chính là nguồn gốc, nguyên nhân, động lực tạo nghiệp.

II. Bát khổ

Bát khổ là tám thứ khổ gồm: Sanh khổ, Lão khổ, Bệnh khổ, Tử khổ, Ái biệt ly khổ, Oán tắng hội khổ, Cầu bất đắc khổ và Ngũ ấm xí thạnh khổ.

1. Sanh khổ

Sanh là sự có mặt, hiện hữu, sanh ra, là cuộc sống của một một kiếp người. Cuộc sống của chúng ta bắt đầu từ trong thai mẹ, ngay những ngày tháng đầu tiên chúng ta đã khổ. Lúc này chúng ta phải chịu cảnh tù túng, tối tăm trong túi da máu thịt của người mẹ, mỗi khi mẹ uống nóng thì ta chịu cảnh nóng bức, khi mẹ uống lạnh ta chịu cảnh lạnh giá, khi mẹ ăn no hay đi đứng nằm ngồi ta chịu sự ép ngặt. Chẳng những ta khổ mà mẹ chúng ta cũng khổ. Từ ngày mang thai mẹ đi đứng khó khăn, ăn không ngon, ngủ không yên, khi sinh sản đau khổ vô cùng, có khi phải bị mổ xẻ nguy hiểm đến tánh mạng. Trong Kinh Báo hiếu diễn tả sự đau khổ của người mẹ khi sinh con như sau:

Khi sinh sản hiểm nguy chi xiết

Sanh đặng rồi tinh huyết dầm dề

Ví như thọc huyết trâu dê

Nhất sanh, thập tử nhiều bề gian nan.

Ngày chúng ta chào đời báo hiệu cho một chuổi dài đau khổ mới. Đầu tiên chúng ta được sinh ra từ chổ không mấy trong sạch, lại bị ép ngặt, mình đầy máu mủ tanh hôi, vì vậy khi vừa thoát ra ngoài, liền cất tiếng khóc vang “khổ a ! Khổ a!”. Thật đúng như hai câu thơ của Ôn Như Hầu:

Thảo nào lúc mới chôn nhau

Ðã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!

Sau khi chào đời, ta là đức bé ngây thơ, dại khờ chẳng hiểu biết gì, phải phiền đến cha mẹ nuôi nấng, chăm sóc như: bồng ẵm, tắm rửa, cho ăn, dọn dẹp đồ tiểu tiện v.v…, nếu cha mẹ chưa dọn dẹp kịp thì ta nằm trên phân, nước tiểu, có khi còn bóc phân của mình ăn thật là tội nghiệp.

Đến khi khôn lớn, trưởng thành chúng ta phải vất vả làm việc, thức khuya dậy sớm, buôn tảo bán tần để lo cho cuộc sống gia đình. Có người làm vất vả suốt đời cũng không đủ sống, cơm không đủ no, áo không đủ mặc, nhà cửa không đủ che nắng che mưa. Lại còn những nổi khổ lớn hơn là khổ của sự già, bệnh và chết, những nổi khổ này nó cứ đeo bám suốt cả kiếp người, nó còn theo mãi chúng ta trong vô lượng kiếp luân hồi, chỉ khi nào chúng ta giải thoát mới chấm dứt những nổi khổ này.

2. Lão khổ

Lão là chỉ cho sự già nua, tuổi xế chiều. Con người đến lúc già, thân thể hao mòn, tinh thần suy kém, nên khổ thể xác lẫn tinh thần.

Khổ về thể xác: Càng già, khí huyết càng hao mòn. Bên trong, ngũ tạng, lục phủ càng ngày càng mỏi mệt, hoạt động một cách yếu ớt. Bên ngoài các giác quan dần dần hư hoại, như mắt mờ, tai điếc, mũi nghẹt, lưỡi đớ, lưng còm, tay chân run rẩy, đi đứng mệt mỏi, ăn uống khó khăn.

Tuổi già thường đi chung với bệnh tật, vì lúc này cơ thể hao mòn, sức lực yếu đuối, chất đề kháng kém nên sanh ra nhiều thứ bệnh tật, nhất là khi trái gió trở trời thì khắp người ê ẩm, đau nhức.

Khổ về tinh thần: Càng già thân thể càng suy kém thì trí tuệ cũng càng lu mờ. Do đó, sanh ra lẫn lộn, quên trước, nhớ sau, hành động như kẻ ngây dại, nói năng giống người mất trí, ăn rồi bảo chưa ăn, chưa ăn bảo ăn rồi, tính tình  khó chịu, hay nói nhảm, hay hờn giận con cháu.

3. Bệnh khổ

Con người có trăm ngàn thứ bệnh, từ những bệnh nhẹ như nhức đầu, nghẹt mũi, trúng gió đến những thứ bệnh nặng, nguy hiểm như ho lao, ung thư, cùi hủi v.v… Những thứ bệnh này hành hạ làm cho con người khó chịu, rên xiết, đau nhức, khổ sở.

Bệnh tật không chừa một ai, từ người nông dân nghèo khổ đến những người giàu có, những bậc vua chúa. Người nghèo khi bệnh tật không có tiền để chạy chữa đã khổ. Người giàu tiền của dư giả mà gặp những bệnh hiểm nghèo như ung thư, cùi hủi thì dù có tiền cũng đành chịu lại càng khổ hơn. Người nghèo không đủ cơm ăn áo mặc đã khổ. Người giàu cơm nước, áo quần đầy đủ nhưng lại mang những thứ bệnh như ghẻ lác thì dù áo quần gấm vóc cũng khó mà mặc, hoặc bị những bệnh như đau ruột thừa, đau bao tử, bệnh tiểu đường thì cao lương mĩ vị đầy tủ, đầy bàn cũng không dám ăn, phải nhịn thèm, nhịn khát. Cho đến những bậc vua chúa, quan quyền, doanh nhân, những danh tài, những siêu sao họ đang ở trên đỉnh cao danh vọng, quyền lực, địa vị, tài lợi mà gặp những căn bệnh hiểm nghèo thì coi như tiền đồ, sự nghiệp, tương lai sụp đỗ, tiêu tan như mây khói làm cho họ đau khổ vô cùng.

Bệnh tật thì trong một đời người ai cũng đã từng trải qua, đã cảm nhận được. Nhưng để thấy rõ hơn thì chúng ta hãy vào nhà thương, bệnh viện sẽ thấy rõ. Ở bệnh viện biết bao nhiêu bệnh nhân đang rên xiết, đau khổ. Có người bị mổ xẻ ba bốn lần mà bệnh vẫn không lành. Có người bị cưa tay, cưa chân. Có người lở loét đầy miệng, đầy lưỡi ăn uống không được. Có người đau thận, đau ruột tiểu tiện không được phải mổ đặt ống cao su, bao nhựa cho tiểu tiện tự động chảy ra ngoài. Có người bị bệnh bại liệt đi đứng không được phải tiểu tiện một chổ rất là dơ bẩn, đau khổ.

4. Tử khổ

Tử là chỉ cho cái chết, sự chấm dứt mạng sống. Trong bốn cái khổ của sanh, già, bệnh và chết thì chết là cái mà con người sợ hãi, hoảng hốt nhất. Có nhiều người mắc những chứng bệnh nan y ngày đêm bị hành hạ đau nhức vậy mà họ không dám nghỉ đến cái chết. Thậm chí có nhiều người mạng sống sắp chấm dứt, họ vẫn cố gắng tìm những loại thuốc quí hiếm để uống vào, tiêm vào hầu kéo dài mạng sống được ngày nào hay ngày đó. Chết có hai loại khổ lớn là khổ về thân xác và khổ về tinh thần.

Khổ về thân xác: Người sắp chết, lúc này lục phủ, ngũ tạng, tứ chi hư hoại, tan rã làm cho cơ thể đau nhức, nên đa số những người hấp hối, sắp chết họ trợn mắt, méo miệng, giật gân, chuyển cốt, uốn mình, nước mắt, nước mũi chảy tràn, miệng thì rên la mà không thành tiếng rất đau khổ. Những người mắc những chứng bệnh nan y, đến lúc này bệnh tình hành hạ, hoành hành dữ dội hơn, lúc bình thường đau nhức khó chịu rồi, nhưng đến lúc này lại đau nhức gấp bội phần.

Khổ về tinh thần: Thân xác đã khổ, về tinh thần lại còn khổ hơn. Lúc này người chết phải chia tay vĩnh biệt người thân nào là vợ chồng, con cái, cha mẹ, anh em, bà con, quyến thuộc làm cho họ buồm rầu rơi lệ. Chẳng những chia tay vĩnh biệt người thân, còn phải từ bỏ những gì cả cuộc đời cực nhọc tạo dựng, giữ gìn như: vàng bạc, nhà cửa, xe cộ, địa vị, danh vọng v.v... Vì vậy, chúng ta thấy, những người giàu có, danh vọng, địa vị bao nhiêu thì người ta càng sợ chết bấy nhiêu, như vua Trần Thủy Hoàng cho người lên non xuống biển để tìm thuốc trường sanh, Từ Hy Thái Hậu cho người luyện thuốc bất lão v.v... Bao nhiêu sự yêu thích mà bây giờ phải cam chịu từ giả, vĩnh biệt ra đi với hai bàn tay trắng làm cho con người đau khổ, có nhiều người quá thương yêu, luyến tiếc đến nỗi khi ra đi vẫn không chịu nhắm mắt.

Người chết phải vĩnh biệt người thân, từ giả cõi đời họ cảm thấy cô đơn lạc lõng, lạnh lẽo, lại đường trước mờ mịch không biết về đâu, nên cảm thấy hoang mang, lo sợ. Khi chết còn có bao nhiêu những cảnh tượng kinh dị, hãi hùng, khủng khiếp hiện ra để hù dọa, lôi kéo làm cho người chết sợ hãi, đau khổ. Trong kinh Đức Phật dạy: “Nếu ai sống trên đời mà tạo nhiều tội lỗi, nghiệp chướng như giết hại, trộm cướp, dâm dật, lừa đảo, nhất là tạo nghiệp sát quá nhiều như giết người, trâu, bò, heo, chó, gà, vịt, cua, cá v.v… thì khi chết lửa địa ngục hiện ra, quỉ sứ đầu trâu mặt ngựa hiện đến dẫn thần hồn họ vào địa ngục. Lại còn có những oan gia, trái chủ, những cô hồn, ma quỉ mà mình đã giết bây giờ cũng hiện ra để tìm cách báo hại, trả thù làm cho người chết sợ hãi, đau khổ”.

5. Ái biệt ly khổ

Ái là sự yêu thương, biệt ly là xa cách, chia lìa. Ái biệt ly gồm có hai loại là Sanh ly và Tử biệt.

a. Sanh ly khổ: Trên cuộc đời này biết bao nhiêu hoàn cảnh làm cho con người phải xa lìa người thân, xa lìa nơi mình yêu thương. Một người đang sống yên vui trên quê hương, tình yêu quê hương đậm đà nhưng vì hoàn cảnh, vì sự nghiệp, vì kế sinh nhai phải tha phương cầu thực, phải rời quê hương yêu dấu, nơi chôn nhau cắt rốn, đến một phương trời xa lạ, không người bầu bạn, ngày đêm vò võ nhớ nhung, nhưng vì cuộc sống người ta phải cam chịu. Ca dao có câu chỉ tâm trạng của người xa xứ:

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

Có nhiều gia đình đầm ấm, sum vầy, trên thì ông bà, cha mẹ yêu thương bảo bọc con cháu. Dưới thì con hiền, cháu thảo hiếu dưỡng ông bà cha mẹ. Cuộc sống đang êm đẹp, ấm cúng như vậy bỗng gặp một biến cố, tai họa ập đến làm gia đình tan nát, chia lìa mỗi người mỗi phương.

Có những cặp vợ chồng đang sống hạnh phúc, yêu thương nhau, do nghịch cảnh mà phải xa nhau làm cho họ nhớ thương quên ăn bỏ ngủ, ngày đêm mong ngóng chờ trông. Có những cặp tình yêu, những đôi trai gái yêu nhau tha thiết, thề non hẹn biển, nhưng gặp hoàn cảnh éo le, cha mẹ hai bên không đồng ý, làm cho họ đau khổ có khi phải tìm đến cái chết.

Nói chung, trên cuộc đời này biết bao nhiêu là hoàn cảnh, tai họa làm cho con người phải chia ly, nào là do hoàn cảnh cuộc sống nên người ta phải tha phương cầu thực, nào là do những tai họa như chiến tranh, thiên tai làm cho mọi người phải xa nhau, cách trở. Bao nhiêu những biến cố, hoàn cảnh, tai họa này chia cách cuộc sống hạnh phúc, bình an, yêu thương của nhân loại làm cho con người buồn phiền, đau khổ.

b. Tử biệt khổ: Sanh ly thì còn hy vọng, cơ hội gặp lại, chứ tử biệt thì vĩnh viễn xa nhau. Cuộc sống này biết bao nhiêu người, bao nhiêu thứ để người ta yêu thương, quý mến, nào là vợ chồng, con cái, cha mẹ v.v…, thứ đến là gia tài, sự nghiệp. Nhưng một khi vô thường đến ta đành bỏ lại tất cả để ra đi một mình với hai bàn tay trắng. Có người vợ đẹp con ngoan, nhà cao cửa rộng, hạnh phúc đang nồng ấm cũng đành phải ra đi theo tiếng gọi của vô thường. Có người cả cuộc đời cực nhọc, vất vả để tạo dựng gia tài, sự nghiệp, đến khi thành công, gia tài chưa kịp hưởng đã phải từ giả cõi đời. Có người lập chí siêng năng học hành mong đỗ đạt, thành tài để giúp ích cho đời, nhưng khi công thành danh toại, chưa làm được gì đã vội lìa đời. Tất cả những gì thương yêu, quí mến, chết phải vĩnh biệt, từ bỏ tất cả làm cho con người phải ngậm ngùi, luyến tiếc, buồn phiền, đau khổ.

Chẳng những người chết đau khổ mà người sống cũng đau khổ theo. Một người chồng hiền lành, lo làm ăn, thương vợ thương con mà đành ra đi theo tiếng gọi của tử thần làm cho vợ con đau khổ. Một người vợ hiền thục, sống chung thủy với chồng, luôn tận tụy lo cho chồng, cho con nhưng không may bị Diêm Vương mời gọi làm cho chồng, con đau khổ. Một đứa con ngoan hiền, hiếu thảo, học giỏi nhưng không may lại chết sớm làm cho cha mẹ buồn phiền ngày đêm thương nhớ.

Nói chung, ái biệt ly dù sanh ly hay tử biệt đều làm con người đau khổ, muốn thoát được ái biệt khổ chỉ có con đường tu tập giải thoát giác ngộ mà thôi.

6. Cầu bất đắc khổ

Con người vì nhu cầu cuộc sống cho bản thân, cho gia đình được hạnh phúc, sung sướng. Vì vậy mà người ta cầu, nhưng thử hỏi cầu có được không, được thì ít mà không được thì nhiều.

Cuộc sống, điều quý nhất là mạng sống, nên ai không muốn mình, người thân được mạnh khỏe, sống lâu. Nhưng thân này nó vốn là sanh, lão, bệnh, tử muốn cũng không được. Mình muốn nó mạnh nó lại yếu, muốn nó đừng bệnh nó lại bệnh, muốn nó sống lâu nó lại chết sớm, thật là mọi điều bất như ý.

Ở đời ai không muốn được giàu sang, danh vọng, địa vị. Nhưng những thứ này đâu phải dễ tìm. Người ta phải vất vã, cực nhọc, lao tâm, khổ trí mới có được, khi được rồi giữ chúng lại còn khó hơn, có khi qua một trận bão lụt, sóng thần, động đất, núi lửa, trộm cướp, giặc giã thì bao nhiêu gia tài, sự nghiệp cả một đời cực nhọc tạo dựng đều tiêu tan như mây khói.

Ở trên là nói sự tìm cầu gia tài, sự nghiệp chính đáng bằng sức lực, tài năng của mình nhưng phải vất vả, cực khổ mới có được, được rồi lại dễ mất. Còn có một số người tham lam, ích kỉ chỉ biết lợi cho bản thân mình, không màng đến hạnh phúc, quyền lợi, mạng sống của người khác. Muốn được giàu sang, danh vọng, địa vị người ta bất chấp mọi thủ đoạn, tìm trăm phương ngàn kế, mưu này, chước nọ có khi hại đến tánh mạng của người khác. Do tìm cầu một cách không chính đáng nên họ luôn hồi hộp, lo âu, ăn không ngon, ngủ không yên, khi nào cũng sợ, sợ bị phát hiện, sợ bị bắt, bị vào tù. Nhưng thực tế là vậy, nhân nào quả đó không thể trốn tránh được, khi người ta đã đạt được mục đích, chưa kịp hưởng đã bị bắt, bị giam cầm tù tội. Mình khổ đã đành mà còn liên lụy đến người thân, làm cho người thân phải khổ theo mình.

7. Oán tắng hội khổ

Oán tắng hội khổ là chỉ cho những người mình không ưa, không thích, những người mình ghét thậm chí là kẻ thù mà phải chung đụng, có khi phải ở với nhau. Cuộc đời thật là ngang trái phủ phàng, người mình yêu thích thương mến lại phải xa lìa, ngược lại người mình ghét cay, ghét đắng lại phải cam chịu sống chung.

Một người không tốt luôn tìm cách nói xấu mình, hại mình, nhưng vì công việc, nghề nghiệp mà ta cùng sống với họ, làm việc với họ làm cho ta khó chịu bực mình. Có những người chồng, sáng xỉn, chiều say, suốt ngày nghiện ngập, lại còn đánh đập vợ con. Có những người vợ, bài bạc, thô lỗ, biếng nhác v.v… Sống với những người chồng, người vợ như vậy làm người ta khổ.

Sống trên đời này con người luôn hồi hộp, lo âu, ở không yên, đi đâu cũng sợ. Người ta sợ bị lừa đảo, trộm, cướp, xì ke, ma túy, sợ những kẻ đâm thuê, chém mướn. Những đất nước, dân tộc bị ngoại xâm, ngày ngày người ta phải sống chung đụng với kẻ thù làm cho người ta ăn không ngon, ngủ không yên. Có câu văn diễn tả cái khổ sống chung với kẻ thù như sau:

“Thấy mặt kẻ thù, như kim đâm vào mắt; ở chung với người nghịch, như nếm mật, nằm gai”.

8. Ngũ ấm xí thạnh khổ

Ngũ ấm là chỉ cho thân tâm chúng sanh, cụ thể là con người. Ngũ ấm gồm có: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Sắc thuộc về thân. Thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tinh thần, là tâm. Xí thạnh chỉ cho sự thay đổi, chuyển biến, vô thường của thân, tâm.

Sự biến chuyển thay đổi của thân

Thân thay đổi, biến chuyển, vô thường theo bốn gian đoạn là sanh, già, bệnh và chết. Đã có thân thì ai cũng khổ vì thân, thân này nó chịu sự tác động của môi trường, hoàn cảnh, tùy theo môi trường hoàn cảnh mà ta có nhiều cái khổ khác nhau. Trời quá nóng làm thân nóng bức khó chịu. Trời quá lạnh làm thân rét buốt tê tái. Thời tiết thay đổi đột ngột cũng làm cho cơ thể đau nhức, ê ẩm nhất là các cụ già.

Thân này còn có trăm ngàn thứ bệnh hoành hành, năm ngoái thấy anh kia, chị kia mạnh khỏe, tráng kiện, đẹp đẽ. Năm này gặp lại thấy họ âu sầu, tiều tụy, ốm yếu sắp chết đến nơi. Sự thay đổi của cơ thể rất mau lẹ, chẳng những thay đổi theo năm mà nó thay đổi theo tháng, theo ngày, mới ngày hôm qua mạnh khỏe, hôm nay ốm yếu bệnh tật. Thân này biến chuyển thay đổi như vậy làm cho con người đau khổ.

Sự biến chuyển thay đổi của tâm

Tâm thay đổi, biến chuyển, vô thường mau lẹ hơn cả thân. Có người yêu nhau thề non hẹn biển nhưng chỉ trong một thời gian ngắn lại đi tìm người yêu mới. Có người hứa giúp đỡ cho người chuyện này, chuyện kia nhưng họ chưa giúp được ai lại thất hứa. Có người hôm qua thấy vui vẻ nay lại buồn rầu. Nói chung, tâm con người biến chuyển, thay đổi rất mau nào là vui, buồn, giận, ghét, hơn thua đủ thứ làm cho con người dằn vặt đau khổ.

III. Đời Ngũ trược khổ (Ngũ trược ác thế)

Ngũ trược còn gọi là Ngũ trọc, Ngũ là năm, Trược hay Trọc chỉ cho sự cặn đục, dơ bẩn, cấu uế, bất tịnh. Đời ngũ  trược khổ là chỉ cho đời có năm thứ dơ bẩn, cấu uế làm con người đau khổ.

Trong kinh Đức Phật dạy: “Vào thời kỳ kiếp giảm, lúc con người làm đủ mười điều ác thì thế gian sinh ra năm thứ trược đó là Kiếp trược, Kiến trược, Phiền não trược, Chúng sanh trược và Mạng trược. Năm thứ trược này làm cho con người đau khổ”.

1. Kiếp trược

Kiếp sống của con người đầy rẫy sợ dơ xấu, nguy hiểm, độc ác. Nào là trộm cướp, giặc giã, chiến tranh, bão lụt, sóng thần, động đất, núi lửa v.v… Sống trong đời ngũ trược này, con người chịu không biết bao nhiêu tai họa do con người hay thiên nhiên gây ra làm đau khổ triền miên.

2. Kiến trược

Kiến là thấy, biết, Kiến trược là sự thấy biết sai lầm, điên đảo. Những kiến thức sai lầm này dẫn dắt con người vào con đường mê lầm, đau khổ. Kiến trược còn gọi là Ác kiến hay Tà kiến được chia làm năm loại như sau:

Thân kiến: Nghĩa là chấp thân tâm giả hiệp này là ta. Vì cái chấp sai lầm ấy, ta thấy có một cái Ta riêng biệt, chắc thật không biến đổi, là quý báu. Do lầm chấp như vậy, ta luôn bảo vệ, giữ gìn và lo cho nó đủ thứ. Cũng vì cái ta này, ta tạo không biết bao nhiêu tội lỗi, nghiệp chướng làm khổ đau cho mình và người.

Biên kiến: Nghĩa là chấp một bên, nghiêng về một phía, có thành kiến cực đoan. Biên kiến có hai lối chấp sai lầm là:

a. Thường kiến: Nghĩa là chấp rằng khi chết rồi, cái Ta vẫn tồn tại mãi: người chết sẽ sanh ra người, thú chết sẽ trở lại thú, Thánh Nhơn chết trở lại làm Thánh Nhơn.

b. Ðoạn kiến: Nghĩa là chấp rằng chết rồi là mất hẳn. Ðối với người chấp Ðoạn kiến, thì hễ tắt thở là không còn gì tồn tại nữa; tội cũng không mà phước cũng chẳng còn. Họ không tin nhân quả, luân hồi, nên mặc tình làm nhiều điều tội lỗi.

Kiến thủ: Nghĩa là chấp chặt sự hiểu biết sai lầm của mình.

Do không thông minh, không có trí huệ, ta thấy, nhận định sự vật, hiện tượng sai lầm rồi cố chấp, bảo thủ  cái thấy biết của mình.

Hoặc vì tự ngã, tự ái, ta biết cái thấy của mình là sai nhưng vẫn  cố chấp, bảo thủ không chịu sửa đổi.

Giới cấm thủ: Nghĩa là làm theo những lời răn cấm sai lầm không đúng với sự thật, chân lý, không đưa đến sự giải thoát. Như cho tu khổ hạnh ép xác sẽ tiêu trừ tội lỗi. Tin ngày tắm mấy lần ở sông Hằng sẽ hết tội v.v…

Tà kiến: Nghĩa là chấp theo lối tà, không chơn chánh, trái với sự thật, trái với luật nhân quả. Nói một cách khác, Tà kiến nghĩa là mê tín dị đoan, như xin xăm, bói quẻ, cầu cơ, coi sao, cúng hạn, tin ngày giờ tốt xấu, thờ cúng bình vôi, ông táo v.v…

3. Phiền não trược

Phiền não trược là những tâm lý ô nhiễm, bất thiện, si mê. Đời ngũ trược tâm tánh con người đầy rẫy phiền não. Những phiền não này bức bách, trói buộc, sai sử con người. Có sáu phiền não căn bản là Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi và Ác kiến.

Tham: Nghĩa là tham lam. Tánh tham có động lực bắt chúng ta phải dòm ngó, theo dõi những cái gì nó ưa thích, như tiền tài, danh vọng, địa vị, miếng ăn, chỗ ở v.v... rồi nó xúi chúng ta lập mưu này, chước nọ để tìm kiếm cho được những thứ ấy. Nhưng lòng tham thì vô đáy, thế gian có câu: “được voi đòi tiên”, vì vậy mà cả cuộc đời người luôn làm nô lệ cho lòng tham. Lòng tham thường đi đôi với tánh keo kiệt, bỏn sẻn. Có nhiều người giàu vô cùng nhưng họ chẳng bao giờ bố thí, giúp đỡ cho ai, ngay bản thân họ cũng không dám tiêu xài. Tham làm khổ cho mình, người hiện tại và tương lai.

Sân: Nghĩa là nóng giận. Khi gặp những cảnh trái ý nghịch lòng, như khi người ta đụng đến lòng tự ái của mình, thì sân nổi lên, sân như ngọn lửa dữ đốt cháy lòng ta làm cho ta khổ và mọi người khổ. Có người bình thường rất hiền lành, nhưng khi lửa sân nổi lên họ dám cầm dao giết người, sau khi nguôi giận thì hối hận đã muộn.

Si: Nghĩa là si mê, mờ ám. Si như là một tấm màn dày đặc, đen tối trùm lên trí huệ của ta, làm cho ta không thể nhìn thấy được sự thật, phán đoán được cái hay, cái dở, cái tốt, cái xấu. Do đó, ta gây ra không biết bao nhiêu tội lỗi, nghiệp chướng làm khổ đau cho mình và người trong hiện tại và tương lai.

Mạn: Nghĩa là tự đề cao mình. Ỷ mình hay, giỏi rồi khinh khi, chê bai, lấn lướt mọi người. Có khi mình xấu, dở, thua người nhưng lại tự cho mình là tốt đẹp hay giỏi hơn người.

Nghi: Nghĩa là nghi ngờ, không có lòng tin. Người đa nghi thì rất khó thành công trong công việc, đối với mình, làm việc gì cũng do dự không dám làm, đối với người, không tin tưởng nên không dám giao công việc cho ai. Điều quan trọng là nghi giáo pháp của Phật, ta nghi ngờ giáo pháp của Phật nên không tu tập, làm chướng ngại sự tu tập giải thoát giác ngộ của mình.

4. Chúng sanh trược

Chúng sanh do vô minh, phiền não, nghiệp chướng sai khiến, trói buộc khiến làm nhiều điều tệ ác như giết hại, trộm cướp,  tà dâm, nói dối, không tin nhân quả, nghiệp báo, luân hồi vv…

5. Mạng trược

Con người làm nhiều tội ác như cướp của, giết người. Làm nhiều nghề ác như mổ bò, mổ heo, buôn bán rượu, á phiện, vũ khí v.v… Do làm những ác nghiệp này mà con người thọ lấy quả báo thân thể xấu xí, bệnh tật, nghèo nàn, thọ mạng ngắn ngủi. Sau khi chết lại đọa vào tam đồ, ác đạo.

IV. Khổ Ngũ ác, Ngũ thống và Ngũ thiêu của đời ác trược

Trong Kinh Vô Lượng Thọ, Đức Phật dạy: “Thế giới này có năm điều khổ lụy mà con người phải chịu đựng. Năm điều đó là Ngũ ác, Ngũ thống và Ngũ thiêu”. Sau đây là đoạn trích năm điều khổ ấy trong Kinh Vô Lượng Thọ:

“Đức Phật gọi Bồ Tát Di Lặc mà dạy rằng: “Này A Dật Đa! Công đức và rí huệ của hàng Thanh Văn và Bồ Tát nước An Lạc của Đức Vô Lượng Thọ Phật chẳng thể kể nói được.

Lại quốc độ ấy vi diệu an lạc thanh tịnh dường ấy, sao chư Thiên và mọi người chẳng gắng sức làm lành, phải đều siêng năng tinh tiến nỗ lực tự cầu tất được siêu tuyệt vãng sanh nước An Lạc, dứt ngang năm ác đạo, ác đạo tự nhiên đóng bít, con đường đạo tiến lên không cùng tột dễ đến mà không có người, nước ấy chẳng trái bỏ một ai lại có sức kéo dắt tự nhiên.

Sao mọi người chẳng vứt bỏ việc đời để chuyên cần tu hành cầu nên đạo đức để được sự trường sanh hưởng vui không cùng cực.

Nhưng người đời phần đông phước mỏng, cùng tranh nhau những sự chẳng cần kíp, ở tại trong chỗ kịch ác tột khổ mà nhọc nhằn kinh doanh chật vật để tự cung cấp. Không luận là người tôn kẻ ti, người nghèo, kẻ giàu, trẻ già nam nữ đều lo nghĩ về tiền tài, vất vả sầu khổ mãi nghĩ mãi lo không lúc nào yên. Có ruộng lo ruộng, có nhà lo nhà, có trâu ngựa lục súc nô tỳ tiền của y thực trăm ngàn thứ lại lo trăm ngàn thứ. Toan tính cầu lợi lo nghĩ buồn sợ bỗng chốc bị trộm cướp, nước cuốn, lửa cháy, sung công, tài sản tiêu tan thân mang tai họa, lại sầu khổ phẫn uất. Nếu tài sản không bị tiêu tan, thân không bị tai họa, nhưng cuối cùng vô thường bỗng đến, thân chết mạng chung, tay không mà đi không mang món gì theo được”.

Ðức Phật bảo Ngài Di Lặc Bồ Tát và hàng chư Thiên nhơn chúng rằng: “Nay ta nói với các người, thế nhơn do những sự việc ấy nên chẳng đắc đạo.

Phải suy nghĩ chín chắn, nên xa lìa những điều ác, chọn những điều lành rồi siêng năng thực hành.

Ái dục vinh hoa là những thứ chẳng thể bảo tồn mãi mãi, rồi đều sẽ ly tan không có gì đáng vui đáng thích.

May mắn gặp Đức Phật tại thế phải kíp chuyên cần tu tập, người nào có chí nguyện sanh về nước An Lạc thì được trí huệ sáng suốt, công đức thù thắng. Chẳng nên buông lung theo lòng dục vọng mà phụ rẫy lời dạy trong kinh luật để rồi phải rơi ở sau người…

Chư Thiên và nhân dân tứ chúng từ nhiều kiếp đến nay xoay lăn trong ngũ đạo lo sợ khốn khổ chẳng nói hết được. Mãi đến đời nay vẫn chưa dứt sanh tử. Gặp được Đức Phật nghe thọ kinh pháp và được nghe về Đức Vô Lượng Thọ Phật, thiệt là được lợi lành rất lớn. Ta mừng cho đó.

Các người ngày nay cũng nên tự nhàm chán sanh lão bệnh tử thống khổ, thân ngũ ấm hôi nhơ vô thường không có gì đáng vui thích. Phải tự quyết đoán đoan thân chánh hạnh làm nhiều việc lành, trừ sạch tâm nhơ bẩn, ngôn hạnh trung tín trong ngoài tương ưng, tự độ mình mà cũng cứu giúp người khác, thành tâm cầu nguyện chứa nhóm đức lành.

Dầu phải cần khổ tu hành nhưng chỉ là một đời ngắn ngủi, về sau được sanh về nước An Lạc của Đức Vô Lượng Thọ Phật hưởng sự khoái lạc vô cực, mãi mãi hiệp với đạo, khỏi hẳn sanh tử, không còn họa hoạn tham sân ngu si, muốn thọ một kiếp hay trăm ngàn muôn ức kiếp đều tùy ý tự tại, tất cả đều vô vi tự nhiên kế đạo tịch diệt…

Ngài Di Lặc Bồ Tát bạch đức Phật: “Chúng con nhận lãnh lời răn dạy của Đức Phật, chuyên cần tu học y giáo phụng hành, chẳng dám có lòng nghi ngờ”.

Ðức Phật lại bảo Ngài Di Lặc Bồ Tát rằng: “Các người có thể ở đời nầy đoan tâm chánh ý chẳng làm những điều ác đó là chí đức, mười phương thế giới không đâu sánh bằng. Tại sao vậy?

Ở quốc độ của chư Phật, hàng chư thiên và nhơn dân tự nhiên làm điều lành, chẳng phạm nhiều điều ác, họ rất dễ khai hóa.

Hiện nay ta làm Phật ở thế gian nầy, ở trong ngũ ác ngũ thống ngũ thiêu, chỗ quá khổ lụy, giáo hóa chúng sanh khiến họ trừ ngũ ác, bỏ ngũ thống, rời ngũ thiêu, điều phục ý họ khiến họ trì ngũ thiện, cho họ được phước đức thoát khỏi thế gian chứng nhập đạo Niết Bàn trường thọ.

Nầy A Dật Ða! Những gì là ngũ ác, ngũ thống và ngũ thiêu? Thế nào là tiêu hóa ngũ ác, khiến trì ngũ thiện được phước đức thoát khỏi thế gian chứng nhập đạo Niết Bàn trường thọ?

Ðiếu ác thứ nhất: - Chư Thiên và nhơn dân cho đến loài nhuyến động, phần đông muốn làm các điều ác đều như thế nầy: Kẻ mạnh hiếp kẻ yếu, giành giựt tàn hại sát lục cho đến ăn thịt lẫn nhau. Họ chẳng biết làm lành, ác nghịch vô đạo. Có nghiệp nhơn tất chịu quả báo, nên có những sự nghèo cùng hạ tiện cô độc, đui điếc câm ngọng tệ ác ngu si, thậm chí có hạng cuồng điên chẳng nên hình.

Còn những người tôn quý hào phú cao tài minh đạt, đó là do đời trước họ nhơn từ hiếu để tích đức làm lành.

Thông thường thế gian có phép nước ngục tù. Kẻ chẳng kiêng sợ giữ gìn làm ác bị tội phải xử phạt cầu thoát khó được. Thế gian có những sự hiện tiền trước mắt như vậy.

Khi chết đời sau càng sâu càng khổ vào chỗ u minh thọ lấy thân hình, nên có tự nhiên tam đồ vô lượng khổ não, chuyển đổi thân hình, thọ mạng hoặc dài hay ngắn, thần thức tự nhiên đến đó theo nhau cùng sanh, báo đền lẫn nhau không có lúc nào thôi dứt, tội ác chưa hết thì chẳng thể thoát lìa, đau khổ chẳng nói được. Con đường thiện ác nhơn quả đương nhiên như vậy.

Ðây là một đại ác một thống một thiêu, như lửa lớn đốt cháy thân người.

Có ai ở trong ấy nhứt tâm nhiếp ý đoan thân chánh hạnh chuyên làm điều lành chẳng phạm tội ác thì được độ thoát, có phước đức lớn, sanh lên cõi trời, hoặc chứng nhập Niết Bàn. Ðây là một đại thiện vậy.

Ðiều ác thứ hai: - Người thế gian, cha con anh em chồng vợ vô nghĩa vô đạo, chẳng thuận pháp độ, xa xí hoang dâm kiêu mạn phóng túng, đều riêng muốn khoái ý nên buông lung theo lòng họ, khi dối lẫn nhau, tâm khẩu mâu thuẫn, lời cùng ý không thành thiệt, siểm nịnh chẳng trung, xảo ngôn dua mị, ghét người hiền, chê người lành. Làm vua bất minh, làm quan lộng quyền, tại vì chẳng chánh khi dối lẫn nhau, hãm hại trung cang, dung dưỡng gian nịnh. Tôi khi chúa, con khi cha, anh em chồng vợ bè bạn lường gạt lẫn nhau. Ai ai cũng cưu lòng tham dục, sân hận, ngu si, muốn mình được nhiều mặc người tổn hại. Chẳng nghĩ nhà phá thân vong, chẳng quản tội trước họa sau, cho đến thân thuộc nội ngoại liên lụy diệt tộc.

Có khi gia đình bè bạn xóm làng chợ búa, dân ngu tranh giành lợi hại, do giận hờn mà kết oán thù. Kẻ giàu dư dã lại bỏn sẻn chẳng chịu thí cho, tham ái quá nặng tâm nhọc thân khổ. Cuối cùng rồi không chỗ cậy nhờ đến đi một mình không ai theo giúp. Thiện và ác, họa và phước theo người mà sanh, hoặc ở chỗ vui, hoặc vào chốn khổ, sau đó mới hối hận thì đâu còn kịp.

Người đời vì tâm khờ ít trí, thấy người làm lành thì chê ghét chẳng chịu ngưỡng mộ để được bằng. Chỉ muốn làm ác, làm điều phi pháp. Thường có tâm trộm cắp trông đoạt được của người. Phá của tiêu tan rồi đi tìm cầu. Tâm tà chẳng chánh, sợ người hơn mình. Chẳng lo tính trước việc đến mới ăn năn.

Hiện đời bị phép nước tù phạt trị tội. Sau khi chết đọa vào ác đạo, nên có tự nhiên tam đồ chịu khổ vô lượng. Xoay vần trong đó nhiều đời nhiều kiếp không có lúc ra khỏi, khó được giải thoát, đau khổ chẳng nói được.

Ðây là hai đại ác, hai thống, hai thiêu, như lửa lớn đốt cháy thân người.

Có người nào ở trong ấy mà nhứt tâm chế ý, đoan thân chánh hạnh chuyên làm điều lành, chẳng phạm điều ác thì được độ thoát có nhiều phước đức, hoặc sanh lên cõi trời, hoặc chứng nhập Niết Bàn. Ðây là hai đại thiện vậy.

Ðiều ác thứ ba: - Người đời nương nhờ nhau mà sống còn ở trong trời đất, tuổi thọ không được bao nhiêu. Trên có các nhà hiền minh trưởng giả tôn quý hào phú, dưới có những kẻ nghèo cùng ti tiện yếu kém ngu phu. Trong đó có những người bất thiện thường cưu lòng tà ác, chỉ nghĩ nhớ dâm dật ái dục, phiền não đầy bụng, ngồi đứng chẳng an, tham lam muốn lấy không của người, chán ghét vợ nhà lén lút ra vào, hao tổn gia tài làm điều phi pháp. Tụ hội bè đảng, đem quân xâm lăng, đánh cướp giết hại, cưỡng đoạt vô đạo; ra ngoài làm ác chẳng tự làm ăn, trộm cắp bức hiếp buông lung hưởng lạc, hoặc với người trong thân thuộc cũng chẳng kể tôn ty. Gia tộc nội ngoại đều lo lắng khổ sở vì họ. Cho đến cũng chẳng kiêng sợ phép nước. Ác nghiệp chiêu báo, sau khi chết đọa vào tam đồ chịu vô lượng khổ não, xoay vần trong đó nhiều đời nhiều kiếp không có thời gian ra khỏi, khó được giải thoát, đau đớn chẳng thể nói được. Ðây là ba đại ác, ba thống, ba thiêu, như lửa lớn đốt cháy thân người.

Có ai ở trong ấy nhứt tâm chế ý đoan thân chánh hạnh chuyên làm điều lành chẳng phạm điều ác, thì được độ thoát, có nhiều phước đức, hoặc sanh lên trời hay chứng nhập Niết Bàn. Ðây là đại thiện vậy.

Ðiều ác thứ bốn: - Người đời chẳng nghĩ làm lành để dạy bảo lẫn nhau, lại cùng làm những điều ác, những là lưỡng thiệt, ác khẩu, vọng ngôn, ỷ ngữ. Cãi vã chê bai, ganh ghét người lành, hãm hại người hiền rồi đứng bên vui thích. Bất hiếu với cha mẹ, khinh mạn Sư trưởng. Vô tín với bằng hữu, tự tôn tự đại, cho mình là hay là phải, cậy quyền ỷ thế áp bức người, làm ác không biết hổ thẹn, chẳng tự biết mình. Tự cho mình là khỏe muốn mọi người kính nể. Chẳng sợ trời đất thần minh nhựt nguyệt, chẳng chịu làm lành, khó giáo hóa. Không kiêng sợ ai luôn luôn kiêu mạn. Cậy có chút ít phước đức do đời trước làm được điều lành nhỏ, đời nay làm ác, phước đức tiêu diệt, sau khi chết, tội báo tự nhiên chẳng hề rời lìa, đọa vào tam đồ chịu vô lượng thống khổ, đến lúc này ăn năn đâu còn kịp. Xoay vần trong ấy nhiều đời nhiều kiếp không có thời kỳ ra khỏi, khó được giải thoát, đau khổ chẳng nói được. Ðây là bốn đại ác, bốn thống, bốn thiêu, như lửa lớn đốt cháy thân người.

Có ai ở trong ấy nhứt tâm chế ý đoan thân chánh hạnh chuyên làm những điều lành chẳng phạm điều ác, thì được độ thoát có nhiều phước đức, hoặc sanh lên cõi trời, hay chứng nhập Niết Bàn. Ðây là bốn đại thiện vậy.

Ðiều ác thứ năm. - Người đời ỷ lại lười biếng chẳng chịu làm điều lành sửa mình tu nghiệp. Gia đình quyến thuộc đói rét khốn khổ. Cha mẹ có dạy răn thì giận dỗi chống trái, bất hiếu bất mục, phụ ân vô nghĩa, không có lòng báo đáp. Nghèo cùng khốn thiếu, sang đoạt phóng đãng, lấy ngang của người để tự cung cấp. Thích ngon ưa rượu, ăn uống vô độ, gây gổ xung đột chẳng biết nhơn tình. Thấy người hay tốt thì ganh ghét. Vô nghĩa vô lễ không hề kiêng kỵ. Phóng túng chơi bời không ai khuyên can được. Với lục thân quyến thuộc, thiếu đủ không hề đoái hoài. Chẳng nghĩ ơn cha mẹ, chẳng biết nghĩa thầy bạn. Tâm thường nghĩ ác, miệng thường nói ác, thân thường làm ác, không có được chút lành. Chẳng tin kinh pháp của chư Phật hiền thánh. Chẳng tin hành đạo sẽ được giải thoát. Chẳng tin sau khi chết thần thức đầu thai trở lại. Chẳng tin làm lành được lành, làm dữ được dữ. Muốn giết người chơn tu, phá rối chúng Tăng. Muốn hại cha mẹ anh em quyến thuộc. Tông tộc đều chán ghét muốn nó chết đi. Người như vậy, tâm ý họ cháy phừng ngu si mê muội mà họ tự cho là sáng suốt. Chẳng biết sanh từ đâu đến, chết sẽ về đâu. Bất nhơn bất thuận ác nghịch trời đất, mà lại muốn cầu may được trường thọ. Có ai thương dạy bảo điều lành lẽ phải, khai thị con đường sanh tử thiện ác, họ vẫn chẳng tin, khổ tâm cạn lời cũng thành vô ích. Lòng họ bít lấp, ý họ chẳng tỏ ngộ. Lúc sắp chết mới biết lo sợ ăn năn thì đâu còn kịp nữa. Trong trời đất năm loài phân minh, rộng rãi mịt mờ mênh mênh mông mông. Báo ứng lành dữ, họa phước kéo dắt tự mình lãnh chịu, không ai thay thế được. Người lành làm lành thì từ vui vào vui, từ sáng vào sáng. Người dữ làm dữ thì từ khổ vào khổ, từ tối vào tối. Ai biết được đó? Chỉ một mình Đức Phật biết rõ dạy bảo khai thị. Người tin làm theo rất ít. Vì thế nên sanh tử chẳng thôi, ác đạo chẳng tuyệt. Người đời tạo ác như vậy nên có tự nhiên tam đồ khổ sở vô lượng. Xoay vần trong ấy nhiều đời nhiều kiếp không có thời kỳ ra khỏi, khó được giải thoát đau đớn chẳng nói được. Ðây là năm đại ác, năm thống, năm thiêu, như lửa lớn đốt cháy thân người.

Nếu có ai trong ấy nhứt tâm chế ý đoan thân chánh niệm, ngôn hạnh tương ưng, việc làm chí thành, chuyên làm điều lành chẳng phạm điều ác thì được độ thoát, có nhiều phước đức được sanh lên cõi trời hay chứng nhập Niết Bàn. Ðây là năm đại thiện vậy.

Nầy A Dật Ða! Ðó là năm điều ác trong đời khổ não như vậy. Năm thống, năm thiêu xoay vần sanh lẫn nhau. Chẳng tu đức lành mà chỉ làm những điều ác thì đều tự nhiên đọa vào ác đạo. Hoặc có kẻ hiện đời nay, trước hết bị bệnh hoạn cầu chết chẳng được, cầu sống chẳng được, cho mọi người thấy sự chiêu cảm của tội ác. Khi thân chết, thần thức theo ác nghiệp mà đi vào ba ác đạo chịu vô lượng thống khổ.

Tội ác từ mảy nhỏ lần thành to lớn, đều do tham tài sắc chẳng chịu ban bố. Chạy theo dục vọng si cuồng, phiền não buộc trói không tháo mở được. Tranh lợi về mình chẳng biết tự xét. Phú quí vinh hoa đương thời đắc ý, chẳng hay nhẫn nhục, chẳng biết làm lành. Không bao lâu oai thế tiêu diệt, thân bị khổ nhọc càng ngày càng nặng, nhơn xấu quả khổ, nhơn quả tự nhiên không hề sai sót, xưa nay đều như vậy thiệt rất đáng thương”.

 

KHUYẾN TU

Qua những điều đã nói, giải thích và chứng minh ở trên, chúng ta thấy cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là một cõi trang nghiêm, thanh tịnh, an lạc. Cõi Ta Bà thì vô thường, sanh diệt, ô uế, bất tịnh, ác độc, khổ đau. Vậy chúng ta hãy siêng năng tinh tấn tu tập, niệm Phật A Di Đà để sớm thoát khỏi Ta Bà vãng sanh về cõi Cực Lạc.

Cuộc đời, mạng sống của ta rất ngắn ngủi, chúng ta không thể chần chờ, do dự. Ta chần chờ do dự không chịu tu tập, niệm Phật thì sẽ bỏ lỡ cơ hội quý báu này, để rồi trầm luân trong biển khổ sanh tử, luân hồi thật là đáng tiếc.

Cuộc đời sống được trăm năm nhưng thật sự mấy ai sống được trăm năm. Con quỷ vô thường thật khắc nghiệt nó không chừa, không hẹn một ai, nếu không may nó đến gõ cửa nhà ta thì than ôi! Ta đành phải vĩnh biệt người thân, ra đi không lời từ biệt và không biết về đâu, thật là cô đơn lạnh lẻo trong cõi u minh.

Sau đây, chúng tôi xin kể câu chuyện trong kinh nói đến mạng sống vô thường ngắn ngủi của kiếp người:

“Vào thời Đức Phật, một hôm, Ngài hỏi các vị Tỳ Kheo rằng:

- Mạng người sống được bao lâu?

Một vị Tỳ Kheo thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn! Mạng người sống được trăm năm!

Đức Phật trả lời.

- Ông chưa hiểu đạo!

Một vị khác thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn! Mạng người sống được vài mươi năm!

Đức Phật lại nói:

- Ông chưa hiểu đạo!

Lại một vị khác thưa:

- Bạch Đức Thế Tôn! Mạng người sống trong một bữa ăn!

Đức Phật trả lời:

- Ông cũng chưa hiểu đạo!

Sau cùng, có một vị Tỳ Kheo thưa rằng:

- Bạch Đức Thế Tôn! Mạng người sống trong hơi thở!

Đức Phật liền nói rằng:

- Ông đã hiểu đạo!”

Qua mẩu chuyện trên, chúng ta thấy mạng sống của con người vô thường, mỏng manh không biết sống chết khi nào. Mạng sống của ta chỉ trong hơi thở, nếu hít vào mà không thở ra, hay thở ra mà không hít vào là chết. Trên đời này, không có ai dám khẳng định sống được bao nhiêu năm hay đến già.

Nhìn lại trên thế gian, chúng ta thấy cái chết không chừa, không hẹn một ai dù trẻ hay già. Có người chưa chào đời đã chết, chết từ trong bào thai mẹ. Có người được khóc vài tiếng “oa oa” rồi vội lìa đời. Có người sống được vài ngày, vài tháng, vài năm, vài chục năm v.v… Vì vậy, nghĩa địa thiếu gì mồ hoang của kẻ tóc xanh.

Biết được cuộc đời vô thường, mạng sống mỏng manh, chúng ta cố gắng lo tu tập, niệm Phật. Mình còn sống một giờ, một phút, một giây là lo tu tập một giờ, một phút, một giây. Chúng ta không thể vì gia đình, sự nghiệp mà hẹn. Có mẩu chuyện vì hẹn mà bỏ mất cơ hội tu tập:

“Xưa, có vị Hòa Thượng đến thăm một người cư sĩ tại gia.

Ngài khuyên vị này tu tập.

Vị cư sĩ thưa với Hòa Thượng:

- Bạch Hòa Thượng! Nhà con còn nhiều việc phải làm, khi nào con sắp xếp việc nhà, cưới gả con cái xong chừng đó con sẽ tu.

Một năm sau, Hòa Thượng đến thăm lại vị cư sĩ, đáng thương thay, vị cư sĩ đã trở thành người thiên cổ”.

Mẩu chuyện này là bài học cảnh tỉnh chúng ta, chúng ta không vì chuyện gia đình, công việc mà hẹn. Ta hãy buông xả mọi chuyện thế gian để lo tu tập, nếu chưa buông xả hết được, ta cũng phải sắp xếp việc nhà, việc cửa cho gọn gàng để có thời gian tu tập. Chúng ta đừng để chuyện đời, chuyện thế gian chi phối hết thời gian của mình.

Chuyện đời, việc thế gian rất nhiều, có trăm ngàn công việc, ta không thể làm hết được, chỉ khi nào chết mới hết việc mà thôi. Đời người rất nhiều việc, hồi còn nhỏ thì lo đi học, lớn lên lo chuyện gia đình sự nghiệp, tuổi già thì lo giữ nhà giữ cháu cho con cái đi làm. Ta hẹn làm cho xong việc, hết việc mới tu thì biết khi nào mới xong.

Vậy bây giờ, chúng ta sắp xếp sự tu tập theo ba cách sau đây: Một là phải buông xả những công việc không cần thiết, hai là sắp xếp công việc cho gọn nhẹ để có thời gian tu tập, ba là tu tập trong bận rộn, chúng ta biết sắp xếp như vậy thì mới có thời gian tu tập.

Đặc biệt, Pháp Môn Tịnh Độ thực hành rất dễ, trong mọi hoàn cảnh, trong mọi công việc đều tu tập được. Người nông phu thì vừa cuốc đất vừa niệm Phật. Người buôn bán, khi khách đến thì bán, khách đi thì niệm Phật. Người làm văn phòng thì niệm Phật trong những lúc nghỉ ngơi, giải lao v.v… Nói chung, hoàn cảnh công việc không trở ngại người niệm Phật, ngược lại, sự tu tập, niệm Phật đem lại hiệu quả rất lớn trong công việc. Vì khi niệm Phật, tâm ta tỉnh táo, sáng suốt nên giải quyết được nhiều việc rắc rối, khó khăn. Vậy nên, chúng ta phải siêng năng, tinh tấn tu tập, niệm Phật để sớm được vãng sanh về Cực Lạc, thoát khổ được vui.

Thế giới này còn có bao nhiêu sự dơ bẩn, cấu uế, bất tịnh, ác độc, nguy hiểm, khổ đau. Những bất tịnh, ác độc, khổ đau này đã nói ở phần trên như: tam khổ, bát khổ, đời ngũ trược khổ v.v… Chúng ta biết được như vậy thì ta còn mong muốn, tham đắm, bám víu vào thế gian này làm gì nữa. Ta còn tham luyến thế gian bao nhiêu thì khổ đau bấy nhiêu mà thôi.

Từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta vì vô minh, điên đảo nên đã trầm luân trong sanh tử luân hồi không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp không thể tính hết được, sự khổ đau cũng vô cùng tận. Khi ở Địa ngục, ta phải nằm trên bàn chông, trên chảo dầu sôi, trong lò lửa nóng. Khi làm Ngạ quỷ, ta chịu cảnh đói khát, thân thể  trần truồng hàng ngàn vạn năm. Khi làm Súc sanh, ta phải ăn dơ ở bẩn, lại còn ăn nuốt giết hại lẫn nhau. Khi làm thân Người, thân Trời, ta chịu cảnh sanh ly tử biệt, vô thường thay đổi. Nói chung, ta còn trầm luân trong sanh tử luân hồi là còn khổ đau, dù ở cảnh giới nào, chỉ có khổ đau ít hay nhiều mà thôi.

Trong kinh Đức Phật nói: “Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển, xương thịt chúng sanh trong nhiều kiếp luân hồi hơn núi Tu Di”. Trong vòng sanh tử luân hồi, ta đã chịu nhiều đau khổ, vậy sao hôm nay, ta không giác ngộ, quay đầu tìm về bến giác an vui.

Chư Phật thương xót chúng sanh trầm luân trong sanh tử, các Ngài thị hiện ra đời đem pháp mầu chỉ dạy chúng sanh tu tập thoát khổ được vui. Từ vô lượng kiếp đến nay, vô số chư Phật ra đời cứu độ chúng sanh, vô số chúng sanh được độ, được giải thoát. Vậy sao hôm nay, ta vẫn còn là chúng sanh trôi lăn trong sanh tử, có lẽ cũng vì tính chần chờ, do dự, nghi ngờ mà ta đánh mất cơ hội tu tập giải thoát nơi chư Phật quá khứ, thật đáng buồn, đáng hổ thẹn.

Hôm nay, chúng ta gặp được Phật pháp, lại còn thắng duyên là gặp được Pháp Môn Tịnh Độ thù thắng, dễ tu, mau chứng, sớm thành Phật. Chúng ta không nên chần chờ, do dự, nghi ngờ mà hãy thực hành tu tập ngay, nếu không sẽ đánh mất cơ hội quí báu này, ta lại tiếp tục đi trong sanh tử luân hồi khổ đau không biết khi nào mới thoát.

Cuộc đời này, chúng ta sống không được bao lâu, như gió thoảng mây bay, mới tóc xanh đó đã đến bạc đầu, lại vui ít khổ nhiều. Hôm nay, ta lo tu tập, niệm Phật, đem thọ mạng ngắn ngủi ở Ta Bà đổi thọ mạng vô lượng ở Tây Phương, lấy khổ đau ở Tà Bà  đổi sự an vui ở Cực Lạc. Chúng ta làm được như vậy thì có hạnh phúc sung sướng nào bằng.

Cõi Tây Phương Cực Lạc là cõi do nguyện lực và phước đức trí tuệ của Đức Phật A Di Đà lập nên, cõi Cực Lạc cũng là cõi đồng nghiệp của những chúng sanh tu tập phước đước trí tuệ ở mười phương nương về, nên cõi Cực Lạc rất trang nghiêm thanh tịnh.

Ở cõi Cực Lạc, con người ăn mặc tự nhiên đều tùy ý, thân có thần thông, trí huệ sáng suốt. Ngày ngày, được Đức Phật A Di Đà, Bồ Tát Quán Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí và chư Bồ Tát chỉ dạy tu tập. Do được nhiều duyên thù thắng, con người ở đây tu tập dễ dàng mau chóng, theo trong Kinh nói thì một đời giải thoát, thành Phật.

Cõi Cực Lạc trang nghiêm thanh tịnh, an lạc như vậy, sao chúng ta không lo tu tập, niệm Phật để được vãng sanh, thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi. Bây giờ, ta phải siêng năng tinh tấn tu tập, niệm Phật không ngại khó khăn, gian khổ để được vãng sanh, sớm thành Phật Đạo.

Pháp Môn Tịnh Độ, phương pháp tu tập rất dễ, phù hợp với mọi căn cơ, ai thực hành tu tập cũng được, miễn là có niềm tin ở cõi Cực Lạc và Đức Phật A Di Đà. Hàng ngày chỉ chuyên tâm niệm Phật. Lúc đi đứng nằm ngồi đều nhớ Phật niệm Phật. Ngoài ra, tùy theo hoàn cảnh nhân duyên, ta có thể làm những việc thiện như: cúng dường, bố thí, phóng sanh v.v… và đem công đức này hồi hướng về Tịnh Độ. Chúng ta thực hành, tu tập như vậy thì bảo đảm, chắc chắn được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

Ai công việc bận rộn thì vừa làm vừa niệm Phật, nhưng một ngày phải có 2 thời khóa công phu niệm Phật vào buổi khua và buổi tối. Buổi khuya, chúng ta thức dậy khoảng 4 hay 5 giờ, ra trước bàn Phật lạy Phật, niệm Phật 30 phút  hay 1 tiếng và phát nguyện hồi hướng vãng sanh. Buổi tối đi làm về, ăn cơm nghỉ ngơi xong, chúng ta ra trước bàn Phật, ngồi ngay ngắn, trang nghiêm, niệm Phật khoảng 30 phút hay 1 tiếng và hồi hướng phát nguyện vãng sanh.

Người công việc rảnh rổi, nhất là những người già không làm gì, thì mỗi ngày nên hành trì 4 thời công phu niệm Phật. Buổi khuya, chúng ta thức dậy vào khoảng 4 hay 5 giờ, sau đó công phu niệm Phật từ 1 tiếng đến 1 tiếng rưỡi, hay nhiều hơn tùy theo sức khỏe của mỗi người. Buổi sáng, chúng ta công phu niệm Phật từ 8 giờ đến 9 hay 10 giờ. Buổi chiều, chúng ta công phu niệm Phật từ 2 giờ đến 3 hay 4 giờ. Buổi tối, chúng ta công phu niệm Phật từ 7 giờ đến 8 hay 9 giờ. Người công việc rảnh rổi phải tập 1 thời công phu niệm Phật từ 1 tiếng đồng hồ trở lên. Ngoài 4 thời tu tập chính này, trong những lúc đi đứng nằm ngồi đều phải chuyên tâm niệm Phật, không nên bàn tán hay nói chuyện thế gian. Chúng ta thực hành tu tập như vậy, nhất định được vãng sanh Cực Lạc, ở phẩm vị cao, sớm thành Phật đạo.

Người niệm Phật, hiện tại hay tương lai đều được lợi ích. Hiện tại tâm được an lạc, phiền não nghiệp chướng tiêu trừ. Tương lai, khi xả bỏ báo thân này, chúng ta được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, được an lạc, giải thoát.

Pháp Môn Tịnh Độ thù thắng, lợi ích như vậy. Vậy những ai có thắng duyên đang tu tập pháp này, chúng ta siêng năng, tinh tấn niệm Phật để sớm được vãng sanh. Những ai bây giờ mới có duyên gặp được pháp môn này, chúng ta bắt đầu thực hành, không chần chờ, do dự, nghi ngờ và phải siêng năng tinh tấn niệm Phật để sớm được vãng sanh.

Nói chung, tất cả chúng ta, ai ai cũng phải lập chí dũng mãnh, tinh tấn, siêng năng tu tập, niệm Phật để sớm được vãng sanh Cực Lạc. Chúng ta lại đem pháp môn này giới thiệu, truyền bá rộng rãi khắp nơi, để mọi người cùng nhau tu tập niệm Phật, cùng vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc.

 

DẪN CHỨNG NHỮNG MẨU CHUYỆN NIỆM PHẬT VÃNG SANH CỦA NGƯỜI XƯA

Dưới đây là những mẩu chuyện niệm Phật vãng sanh của người xưa. Những mẩu chuyện này trích dẫn trong hai bộ sách: “Đường Về Cực Lạc và Mấy Điệu Sen Thanh” của Hòa Thượng Trí Tịnh và Hòa Thượng Thiền Tâm.

1. Lời phát nguyện  vãng sanh của Bồ Tát Phổ Hiền

Bồ Tát Phổ Hiền là vị Đại Bồ Tát. Trong Kinh Hoa Nghiêm, trước Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni và chúng hội, Ngài phát nguyện vãng sanh, đồng thời cũng khuyến hóa chúng hội hiện tại và tương lai phát nguyện cầu vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Lời phát nguyện của Ngài như sau:

Nguyện tôi đến lúc mạng chung

Trừ hết tất cả những chướng ngại

Diện kiến Đức Phật A Di Đà

Liền được vãng sanh Cực Lạc quốc

Tôi đã vãng sanh Cực Lạc rồi

Hiện tiền thành tựu đại nguyện này

Viên mãn tất cả không còn thừa.

Lợi lạc hết thảy chúng sanh giới.

Chúng hội của Phật đều thanh tịnh

Tôi liền thác sanh trong hoa sen

Nhìn thấy Như Lai Vô Lượng Quang

Hiện tiền thọ ký tôi thành Phật.

Được Đức Như Lai thọ ký rồi

Hóa vô số trăm câu chi thân

Trí lực rộng lớn khắp mười phương

Lợi khắp tất cả chúng sanh giới.

2. Pháp Chiếu Đại Sư (Vị Tổ thứ 4 của Tông Tịnh Độ)

Pháp Chiếu đại sư, chưa rõ là người bậc thế nào? Trong năm Đại Lịch thứ hai đời nhà Đường, hàng đạo tục được biết ngài ở chùa Vân Phong tại Hoành Châu, thường chuyên cần tu tập.

Một buổi sáng, vào lúc thanh trai, ngài thấy trong bát cháo ở Tăng đường; hiện rõ bóng mây ngũ sắc. Trong mây hiện ra cảnh sơn tự, phía Đông Bắc chùa có dãy núi, chân núi có khe nước. Phía Bắc khe nước có cửa ngõ bằng đá. Trong ngõ đá lại có một ngôi chùa to, biển đề: “Đại Thánh Trúc Lâm Tự”. Mấy hôm sau, ngài lại thấy nơi bát cháo hiện rõ cảnh chùa lớn ấy, gồm vườn ao, lâu đài tráng lệ nguy nga, và một vạn Bồ Tát ở trong đó.

Ngài đem cảnh tượng ấy hỏi các bậc tri thức. Một vị cao Tăng bảo: “Sự biến hiện của chư Thánh khó nghĩ bàn được. Nhưng nếu luận về địa thế non sông, thì đó là cảnh Ngũ Đài Sơn”. Nghe lời ấy Ngài có ý muốn đến viếng Ngũ Đài thử xem sự thật ra thế nào”.

Năm Đại Lịch thứ tư, Đại sư mở đạo tràng niệm Phật tại chùa Hồ Đông. Ngày khai hội cảm mây lành giăng che chốn đạo tràng. Trong mây hiện ra cung điện lầu các Phật A Di Đà cùng hai vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí hiện thân vàng sáng chói cả hư không. Khắp thành Hoành Châu, bá tánh trông thấy đều đặt bàn đốt hương đảnh lễ. Cảnh tượng ấy hiện ra giây lâu mới ẩn mất. Do điềm lành này, rất nhiều người phát tâm tinh tấn niệm Phật. Đạo tràng khai liên tiếp được năm hội.

Một hôm, Đại sư gặp cụ già bảo: “Ông từng có ý niệm muốn đến Kim Sắc thế giới tại Ngũ Đài Sơn, để đảnh lễ đức Đại Thánh Văn Thù sao đến nay vẫn chưa thật hành ý nguyện?”. Nói xong liền ẩn mất. Được sự nhắc nhở, ngài sửa soạn hành trang, cùng mấy pháp hữu, đồng viếng Ngũ Đài.

Năm Đại Lịch thứ năm, vào ngày mùng sáu tháng tư, Đại sư cùng đồng bạn mới đến chùa Phật Quang ở huyện Ngũ Đài. Đêm ấy, vào khoảng canh tư, Ngài thấy ánh sáng lạ từ xa chiếu đến thân mình, liền nhắm phỏng chừng tia sáng mà theo dõi. Đi được năm mươi dặm thì đến một dãy núi, dưới chân núi có khe nước, phía Bắc khe có cửa cổng bằng đá. Nơi cửa có hai vị đồng tử đứng đón chờ, tự xưng là Thiện Tài và Nan Đà. Theo chân hai đồng tử dẫn đường, Ngài đến một ngôi chùa nguy nga, biển đề: “Đại Thánh Trúc Lâm Tự”. Nơi đây đất vàng, cây báu, ao sen, lầu các rất kỳ diễm trang nghiêm. Cảnh giới qủa đúng như ảnh tượng đã thấy nơi bát cháo khi trước.

Ngài vào chùa, lên giảng đường, thấy Đức Văn Thù bên Tây, đức Phổ Hiền bên Đông. Hai vị đều ngồi tòa sư tử báu cao đẹp, đang thuyết pháp cho một muôn vị Bồ Tát ngồi phía dưới lặng lẽ lắng nghe. Pháp Chiếu bước đến chí thành đảnh lễ, rồi qùy xuống thưa rằng: “Kính bạch Đại Thánh! Hàng phàm phu đời mạt pháp, cách Phật đã xa, chướng nặng nghiệp sâu, tri thức kém hẹp, tuy có Phật tánh mà không biết làm sao hiển lộ. Giáo pháp của Phật lại qúa rộng rãi mênh mông, chưa rõ pháp môn nào thiết yếu dễ tu hành cho mau được giải thoát?”.

Đức Văn Thù bảo:

Thời kỳ này chính là đúng lúc các người nên niệm Phật. Trong các hành môn không chi hơn niệm Phật và gồm tu phước huệ. Thuở đời qúa khứ, ta nhờ quán Phật, niệm Phật, cúng dường Tam Bảo mà được Nhất thiết chủng trí. Tất cả các pháp như: “Bát Nhã Ba La Mật, những môn thiền định rộng sâu, cho đến chư Phật cũng từ niệm Phật mà sanh. Vì thế nên biết, Niệm Phật là vua trong các pháp môn”.

Ngài Pháp Chiếu lại hỏi:

Bạch Đại Thánh! Nên niệm như thế nào?

Đức Văn Thù dạy:

Về phương Tây của thế giới này, có Phật A Di Đà giáo chủ cõi Cực Lạc. Đức Thế Tôn đó nguyện lực không thể nghĩ bàn! Ngươi nên chuyên niệm danh hiệu của Ngài nối tiếp không gián đoạn, thì khi mạng chung, quyết được vãng sanh, chẳng còn bị thối chuyển.

Nói xong, hai vị đại Thánh đồng đưa tay vàng xoa đầu ngài Pháp Chiếu và bảo rằng:

Do ngươi niệm Phật, nên không lâu sẽ chứng được qủa Vô Thượng Bồ Đề. Nếu thiện nam tín nữ nào muốn mau thành Phật, thì không chi hơn niệm Phật. Kẻ ấy nhất định sẽ mau lên ngôi Chánh Đẳng Chánh Giác.

Được hai vị Đại Thánh thọ ký xong ngài Pháp Chiếu vui mừng đảnh lễ rồi từ tạ lui ra.

Hai đồng tử khi nãy theo sau tiễn đưa. Vừa ra khỏi cổng, Ngài quay lại thì người và cảnh đều biến mất. Ngài liền dựng đá đánh dấu chỗ ấy, rồi trở về chùa Phật Quang.

Đến ngày 13 tháng 4, Pháp Chiếu đại sư cùng hơn năm mươi vị Tăng đồng đến hang Kim Cang, thành tâm đảnh lễ hồng danh ba mươi lăm Đức Phật. Vừa lạy được mười lượt, Ngài bỗng thấy hang Kim Cang rộng lớn thanh tịnh trang nghiêm có cung điện bằng lưu ly, Đức Văn Thù, Phổ Hiền đồng ngự trong ấy. Hôm khác, Ngài lại đi riêng đến hang Kim Cang, gieo mình đảnh lễ, nguyện thấy Đại Thánh. Đang khi lạy xuống vừa ngước lên, Đại sư bỗng thấy một Phạm Tăng tự xưng là Phật Đà Ba Ly. Vị này đưa Ngài vào một đại điện trang nghiêm, biển đề là Kim Cang Bát Nhã Tự. Toàn điện nhiều thứ báu lạ đẹp mầu, ánh sáng lấp lánh. Dù đã nhiều lần thấy sự linh dị, nhưng Ngài vẫn chưa thuật lại với ai cả.

Tháng chạp năm ấy, Ngài nhập đạo tràng niệm Phật nơi chùa Hoa Nghiêm định kỳ tuyệt thực tu hành, nguyện vãng sanh về Tịnh Độ. Đêm đầu hôm, ngày thứ bảy, đang lúc niệm Phật, Đại sư bỗng thấy một vị Phạm Tăng bước vào bảo: “Ông đã thấy cảnh giới ở Ngũ Đài Sơn, sao không truyền thuật cho người đời cùng được biết?”. Nói xong, liền ẩn mất.

Hôm sau, trong lúc niệm Phật, vì Phạm Tăng hiện ra, bảo y như trước. Ngài đáp: “Không phải tôi dám giấu kín thánh tích, nhưng chỉ sợ nói ra người đời không tin sanh sự chê bai mà thôi”. Phạm Tăng bảo: “Chính Đức Đại Thánh Văn Thù hiện tại ở núi này, mà còn bị người đời hủy báng, thì ông còn lo ngại làm chi? Hãy đem những cảnh giới mà ông thấy được truyền thuật với chúng sanh làm duyên cho mọi người được biết, phát khởi Tâm Bồ Đề”. Ngài tuân lời, nhớ kỹ lại những sự việc đã thấy, rồi ghi chép ra truyền lại cho mọi người.

Năm sau, sư Thích Huệ Tùy ở Giang Đông cùng với chư Tăng chùa Hoa Nghiêm, theo Pháp Chiếu đại sư đến hang Kim Cang lễ Phật. Kế đó lại đến chỗ dựng đá lúc trước để chiêm ngưỡng dấu cũ. Đại chúng còn đang ngậm ngùi ngưỡng vọng, bỗng đồng nghe tiếng chuông hồng chung từ vách đá vang ra. Giọng chuông thanh thoát ngân nga, nhặt khoan ràng rẽ. Ai nấy đều kinh lạ đồng công nhận những lời thuật của ngài Pháp Chiếu là đúng sự thật. Vì muốn cho người viếng cảnh đều phát đạo tâm, Tăng chúng nhân cơ duyên ấy, khắc những sự việc của ngài nghe thấy vào vách đá. Về sau ngay nơi đó, một cảnh chùa trang nghiêm được dựng lên, vẫn lấy hiệu là Trúc Lâm Tự để lưu niệm.

Triều vua Đức Tông, Pháp Chiếu đại sư mở đạo tràng niệm Phật tại Tinh Châu, cũng liên tiếp được năm hội. Mỗi đêm vua và người trong cung nghe tiếng niệm Phật rất thanh thoát từ xa đưa vẳng lại. Sau khi cho người dò tìm, được biết đó là tiếng niệm Phật ở đạo tràng tại Tinh Châu, nhà vua phái sứ giả mang lễ đến thỉnh ngài vào triều. Ngài mở đạo tràng niệm Phật tại hoàng cung, cũng gồm năm hội. Vì thế, người đương thời gọi ngài là Ngũ Hội Pháp Sư.

Từ đó Đại sư tinh tấn tu hành, ngày đêm không trễ. Một đêm nọ Ngài thấy vị Phạm Tăng khi trước là Phật Đà Ba Ly hiện đến bảo: “Hoa sen công đức của ông nơi ao thất bảo ở cõi Cực Lạc đã thành tựu. Ba năm sau là đúng thời kỳ hoa nở, ông nên chuẩn bị”. Đến kỳ hạn, Đại sư gọi Tăng chúng lại căn dặn rằng: “Ta về Cực Lạc, mọi người phẳi gắng tinh tu!”. Nói xong, ngài ngồi ngay yên lặng mà tịch.

3. Hòa Thượng Tăng Huyền

Tăng Huyền hòa thượng người Tinh Châu. Hòa thượng thâm đạt thiền tông, thông giáo lý. Giải cùng hạnh đều trọn đủ. Năm 96 tuổi, thấy Đạo Xước thiền sư giảng Quán Kinh cùng trứ tác Tịnh Độ Luận, Hòa thượng mới hồi tâm lo niệm Phật. Sợ rằng tuổi đã quá già không còn sống bao lâu nên hòa thượng tu Tịnh nghiệp rất chuyên cần: Mỗi ngày lễ Phật một nghìn lạy, niệm Phật chín vạn câu, luôn như vậy trọn 5 năm không một ngày thiếu trễ.

Một hôm nhuốm bịnh nhẹ, Hòa Thượng hội đệ tử lại mà bảo rằng:  “Đức A Di Đà Phật trao cho ta chiếc áo thơm đẹp, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí cùng Thánh Chúng đều đứng trước ta, vô số hóa Phật chật cả hư không. Ai nấy ở lại gắng tu. Ta xin đi”. Dứt lời Hòa Thượng liền tịch. Mùi thơm lạ ngào ngạt trọn bảy ngày mà chưa tan.

Bấy giờ có Khải Phương pháp sư và Viên Quả pháp sư mục kích Hòa Thượng vãng sanh. Hai người đều phát tâm cầu sanh Tịnh Độ. Đồng đến chùa Ngộ Chơn kiết thất ba tháng chuyên niệm A Di Đà Phật. Hai pháp sư bẻ một nhành dương tươi đem để trong tay tượng Đức Quán Thế Âm rồi đồng vái rằng: “Nếu chúng tôi sẽ được vãng sanh Cực Lạc nguyện nhành dương này không héo”. Qua bảy ngày sau nhánh dương ấy càng xanh tươi hơn. Hai pháp sư rất mừng, ngày đêm niệm Phật không ngớt. Năm tháng sau, một hôm đương lúc tịnh tọa hai pháp sư tự thấy mình đến ao báu. Thấy Đức Quán Thế Âm cùng Đức Đại Thế Chí ngồi trên hai hoa sen báu lớn. Trong ao báu ấy có cả nghìn vạn hoa sen lớn đẹp sáng. Kế thấy Đức A Di Đà từ Phương Tây đi đến, ngự trên một hoa sen lớn nhứt. Thân Phật tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Hai pháp sư lễ Phật rồi bạch rằng: “Chúng sanh trong cõi Ta Bà y theo lời dạy trong kinh mà niệm Phật, không rõ có đươc sinh về đây không?” Phật dạy: “Đừng nghi! Quyết định sanh về cõi nước của ta”. Hai pháp sư lại nghe văng vẳng tiếng Phật Thích Ca Mâu Ni và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát tán thán kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Trên thềm báu thấy có rất đông người, bảo là ở Ta Bà niệm Phật mà được sanh về đây.

Sau khi xuất định Khải Phương, Viên Quả thuật lại với hàng đệ tử các ngài.

4. Hai Sa Di

Ở Văn Châu có hai ông Sa di đồng chí niệm Phật được năm năm. Một hôm ông lớn chết, thần thức đến Tịnh Độ lễ Phật mà bạch rằng: “Con còn một người bạn đồng tu, chẳng biết rồi được sanh về đây chăng?” Phật dạy: “Lúc trước nhờ ông Sa Di nhỏ đó khuyên ông, nên ông mới phát tâm niệm Phật. Nay ông trở về gắng tu Tịnh nghiệp thêm Ba năm sau hai người sẽ đồng đến nơi đây”.

Ông Sa Di lớn sống lại thuật chuyện gặp Phật với ông Sa di nhỏ và mọi người. Từ đó hai ông càng chuyên cần tu niệm.

Ba năm sau cả hai ông đồng thấy Phật và Thánh Chúng từ Phương Tây đến. Khắp đại địa rúng động, hoa trời bay rưới. Cả hai ông đồng vãng sanh.

5. Ni Quảng Giác

Sư ni Quảng Giác họ Cung, người Tô Châu. Lúc còn ở tục, cô ăn chay trường từ khi 12 tuổi, mỗi ngày trì chú tụng kinh, siêng lễ Phật, tự thệ không lấy chồng. Năm 28 tuổi xuất gia, tu tại am Hiếu Nghĩa ở Hàng Châu. Cô gìn giới hạnh rất tinh nghiêm, tinh tấn chuyên tu không quản khổ nhọc.

Về sau nhuốm bịnh, cô từ thuốc men, nhứt tâm chờ chết. Đương lúc nằm thở thoi thóp cô bỗng vụt trổi dậy ngồi kiết già, xây mặt về hướng Tây. Am chủ dọn bàn, thiết tượng A Di Đà Phật ở trước mặt cô. Cô mở mắt nhìn chăm chăm tượng Phật và chắp tay quì kính. Rồi cô rửa tay thay áo, cầm chuỗi đối tượng Phật mà ngồi ngay thẳng yên lặng như nhập định. Thị giả sợ cô nghiêng ngả mới lấy hai cái gối to kê đỡ, cô khoát tay bảo dừng. Chúng trong am đến chung quanh mà niệm Phật, cô nói: “Không dám phiền nhọc đại chúng, tự tôi có chủ trương”. Cô cứ ngồi kiết già ngay thẳng như thế mà niệm Phật nho nhỏ luôn cả hai ngày, hai đêm vẫn không cựa động, không dứt tiếng niệm. Mãi đến lúc hơi mòn tiếng bặt, mọi người lại gần xem thì cô đã tịch rồi. Nhằm ngày 7 tháng 2 năm Vạn Lịch thứ 39 triều Minh. Bấy giờ cô được 33 tuổi.

6. Ni Toại Khâm

Sư ni Toại Khâm người Vô Tích, xuất gia thủa mới lên chín. Khi tuổi trưởng thành, gặp một sư ni khuyến khích chuyên trì hồng danh của Phật, cô liền phát tâm tinh tấn niệm Phật. Ít lâu sau cô trụ trì am Bạch Y ở Tô Châu, công phu niệm Phật càng chí thiết. Đến 50 tuổi cô mới thọ cụ túc giới.

Tháng 3 cô được 55 tuổi, một đêm nọ gà vừa gáy canh đầu, cô kêu các đệ tử đến mà nói rằng: “Tôi sắp về Phật!”. Các đệ tử đều khóc thưa: “Thầy không bịnh hoạn chi sao lại nỡ nói thế?”. Cô bảo: “Sao ngu si thế, khóc lóc có ích lợi gì? Nên nhận chơn tinh tiến niệm Phật mà thôi”. Rồi cô ngồi kiết già, xây mặt về hướng Tây, cùng các đệ tử đồng thanh niệm Phật. Khi tàn một cây nhang thì cô tịch. Bấy giờ nhằm năm Càng Long thứ 53.

7. Vua Ô Trành

Ô Trành Quốc Vương rất mến Phật pháp. Một hôm vua bảo các quan rằng: “Trẫm ở ngôi vua hưởng phước, nhưng rồi chẳng trốn khỏi vô thường. Nghe kinh nói cõi Tây Phương Cực Lạc là nơi giải thoát, trẫm phải phát nguyện cầu sanh về cõi ấy”. Từ đó ngày đêm sáu thời nhà vua hành đạo niệm Phật. Thường khi trai tăng, nhà vua cùng hoàng hậu đích thân dâng cơm nước cúng dường. Nhà vua tinh tấn tu hành như vậy ngót 30 năm. Đến cuối đời, nhà vua an nhiên, tự tại mà vãng sanh, dung sắc nhà vua tươi vui và hiện rất nhiều điềm tốt.

8. Phùng Tập

Ông Phùng Tập tự Tế Xuyên người đất Thục, đỗ tiến sĩ triều Tống. Lúc đầu ông đến học đạo với Phật Nhãn thiền sư, sau lại đến học với Đại Huệ thiền sư rồi vào núi kết hạ tham thiền, rất được ngộ nhập. Sau khi ngộ đạo, ông tu Tịnh độ, soạn nghi thức “Di Đà Sám Pháp”. Năm Thiệu Hưng, lúc trấn nhậm Lô Nam ông cổ xướng tăng và tục lập hội niệm Phật, đồng phát nguyện vãng sanh. Thuở ấy tạng kinh của các tòng lâm phần nhiều bị hư, mất vì giặc giã. Ông xuất tiền lương của mình tạo 48 tạng kinh Đại thừa, 48 tạng kinh Tiểu Thừa, chia, dâng vào các tòng lâm đồng thời ông viết bài phát nguyện: Sự thí kinh của tôi, một việc mà đủ cả hai: dùng của tạo kinh gọi là tài thí, dùng kinh truyền Pháp gọi là Pháp thí. Tài thí sẽ được phước đức ở nhân gian và thiên thượng. Pháp thí sẽ được thông minh tài trí. Cả hai báo đó đều là nhơn của sanh tử, gốc của luân hồi. Nay tôi phát nguyện đem hai báo đó hồi hướng trang nghiêm Tịnh Độ, đến khi lâm chung vãng sanh Tây Phương Cực Lạc Thế Giới. Hoa nở thấy Phật, nghe Pháp nhiệm mầu, chứng Vô Sanh Nhẫn, trụ bực Bất Thối, nhập Bồ Tát vị. Rồi tôi sẽ trở lại cõi trược ở mười phương hiện Vô Biên Thân mà làm Phật Sự. Nguyện tôi sẽ như Quán Thế Âm Bồ Tát đủ Đại Từ Bi, đủ Đại Thần Lực phân thân khắp trong các loài chúng sanh, tùy loài hiện hình thuyết pháp, cho chúng sanh đều được trí tuệ dìu dắt tất cả đều thoát hẳn luân hồi, khắp cùng chúng sanh đều được thành Phật. Đó là chí nguyện thí kinh của tôi vậy”.

Về sau ông bổ nhiệm Mang Châu, mùa thu năm Thiệu Hưng thứ 23, ông dâng biểu xin nghỉ đồng thời tin cho các thân bằng Pháp hữu, và các quan liêu, hẹn đến ngày mùng 3 tháng 10 thời từ trần. Đến kỳ ông truyền thiết tòa cao ở hậu sảnh. Buổi sáng ấy, quan liêu, tân khách đến chật dinh. Ông vẫn vui vẻ tiếp khách như thường. Gần giờ ngọ, ông sửa mũ áo nghiêm chỉnh, vọng về phía hoàng cung mà bái từ. Ông thỉnh Tào sư tạm nhiếp các việc trong châu. Rồi ông thay y phục sư tăng, thăng tòa cao, dặn tất cả tăng và tục gắng tinh tiến tu trì, hoằng Pháp độ sanh. Dặn xong ông cầm tích trượng để ngang gối, ngồi yên mà thác.

Tào sứ nói: “Quan lớn đi, ở tự tại như vậy sao không để lại một bài kệ, hầu nêu gương cho đời”. Ông lại mở mắt ra bảo đem giấy mực lại ông tự tay cầm bút viết: “Đầu ba mươi mốt, giữa chín dưới bảy, già này nói hết, anh rùa đỏ mắt”. Ông ném bút mà tạ thế.

9. Phu nhân Việt Quốc

Việt Quốc phu nhân họ Vương, vợ của Kinh Vương, chú vua Triết Tông nhà Tống. Phu nhân chuyên tu Tịnh Độ ngày đêm tinh tấn, khuyến dẫn hàng tỳ thiếp đồng dốc chí vãng sanh. Trong hàng tỳ thiếp, có một người thiếp trễ lười. Phu nhân trách: “Chẳng có thể vì một mình nhà ngươi mà phá hoại trật tự của nhà ta”. Rồi phu nhân ra lịnh đuổi đi. Người thiếp ấy sợ lắm và rất ăn năn, cần cầu tạ lỗi. Từ đó trở đi người thiếp ấy hết sức tinh tấn tu trì không quản mệt nhọc. Ít lúc sau, một hôm người thiếp ấy bảo các bạn rằng: “Tôi sẽ đi nội ngày nay”. Tối hôm ấy mọi người đều ngửi thấy mùi thơm lạ khắp nhà, người thiếp ấy không chút ốm đau, an nhiên mà chết. Cách đêm sau một người thiếp khác thưa với phu nhân rằng: “Tôi mơ thấy cô ấy mách rằng nhờ phu nhân khuyên răn mới đặng vãng sanh Cực Lạc thế giới, đội ơn vô cùng. Cô ấy bảo tôi thay lời kính tạ phu nhân”. Phu nhơn nói: “Cô ấy ứng mộng cho ta thời ta mới tin”.

Tối đến phu nhơn mơ thấy người thiếp đã chết về tạ ơn. Phu nhơn hỏi: “Tôi có thể đến Tây Phương được không?” Người thiếp đáp: “Được”, rồi dắt phu nhơn đi. Thoạt thấy trước mặt một thế giới cực kỳ đẹp sáng, có một cái ao rộng lớn mênh mông. Trong ao đầy những hoa sen, hoặc to hoặc nhỏ, có cái lại héo. Phu nhơn hỏi duyên cớ, người thiếp phân giải: “Người đời tu Tịnh Độ vừa phát tâm thời trong ao báu này mọc lên một ngó sen, vì người siêng, kẻ trễ không đồng, nên mới có tươi, có héo khác nhau như vậy. Người nào tinh tấn thời bông sen của người ấy tươi tốt, to sáng, còn ai biếng lười, thối thất thời hoa của người ấy cũng héo lần. Nếu người một mực tu trì, lâu ngày chẳng nản, công phu niệm Phật thuần thục, đến khi thọ mạng đã mãn, quyết định thác sinh trong hoa sen này”. Trên một hoa sen lớn, phu nhơn thấy một người ngồi, mão vàng, chuỗi ngọc, ánh sáng rực rỡ, bèn hỏi. Người thiếp đáp: “Ông Dương Kiệt”. Phu nhơn lại thấy một người khác, nhưng hoa sen của ông ấy đang ngồi chưa nở xòe. Người thiếp bảo là ông Mã Vu. Phu nhơn hỏi: “Tôi sẽ sanh tại hoa sen nào?” Người thiếp bèn dắt phu nhơn đi chừng vài dặm, thấy một đài hoa vàng ngọc rực rỡ, chiếu sáng dị thường. Người thiếp vừa chỉ vừa nói: “Đó là chỗ phu nhơn sẽ thác sanh. Kim đài thượng phẩm, thượng sanh đấy”.

Sau khi tỉnh dậy, phu nhơn rất vui đẹp nơi lòng, công việc tự tu cùng khuyến hóa người càng chí thiết hơn. Năm ấy, đến ngày sanh nhật của phu nhơn, sáng sớm, phu nhơn tay cầm lư hương hướng về phía lầu thờ Đức Quán Thế Âm mà đứng ngay thẳng. Quyến thuộc trong dinh hội lại rồi đồng đến trước mặt phu nhơn để định chúc thọ. Chúng xem kỹ thời phu nhơn đã vãng sanh rồi.

10. Hai thợ rèn triều Tống

Ông Lý ngạn Thông người Cối Kê làm thợ rèn, tình cờ đến chơi nơi hội quán hội Niệm Phật tại làng. Ông nghĩ đến thân mạng vô thường bèn phát tâm niệm Phật cầu sanh Cực Lạc. Một hôm phải bịnh ông bảo người nhà: “Tôi mơ đến Cực Lạc thấy hai cửa ngõ bằng vàng ngọc đóng kỹ. Sư tăng tự xưng hiệu Tông Lợi mở cửa dắt tôi vào. Thấy đền đài cao lớn sáng đẹp, Phật và Bồ Tát ngự trong ấy. Tôi sắp sẽ được về Tịnh Độ”. Ông cho người thỉnh tăng Hy Kinh và Đạo Quả đến bên giường để sách tấn ông. Ông bảo gia quyến đồng thanh niệm Phật, giây lát ông tự chổi dậy ngồi ngay thẳng, xây mặt về hướng Tây mà mất.

Ông Huỳnh Sanh người Đàm Châu, sống bằng nghề thợ rèn. Tay đập sắt, miệng niệm Phật. Một ngày nọ ông nhờ người láng giềng chép dùm bài kệ từ trần, rồi ông đọc rằng:

Đang, đang, đang, đang

Cửu luyện thành cang.

Thái bình tương cận

Ngã vãng Tây Phương.

Ông lại dặn: “Sau khi tôi vãng sanh nên đem bài kệ này truyền bá khắp nơi để khuyên người niệm Phật”. Dứt lời ông đoan tọa mà qua đời.

11. Ba Nhà Nông

Triều Tống, ông Từ Lục, một nhà nông ở Ngô Hưng, ăn chay trường niệm Phật. Tại nhà thờ tượng A Di Đà sớm tối kính lễ, luôn 40 năm tu hành. Ông thường mơ thấy đến Cực Lạc thế giới. Ông có sắm một cái khánh (cái hòm).

Một hôm ông tắm rửa sạch sẽ, thay y phục, mang dép rơm vào ngồi ngay thẳng trong khánh niệm Phật. Một lát sau ông nói to: “Đức Phật đã đến rước tôi!”. Rồi yên lặng mà mất.

Ông Trần Đức Tâm một nhà nông ở Tô Châu. Ngày nóng bức, ông đi hóng mát, tình cờ thấy bản “Kính Tín Lục” nơi trường làng. Ông nhờ thầy học giảng nghĩa cho. Ông tỏ ngộ lý nhân quả, gắng làm việc phước thiện và thường đi theo đường lượm giấy chữ. Cư sĩ Bành Nhị Lâm thấy thế biết là người có thiện căn, bèn mời vào Văn Tinh Các, khuyên ông niệm Phật. Ông vốn không biết chữ, nhưng tu trì rất chuyên cần, rồi tự nhiên lần lần biết đọc, biết viết.

Ít lúc sau ông lãnh việc quản đốc các việc phóng sanh, an táng nơi hội Diệu Tế tại Tô Quận. Mỗi khi thấy thây chết, xương người, ông luôn than thở nhân mạng vô thường, nên công phu niệm Phật của ông càng thêm tinh tiến. Năm ông 69 tuổi, đương khỏe mạnh như thường, ông bỗng đi từ biệt thân thuộc cùng các bằng hữu mà hẹn ngày từ giã cõi đời. Đến kỳ ông đóng cửa yên lặng ở trong phòng. Các bạn đồng sự xô cửa vào xem, thời thấy trên bàn cúng một tượng Phật, đôi nến đương cháy sáng, hương lạ thơm ngát. Còn ông Đức Tâm đã chết ngồi, mặt day về hướng Tây. Bấy giờ là ngày rằm tháng tám năm Gia Khánh thứ 18 triều Thanh.

Ông Lại Tường Lân người Giang Tây, tánh chơn chất trọn đời làm ruộng. Năm sáu mươi ngoài tuổi. Con trai chết, ông phải làm nuôi dâu góa con côi nhơn đó ông rất nhàm chán đời người nhiều phiền khổ muốn tìm phương thoát ly.

Một hôm được nghe cư sĩ Lại Thiền Dung, cháu họ của ông giảng giải Pháp Môn Tịnh Độ, ông liền ăn chay trường, quyết chí vãng sinh. Chỉ có tật uống rượu vì ghiền đã lâu nên chưa bỏ được. Cư sĩ Lại Thiền Dung cắt nghĩa những sự tội lỗi của người uống rượu. Ông cố gắng chừa. Lúc đầu nghe trong khắp cơ thể mỏi mê, mệt nhọc, nhưng rồi lần lần thân thể càng khỏe, tâm trí lại càng minh mẫn hơn, và với sự niệm Phật lại sanh quan niệm ưa thích. Được ít lâu sau niệm lực thuần thục dầu cày cuốc suốt ngày nhưng câu niệm Phật vẫn không rời tâm. Người lân cận gặp ông đều chào rằng: “A Di Đà Phật”. Ông cũng đáp lại: “A Di Đà Phật”.

Năm Dân Quốc thứ 8 chân ông sưng, đi đứng không tiện. Một hôm ông bảo người cháu đặt bàn hương án vọng về Phương Tây và nói: “Cảnh giới Tây Phương Cực Lạc rất đẹp! cháu xem biết bao nhiêu là hoa sen báu sáng chói. Ông sẽ về Tịnh Độ trong ngày nay”. Người cháu nói: “Chân ông yếu làm sao đi được?” Ông bảo: “Tâm đi chớ không phải thân máu thịt này đi”. Người cháu vâng lời trần thiết hương án. Và giữa lúc người cháu thắp hương, ông ngồi kiết già, day mặt về hướng Tây chấp tay niệm Phật vài câu mà từ trần, thọ 75 tuổi.

12. Mụ Trần

Người ở Thường Thục, làm nghề kéo chỉ vải. Mụ qui tín Phật pháp, niệm Phật theo tiếng kéo chỉ luôn cả ngày không ngớt tiếng. Ba mươi năm như vậy. Một ngày nọ mụ kêu con trai lại nói rằng: “Con không thấy bảo cái tràng phan đó ư? Mẹ vãng sanh đây”. Dứt lời mụ vỗ tay cười lớn. Sau khi đi pha nước tắm gội xong, mụ liền chắp tay mà mất. Bấy giờ nhằm năm Thuận Trị thứ 10.

Thượng Thơ Ông Thúc Ngươn lúc đó còn hàn vi, được tin đích thân đến xem, vẫn thấy mụ còn ngồi ngay thẳng vững vàng, khắp nhà mùi hương lạ bay ngào ngạt. Về sau khi trứ tác bộ “Tịnh Độ Ước Thuyết” Thượng Thơ ghi việc ấy vào để làm bằng chứng.

13. Mụ Vu

Mụ Vu họ Tần, người Tiền Đường, chồng làm nghề bán cá. Con trai phạm luật nước, gia sản bị khánh tận. Mụ Vu sầu khổ đến bờ sông định tự tử. May gặp Tư Chiếu pháp sư can ngăn khuyên rằng: “Đó là nghiệp duyên đã gây từ đời trước. Nay mụ nên cam tâm mà trả. Bắt đầu từ nay mụ nên vun trồng nghiệp nhơn thanh tịnh sau này sẽ hái lấy quả giải thoát an vui. Nhảy xuống sông để trốn nợ để rồi đời sau lại phải trả nặng hơn. Đâu bằng cứ sống mà chuyên tu niệm Phật”.

Nghe pháp sư giảng giải mụ Vu tỉnh ngộ. Bèn đối trước tượng Phật đốt ngón tay, thệ trường trai niệm Phật. Từ đó trở đi mụ Vu tinh tấn tu niệm trọn mười năm không bê trễ. Phàm gặp bất luận ai, mụ đều gọi là Phật tử cả.

Một ngày nọ mụ Vu thỉnh chư Tăng đến nhà tụng Quán Vô Lượng Thọ Kinh, còn mụ thì lần chuỗi niệm Phật. Chư sư tụng đến đoạn quán tượng thời mụ Vu yên lặng mà thác hóa.

14. Trương Thiện Hòa

Trương Thiện Hòa người nhà Đường, làm nghề giết bò. Lúc bịnh ngặt, thấy vài mươi con bò đến đòi mạng nói tiếng người rằng: “Mầy giết chúng tao phải đền mạng”.

Ông Hòa hối vợ thỉnh Sư Tăng. Sư Tăng bảo: “Trong Quán Kinh nói: “Nếu chúng sanh nào gây tạo ác nghiệp, đang đọa vào ác đạo mà chí tâm xưng niệm A Di Đà Phật đủ mười niệm thời tiêu tội, được vãng sanh Cực Lạc thế giới”.

Ông Hòa nói: “Lửa địa ngục đến rồi, không thể chờ lư hương được”. Ông liền tay tả cầm lửa, tay hữu cầm hương, hướng về Tây Phương to tiếng niệm Phật. Chưa đầy mười hơi, ông bỗng nói: “Phật đã đến trao tôi tòa sen báu”. Dứt lời liền tắt hơi.

15. Chim két niệm Phật vãng sanh

Xưa có vị Tăng nuôi một con chim két. Hàng ngày, vị Tăng dạy nó niệm Phật, nó  niệm theo.

Lúc đầu, vị Tăng dạy nó mới niệm. Sau một thời gian, nó quen câu niệm Phật, lúc này không dạy mà mỗi khi thấy vị Tăng hay khách chim liền cất tiếng niệm Phật. Lại một thời gian sau, không đợi thấy vị Tăng hay khách mà sáng, trưa, chiều, tối, chim đều cất niệm Phật, tiếng nghe rất thanh, rất tha thiết.

Một hôm, chim đứng trong lồng cất tiếng niệm Phật mà thoát hóa. Vị Tăng đem chim chôn sau vườn chùa, cách ba ngày sau, ở nơi ấy mọc lên một hoa sen rất đẹp, vị Tăng thấy lạ bèn đào lên xem thử, lạ lùng thay, hoa sen mọc lên từ miệng của chim. Đây là một sự việc hi hữu từ xưa đến nay hiếm có.

 

NHỮNG CHUYỆN NIỆM PHẬT VÃNG SANH THỜI NAY

Ngày nay, người niệm Phật được vãng sanh rất nhiều, dưới đây là một số mẩu chuyện niệm Phật vãng sanh thời nay. Những mẩu chuyện này, do thân nhân của người vãng sanh ghi lại, hoặc do những tác giả chuyên sưu tập những mẩu chuyện vãng sanh ghi. Đặc biệt, những mẩu chuyện này, có nhiều chuyện linh ứng mầu nhiệm như: biết trước ngày giờ vãng sanh, có mùi thơm, thấy hoa sen, hào quang, thấy Phật và Thánh Chúng đến tiếp dẫn, có người còn lưu lại rất nhiều xá lợi.

1. Hòa Thượng Thích Đức Niệm

Hòa Thượng Thích Đức Niệm sanh tại làng Thanh Lương, tỉnh Bình Thuận. Xuất gia từ thưở 13 tuổi tại chùa Long Quang Phan Rí. Sau đó, Ngài tha phương cầu học với các Hòa Thượng: Hòa Thượng Trùng Khánh và Hòa Thượng Thiên Hưng ở Phan Rang, tỉnh Ninh Thuận.

Trên con đường tầm sư học đạo, Hòa Thượng đã từng là Tăng sinh của Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang. Và năm 1962, tốt nghiệp Đại Học Phật Giáo tại Phật Học Đường Nam Việt chùa Ấn Quang Sài Gòn.

Vốn là sinh viên Đại Học Văn Khoa Sài Gòn, tốt nghiệp cử nhân Văn Khoa Đại Học Vạn Hạnh năm 1966 và làm Hiệu Trưởng Trường Trung Học Bồ Đề quận Chợ Mới tỉnh Long Xuyên.

Những năm kế tiếp, đảm nhiệm các chức vụ như Chánh Đại Học Giáo Hội Phật Giáo tỉnh Gia Định, Chánh Thư Ký Phật Học Vụ toàn quốc, Giám Đốc Trường Trung Học Bồ Đề Tỉnh Bình Dương.

Những ngày cuối cùng trước khi vãng sanh

Vào ngày rằm Tháng Giêng năm Quý Mùi, tức ngày 15/2/2003, Hòa Thượng thấy Phật A Di Đà đến viếng. Sau đó, Hòa Thượng kể cho Thầy Minh Chí nghe.

Được tin này, chúng tôi nghĩ Hòa Thượng sắp sửa vãng sanh Cực Lạc. Mọi người tiên đoán, Hòa Thượng sẽ vãng sanh vào ngày Đức Bổn Sư Thích Ca nhập Niết Bàn. Nhưng ngày đó chẳng có gì xảy ra.

Vào ngày Chủ Nhựt 16/3/2003, vào 6 giờ chiều lúc chư Phật tử đang trợ niệm, Phật tử Phước Lạc bỗng ngửi thấy mùi hương trầm, cô tự hỏi: “Lạ quá! Thầy đang không được khỏe, vậy ai lại đốt nhang?”. Phước Lạc lặng lẽ lui ra ngoài, tìm xem nhang đốt ở chỗ nào để tắt. Nhưng tìm khắp nơi không thấy! Có người khác và Sư cô Diệu Tánh cũng ngửi được mùi thơm.

Ngày 17/3, chúng tôi được tin Hòa Thượng Thích Tín Nghĩa (lúc ấy còn là Thượng Tọa) từ Texas về thăm. Thầy Tín Nghĩa kể lại, Hòa Thượng Đức Niệm nói rất lâu và Hòa Thượng tỏ vẻ rất quan tâm.

Sau đó, chúng tôi có hỏi Thầy Tín Nghĩa nói gì với Hòa Thượng Đức Niệm. Thầy Tín Nghĩa nói: “Thầy nói với Hòa Thượng còn mấy ngày nữa là vía Quán Thế Âm Bồ Tát. Xin ráng chờ ngày đó”.

Ngày 18/3/2003, chúng tôi đến thăm Hòa Thượng. Hòa Thượng Thích Trí Chơn hướng dẫn chúng tôi vào thăm. Nghe có chúng tôi, Hòa Thượng Đức Niệm mở mắt nhìn. Hòa Thượng bị ung thư gan. Các bác sĩ nói, bịnh này làm Hòa Thượng đau đớn vô cùng, chúng tôi nhìn thấy Hòa Thượng ốm nhiều, nhưng không có triệu chứng đau đớn như các bác sĩ nói. Thấy chúng tôi vào, mọi người tản bớt ra ngoài, chỉ còn ở lại 3 người. Chúng tôi chẳng dám hỏi han, cần để Hòa Thượng tịnh dưỡng và niệm Phật.

Chúng tôi chỉ hỏi vắn tắt:

- Thưa Hòa Thượng, Ngài thấy Phật A Di Đà mấy lần?

Hòa Thượng mở mắt nhìn và đáp ra tiếng rõ ràng:

- Hai lần.

Đại Đức Quảng Đạo đang ở dưới chân Hòa Thượng Đức Niệm, vui mừng lặp lại:

- Hai lần!

Sáng ngày 19/3/2003, Phật tử đang trợ niệm bỗng nhìn thấy sắc diện trên gương mặt Hòa Thượng biến đổi từ xám xanh thành ửng hồng và lỗ tai của Hòa Thượng từ từ dài ra. Đây là hiện tượng của người sắp vãng sanh. Thường thì, ngay khi vãng sanh mới có hiện tượng. Nhưng Hòa Thượng Đức Niệm hiện tướng lành trước. Theo chúng tôi có lẽ vào ngày này, có thể Phật A Di Đà đã đến lần thứ 3 nên Hòa Thượng Đức Niệm mới có tướng lành ấy.

Chiều ngày 20/3/2003, Phật tử tựu về đông đủ hơn, bỗng một cháu nghe được tiếng nhạc thật êm dịu, thảnh thoát. Dường như đây là tiếng nhạc trời.

Đúng 12 giờ khuya, tức là bước vào sáng ngày 21/3/2003, ngày Vía Quán Thế Âm Bồ Tát. Bỗng nhiên trống Bát Nhã đánh lên liên hồi. Tâm mọi Phật tử cảm thấy một niềm rộn ràng kỳ diệu. Hòa Thượng Thích Đức Niệm đang nằm im. Thầy Thích Minh Chí tân trụ trì kiêm Giám đốc Phật Học Viện Quốc tế bước tới trang trọng thưa:

Đã đến giờ, xin thỉnh Hòa Thượng lên đường!

Hòa Thượng Thích Đức Niệm đang nằm bất động bỗng mở miệng chép môi. Mọi người đều trố mắt nhìn. “Thì ra Hòa Thượng đang niệm Phật”. Đây là ý của một người trông thấy kể lại cho chúng tôi nghe.

Nhưng theo các băng giảng của Hòa Thượng Tịnh Không: “Vào giờ phút cuối cùng của người niệm Phật được vãng sanh. Người ấy mở miệng là để nói lời từ biệt: “Phật và Thánh chúng đến tiếp dẫn, ta đi đây!”.

Chúng tôi nghĩ, chính Hòa Thượng Thích Đức Niệm đang nói lời từ giã mọi người. Thế là, liền sau đó, Hòa Thượng Thích Đức Niệm ra đi. Ngài viên tịch đúng 1 giờ 45 phút rạng ngày 21/3/2003 tức ngày Vía Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

Trích bài viết của Cư Sĩ Tịnh Hải

2. Thượng Tọa Phước Minh thường nhập Phật thất, vãng sanh lưu trọn hộp sọ đầu và trên 200 viên Xá Lợi, được môn đồ chia nhau phụng thờ

Thượng Tọa Thích Phước Minh, thế danh là Trần Ngọc Tỷ, sinh năm 1915 tại Làng Mỹ Thạnh Trung, quận Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

Năm 17 tuổi, Thượng Tọa đến chùa Rạch Rừng thuộc xã Hòa Bình, quận Tam Bình xin quy y Tam Bảo với Hòa Thượng Thích An Sơn (thường gọi là Sư ông núi Tượng).

Cũng trong năm này, Thượng Tọa phát tâm xuất gia nhưng cha mẹ không cho đi, vì trong gia đình chỉ duy nhất Thượng Tọa là con trai nên ông bà cụ muốn Thầy lập gia đình để nối dõi Tông đường và tiếp nối giữ gìn gia nghiệp của cha mẹ để lại, phụng thờ tổ tiên. Vì thế Thầy phải vâng lời, không dám cãi lại cha mẹ. Hơn 10 năm sau, Thượng Tọa và gia đình dời về Cần Thơ.

Ý chí xuất gia cầu đạo giải thoát vẫn không quên, nên vào năm 59 tuổi (1973), Thượng Tọa đến chùa Phước Châu (thị xã Vĩnh Long) cầu Hòa Thượng Hoàn Phú thế phát xuất gia được Bổn Sư cho pháp danh Phước Minh và thọ giới Sa Di trong năm này. Năm sau (1974) trở về chùa Phước Hậu (Trà Ôn) tu học với Thầy Bổn Sư và giữ chức vụ Thư ký chùa.

Đến năm 1975, được Hòa Thượng Bổn sư cho đăng đàn thọ Tỳ Kheo Bồ Tát giới tại Tổ Đình Ấn Quang (Sàigòn). Năm 1976, Thượng Tọa lên chùa Huệ Nghiêm (An Dưỡng Địa) tại Sài Gòn đảnh lễ cầu pháp với Hòa Thượng Thích Bửu Huệ tu tập theo Pháp Môn Tịnh Độ, chuyên tâm niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương.

Thầy rất siêng năng công quả và tinh tấn tu hành, chân thật cầu giải thoát nên Hòa Thượng Bổn Sư cử làm Phó Trụ trì Tổ đình Phước Hậu và cho Pháp hiệu là Hoàn Tịnh. Phía ngoài vườn chùa có lập một ngôi tịnh thất, Thượng Tọa thường nhập thất niệm Phật, khi thì 7 ngày, 21 ngày, lúc thì 49 ngày hoặc 3 tháng.

Đầu năm 2003 (Quý Mùi) Thượng Tọa thường hay đau yếu, đệ tử là Sư cô Trí Thanh (trụ trì chùa Phước Hưng) thường đưa Thượng Tọa qua Cần Thơ để khám bệnh điều trị. Khoảng tháng 08 Â.L, Thượng Tọa bệnh và nói với Sư cô Trí Thiện: “May đồ cho Thầy kỳ này thôi. Sau khỏi may nữa!”.

Đến khuya ngày 20 tháng 10 Â.L trở bệnh. Sáng 21/10 chuyển lên bệnh viện Đa Khoa Cần Thơ cấp cứu vì Thầy bị hôn mê. Đến trưa ngày 22/10, xin xuất viện đưa về Tổ đình Phước Hậu.

Ở trên xe chư Tăng Ni và Phật tử niệm Phật trợ niệm cho Thượng Tọa và đôi lúc thấy Thượng Tọa khẽ mỉm cười. Khi về đến chùa Phước Hậu vẫn tiếp tục trợ niệm cầu nguyện, lúc ấy Thượng Tọa bỗng nhiên niệm ra tiếng “Nam Mô A Di Đà Phật”. Chỉ một câu rồi im lặng niệm thầm. Lúc còn khỏe, Thượng Tọa thường dạy: “Phải niệm cho thật rành rẽ, rõ ràng từng chữ từng câu”.

Đại chúng vẫn trợ niệm cho đến trưa ngày 24 tháng 10 âm lịch năm Quý Mùi, vào 11 giờ 5 phút (tức đầu giờ ngọ) nhằm ngày 17/11/2003, Thượng Tọa an tường vãng sanh trong tiếng niệm hồng danh Phật A Di Đà của đại chúng. Hưởng thọ 89 tuổi đời, hạ lạp 28 tuổi đạo.

Tang lễ của Thượng Tọa được cử hành trong 2 ngày 24 và 25 tháng 10 Â.L, đến 7 giờ sáng ngày 26 là lễ di quan đưa kim quan của cố Thượng Tọa đến Lò hỏa táng chùa Phật Học, Cái Răng, thành phố Cần Thơ để hỏa thiêu.

7 giờ sáng ngày 27/10 Â.L, môn đồ pháp quyến thu nhặt linh cốt, tro xương để phụng thờ. Thượng Tọa đã lưu lại một hộp xương sọ đầu và trên 200 viên xá lợi.

Đến tuần 49 ngày, toàn bộ linh cốt và hộp sọ đầu được an vị nhập vào bảo tháp tại chùa Phước Hậu vào ngày 13 tháng Chạp âm lịch, Quý Mùi. Riêng phần Xá lợi, môn đồ pháp quyến gìn giữ phụng thờ.

Người Bạn Sen Thích Đức An kính thuật

3. Sư Bà Giác Nhẫn biết trước ngày vãng sanh,  lưu lại trái tim và vô số xá lợi

Sư Bà Thích nữ Giác Nhẫn sinh năm 1919 (Kỷ Mùi), thế danh Lê Thị Kiểu. Sư Bà xuất thế trong một gia đình danh gia vọng tộc. Đời ông cho đến cha đều làm quan lại ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Ông cố nội của Sư Bà là cụ ông Lê Đình Đức làm Quan Lại Bộ Thượng Thư dưới triều vua Khải Định ở Huế. Thân phụ là ông Lê Đình Hiểu làm Hội Đồng Tỉnh Vĩnh Long. Thân mẫu là bà Bùi Thị Trĩ, thọ Ưu Bà Di Bồ Tát giới với pháp danh Diệu Đạt.

Tuy  giàu có, của ăn của để dư giả nhưng ông cụ thân sinh của Sư Bà là ông Hội Đồng Tỉnh Vĩnh Long, từ trẻ đã đam mê học hỏi giáo lý đạo Phật, sống cuộc đời giản dị. Ông cất ngôi Già lam trong khuôn viên đất của mình để làm nơi hành trì tu tập.

Ông cụ ăn chay và niệm Phật, thường bố thí và cúng dường. Ông bà cụ thân sinh của Sư Bà có 7 người con nhưng do bệnh từ nhỏ nên chỉ còn người thứ 2,5,6,7 và 8; tất cả đều là con gái, không có con trai. Người chị thứ hai là mẹ của Phật tử Diệu Liên, cô Diệu Liên là người thân cận gần gũi nhất với Sư Bà  từ nhỏ vì mẹ của cô mất sớm.Vì vậy, Sư Bà Giác Nhẫn thứ 7, còn người chị thứ 5,6 và người em song sinh thứ 8. Tất cả tài liệu của bài này do cô Diệu Liên cung cấp.

Sau khi sanh người con thứ 5 là Sư Bà Thích nữ Tâm Nhàn, ông cụ thân sinh liền xây một cái cốc cách xa nhà để nhập thất niệm Phật ngày đêm trong đó mà buông bỏ chức tước danh vọng. Ông nhập thất niệm Phật trong cốc được vài năm thì bị bà con trong gia đình rầy la. Vì tài sản của cải quá nhiều, người vợ không thể lo xuể nên ông đành ra thất phụ giúp vợ. Rồi sau đó tiếp tục nhập thất cho đến ngày vãng sanh.

Trong thời gian ông cụ ra thất, bà cụ hạ sanh người con thứ 6 là Sư Bà Thích nữ Như Thái. Và 3 năm sau, song sanh hai người con gái thứ 7 và 8. Đó là Sư Bà Giác Nhẫn và Sư Bà Giác Bổn.

Trong gia đình của Sư Bà, có 5 chị em gái,  người chị cả mất sớm nên còn 4 người. Nhưng do ảnh hưởng của thân phụ và do giác ngộ được chân lý giải thoát nên 4 chị em trước sau lần lượt xuất gia.

Sư Bà Thích nữ Tâm Nhàn là chị thứ 5 đã bỏ tất cả, trốn ra tận Huế để xuất gia cầu đạo. Sau nhiều năm, bà mẫu của các Sư Bà mới biết con mình đã là người tu sĩ. Sư Bà Tâm Nhàn vãng sanh năm Canh Ngọ (1990) trụ thế 82 năm.

Tiếp theo là Sư Bà Thích nữ Giác Nhẫn. Sư Bà xuất gia lúc 18 tuổi nhưng lúc nhỏ khi mới học nói học viết là đã biết niệm Phật và ăn chay kỳ. Năm 10 tuổi, Ni trưởng tụng thuộc lòng chú Đại Bi và năm 12 tuổi trì chú Chuẩn Đề. Đến năm 15,16 tuổi thì hai cô song sanh đi tham gia Gia đình Phật tử chùa Giác Thiên Vĩnh Long. Năm 18 tuổi, độ tuổi thuần khiết tươi đẹp của đời người, bà nhận thấy rõ cuộc sống trần thế huyễn hóa, ảo mộng nên đã xin cha mẹ xuất gia tu học cùng chị mình là Sư Bà Tâm Nhàn.

Người chị thứ 6 của Sư Bà Giác Nhẫn là Sư Bà Thích nữ Như Thái, sau khi lập gia thất, về làm dâu trong một gia đình thuộc hàng thượng lưu tại đất Gia Định xưa. Sau khi sanh được một người con gái thì cũng xuống tóc xuất gia theo chị và em mình tìm đường giải thoát. Sư Bà nhờ thân mẫu nuôi dưỡng đứa con của mình sau khi sanh chỉ có vài tháng tuổi. Sư Bà đã đi tầm sư học đạo khắp miền Tây Việt Nam. Và Sư Bà đã về chùa Giác Thiên cùng em mình là Sư Bà Giác Nhẫn mở lớp Phật học đầu tiên của Tỉnh Vĩnh Long lúc bấy giờ. Đến năm 1986, Sư Bà Như Thái vãng sanh sau một cơn bệnh nhẹ, trụ thế 71 năm, hạ lạp 40 hạ. Sau khi trà tỳ  lưu lại nhiều xá lợi.

Và sau cùng là Sư Bà Thích nữ Giác Bổn, là em song sanh với Sư Bà Giác Nhẫn. Do các chị của bà đều xuất gia nên không ai quản lý gia sản của cha mẹ để lại nên sau khi sắp xếp xong mọi công việc thì Sư Bà cũng nối gót xuất gia theo các chị của mình.

Tuy rằng các Sư Bà đều có trình độ Phật học, có cả kiến thức về Thiền nhưng vẫn y giáo phụng hành theo lời dạy của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, chính bản thân Sư Bà niệm Phật và dạy cho hàng đệ tử xuất gia cũng như tại gia thực hành Pháp Môn Niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương.

Những chuyện mới nhất của sư bà Giác Nhẫn vào năm 2003

Vào ngày 24/1/2003, sau khi xuất viện, tuy tuổi già sức yếu nhưng Sư Bà rất hoan hỷ cung thỉnh Thượng Tọa Thích Tôn Thật, Trưởng Ban Từ Thiện trao một số tịnh tài để ủng hộ chương trình mổ mắt cho người nghèo khó khăn.

Ngày hôm đó, Sư Bà rất vui vẻ không nghỉ trưa, vì thế cô Diệu Liên lo sức khỏe, thưa rằng: “Sao Thầy không nghỉ trưa”, Sư Bà vui vẻ trả lời: “Thầy làm được việc từ thiện cuối cùng nên vui quá không ngủ được”.

Dù vậy, nhưng khi nghe tiếng đại hồng chung thì Sư Bà liền gọi thị giả đỡ ngồi dậy lần chuỗi niệm Phật. Tinh thần của Sư Bà rất tỉnh táo, nói chuyện vui vẻ và thường cười, có khi cười ra tiếng. Và dường như Sư Bà biết trước mình sẽ được Phật và Thánh Chúng tiếp dẫn nên không lo cho thân tứ đại chỉ lo nhất tâm niệm Phật.

Trong di chúc được viết ngày 05/4/2000, Sư Bà có viết rằng: “Sau khi Thầy viên tịch, hậu sự các phải đúng với đạo pháp, thể hiện tinh thần giải thoát, tùy nghi cử hành tang lễ trong ba hay bốn ngày thôi. Không nên để lâu làm mệt nhọc mọi người! Thầy sợ tổn đức! Sau khi thiêu, thâu Xá Lợi đặt trên bàn thờ, ngồi chung với hai Sư Tỷ”. Và ở cuối di chúc, Sư Bà có nói rõ rằng mình đã yên tâm trong lúc tuổi già cầu Vãng sanh Phật quốc.

Phải chăng đây là lời tiên triệu của Sư Bà biết trước mình sẽ về Cực Lạc mà với đức tính khiêm tốn của một vị xuất gia nên Sư Bà không muốn nói ra.

Sau Tháng Giêng năm Quý Mùi (2003), sức khỏe của Sư Bà  giảm sút thêm. Đến 1 giờ khuya ngày mùng 6 tháng 2 (8/3/2003), sau khi uống sữa xong, Sư Bà  nôn ra nước màu hồng dợt. Lúc đó, Sư Bà gọi bào muội Giác Bổn hộ niệm và gọi Ni chúng xúm quanh giường niệm Phật tiếp dẫn. Sư Bà Giác Bổn hỏi Sư Bà Giác Nhẫn rằng: “Chị có nghe niệm Phật không”.

Lúc đó, Sư Bà gật đầu ra dấu là có nghe niệm và miệng cũng niệm nhép nhép theo. Ni chúng chùa Huệ Lâm và các chùa khác cùng chư Phật tử luân phiên thay nhau trợ niệm. “Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật” đã vang rền trong suốt 2 ngày đêm.

Sáng ngày 9/3/2003 (mùng 7/2/Quý Mùi), Sư Bà nhiều lần giơ tay lên dường như muốn chỉ cái gì đó và cũng có nhiều lúc Sư Bà mở mắt nhìn về một chỗ với nét mặt vui vẻ. Đến 11 giờ, Sư Bà mở mắt thật to, thật sáng và ngước nhìn lên trên dường như thấy cái gì đó đẹp đẽ phi thường như thấy Phật tiếp dẫn. Sau đó từ từ nhắm mắt khít lại, miệng cũng khép rất kín.

Sau khi tịch, khuôn mặt hồng hào sáng lạ thường và thân thể rất mềm. Trước khi làm lễ nhập kim quan, có một vị cư sĩ rất sợ đứng gần xác của người chết nhưng khi lại thăm Sư bà lần cuối cứ ngồi cạnh Sư Bà và nói rằng thấy Sư bà đang cười với mình.

Sau lễ trà tỳ còn lưu lại hàng ngàn viên Xá lợi. Xá lợi của Sư Bà có viên to bằng đầu ngón tay cái, có viên bằng đầu ngón tay út, rất nhiều viên màu đen huyền, trắng, óng ánh pha đỏ rất đẹp. Có khoảng hơn một ngàn viên. Đặc biệt nhất là hơn 10 viên xá lợi pha lê, long lanh và chiếu sáng như viên pha lê. Và có 1 viên như nắm tay của em bé sơ sinh, có hình quả tim, ở phía trên còn có sợi dây màu đỏ có lẽ đây là gân máu đã hóa xá lợi. Xá lợi của Sư Bà Giác Nhẫn đã được nhiều quý Hòa Thượng, Sư Bà tán thán vì đây là kết quả tu trì suốt cuộc đời của một người xuất gia.

Hải Trí

4. Sư Bà Như Phụng vãng sanh lưu xá lợi

Được Phật A Di Đà gia hạn sống thêm 5 năm. Sư Bà Thích Như Phụng thấy Phật, thấy cả cảnh giới Tây Phương Cực Lạc và được chết trong mùi thơm đúng như ước nguyện.

NHƯ Lai trưởng tử trụ Ta Bà,

PHỤNG sự nhân quần dĩ lợi tha,

TÂY xứ phu tòa quy bỉ ngạn,

HƯNG Thiền châu kết độ hà sa,

NI đồ phổ nhuận Tôn Sư đức,

TRƯỞNG ấu đồng triêm pháp lục hòa,

MINH hiển từ tâm hành Lục Độ,

CẢNH huyền cao chiếu nhứt thiền gia.

Sư Bà Thích nữ Như Phụng tự Diệu Thành, pháp hiệu Giác Mỹ, sinh năm 1911 tại làng Tân Vĩnh Hòa, Quận Châu Thành, tỉnh Sa Đéc. Là đệ tử xuất gia của Hòa Thượng Thích Vạn Ân thuộc dòng Lâm Tế đời thứ 41. Thân phụ là cụ Phạm Văn Lắm, người rất hiền hòa phúc hậu, thân mẫu là bà cụ Huỳnh Thị Trúc, một người mẹ đảm đang đức hạnh. Sư Bà là con thứ sáu trong gia đình có tám anh chị em và là chị của cố Ni Trưởng Thích nữ Như Lan, trụ trì chùa Thanh Thiền ở Sa Đéc và Ni Trưởng Thích nữ Như Hiếu, đương kiêm trụ trì chùa Tây Hưng.

Thuở thiếu thời, Sư Bà thường xuyên lui tới chùa Tây Hưng, tụng kinh niệm Phật, công quả sớm hôm và quy y Tam Bảo. Càng ngày Sư Bà nhận thức sâu sắc về cuộc đời giả tạm, khổ nhiều hơn vui, từ đây chí xuất trần tu thiện pháp càng mãnh liệt. Khi duyên lành đã sẵn đủ, lại được sự chấp thuận của song thân, Sư Bà lên đường tầm sư học đạo. Năm 1929, lúc vừa tròn 19 tuổi, Sư Bà đến chùa Tây Hưng cầu Hòa Thượng Thích Vạn Ân xin được thế phát xuất gia tu học. Tháng 11 năm 1945, Hòa Thượng Bổn sư viên tịch, Sư Bà được giao phó trọng trách.

Sư Bà chuyên tu theo Pháp Môn Niệm Phật A Di Đà. Thuở ban đầu, ngay sau khi xuất gia, Sư Bà niệm Tam Thiên Phật, rồi Vạn Phật, Ngũ Bách, tụng Sám Hối Hồng Danh, nhưng về sau Sư Bà chỉ niệm thánh hiệu “A Di Đà Phật”. Ngay cả khi Sư Bà kết hạt chuỗi bo bo, mỗi hạt bo bo là một biến “A Di Đà Phật”.

Công phu niệm Phật của Sư Bà không bao giờ dãi đãi, thời khóa niệm Phật hàng ngày bắt đầu từ 2 đến 4 giờ khuy; 7 đến 9:30 sáng; 2 đến 4 giờ chiều; 5:30 đến 7 giờ tối. Sư Bà ngọ trai lúc 12 giờ trưa và sau đó tụng Kinh A Di Đà, việc này Sư Bà đã thực hành nghiêm chỉnh ngay từ lúc mới xuất gia.

Ngoài công phu niệm Phật, Sư Bà đã thực hành hạnh của Bồ Tát mà ít có người làm được. Như trên đã nói, Sư Bà kết chuỗi bo bo, mỗi hạt là một biến “A Di Đà Phật”, mỗi ngày kết hai tràng để tặng cho chúng sanh Phật tử, nguyện của Sư Bà là mong cho mọi người đều niệm Phật. Sư Bà phát năm lời cầu nguyện khi thí chuỗi là:

Cầu cho Phật tử dồi sào sức khỏe

Cầu cho người niệm Phật tài vật đầy đủ

Chí niệm thường tinh tấn

Thực hành hạnh nguyện Bồ Tát

Khi bỏ thân được vãng sanh Cực Lạc.

Ngày nay nhiều Phật tử ở hải ngoại có dịp về thăm lại chùa Tây Hưng vẫn thường nhớ đến những tràng chuỗi bằng hạt bo bo và ao ước có được xâu chuỗi như thế để tưởng Phật, niệm Phật.

Với tâm nguyện cứu độ chúng sanh, phát nguyện cầu siêu cho chư hương linh được siêu sanh lạc quốc, Sư Bà đã bỏ ra bốn năm trời, cứ vào mùa Thanh Minh, thường đến hết nghĩa trang này lại qua nghĩa địa khác để trì chú Tán Sa cho hương linh, mỗi phần mộ ba vòng. Năm 1948, Sư Bà cùng với Sư Bà viện chủ chùa Thiền Quang ở Sài Gòn tổ chức kỳ siêu, vớt vong bằng giàn Thủy Lục, trong đêm các Ngài tụng Kinh Địa Tạng, niệm Hồng danh “A Di Đà Phật” để hồi hướng cho chư hương linh.

Sau đó Sư Bà nhập thất ba năm. Trong thời kỳ nhập thất này, Sư Bà rất ít nói chuyện, thị giả hay Phật tử chỉ mang thức ăn vào thất rồi trở ra. Sư Bà chú tâm vào việc tụng Kinh niệm Phật để hồi hướng cho hương linh các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn.

Năm 1964, Sư Bà lại nhập thất tịnh tu ba năm, tiếp tục nhứt tâm niệm Phật và tụng Kinh để hồi hướng cho ngôi Tam Bảo sung túc, huynh đệ tu hành tinh tấn, đàn na hưng thịnh. Và trong suốt thời gian sau này, Sư Bà vẫn thường xuyên nhập thất niệm Phật.

Năm vừa qua, thấy tuổi hạc đã cao, Sư Bà phát nguyện trước chư Phật: “Con nay đã trên 90 tuổi rồi sao lại chưa đi, nếu như thọ mạng chưa dứt, xin chư Phật cho con ở lại thế gian 5 năm nữa để con gieo trồng bo bo, kết chuỗi hầu khuyến khích Phật tử niệm Phật”. Mấy hôm sau, bên tai Sư Bà nghe có tiếng nói: “Thôi, mãn nguyện rồi, con nên đi đi”. Ở đây, Sư Bà xin thêm 5 năm nữa, chúng tôi vẫn thắc mắc, không rõ trước kia Sư Bà có nguyện gì nữa không, nếu là có thì có thể đã có sự cảm ứng đạo giao mà Sư Bà thường ít nói nên không ai biết được chăng ?

Sư Cô Như Hiền có kể lại, là cách đây gần một năm, khi ngồi trước chánh điện niệm Phật, Sư Bà ngửi được mùi hương thơm phảng phất rất là dễ chịu và nhìn thấy được cảnh giới tốt đẹp với những thứ cỏ lạ đều đặn, thẳng tấp trên cát mịn màng, thoáng xa xa người người lui tới trong y phục đẹp, trang nhã và lịch sự nhưng Sư Bà chưa được vào cảnh giới đó. Bỗng chốc Sư Bà nhớ ra là mình đang niệm Phật và đang ngồi ở chánh điện.

Những giờ phút sau cùng của đời người, trước khi được về với Phật, Sư Bà rất tỉnh táo, vui vẻ, hay hỏi han vuốt ve các Phật tử tới viếng thăm. Sanh tiền Sư Bà thường nguyện với Đức Phật A Di Đà, xin “được chết thơm”, xin đến lúc lâm chung được ra đi nhẹ nhàng, tinh thần minh mẫn. Nay nguyện của Sư Bà đã được thành tựu như ý.

Sư Cô Như Hiền nhớ lại lần thân bệnh vào năm trước, đôi lúc Sư Bà còn kêu than đau đớn nhưng lần sau cùng này, Sư Bà không kêu rên hay than đau và luôn luôn giữ thế nằm nghiêng về phía tay phải, thế nằm của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khi nhập diệt.

Hơn chín mươi năm trụ thế, tấm thân ngũ uẩn được sử dụng để phụng sự Đạo pháp và chúng sanh đã hao mòn theo năm tháng, thân thế tuy mỏi mệt nhưng tinh thần luôn luôn trong sáng và tinh tấn niệm Phật. Khoảng bốn ngày trước khi vãng sanh, Sư Cô thị giả bạch thỉnh ý Sư Bà xin tụng bộ Kinh Đại Bi Đạo Tràng Sám Pháp, Lương Hoàng Sám để hồi hướng công đức cho Sư Bà, Ngài hoan hỷ chấp nhận, và thời gian này Sư Bà còn lên chánh điện để quan sát. Khi bộ Kinh được tụng đến quyển thứ bảy, qua phần Chú Vãng Sanh, đang tụng thời Sư Bà đã xả báo thân, thu thần viên tịch. Trong giây phút cận tử nghiệp này, Sư Bà vẫn còn nhép môi để niệm Phật, niệm thầm trong tư tưởng. Ngài ra đi với nét mặt hồng tươi khác lạ, da mặt căng thẳng và đầy nét hoan hỉ, trên tay vẫn còn cầm xâu chuỗi, cho đến lúc tay dũi thẳng ra xâu chuỗi mới rớt xuống một cách tự nhiên, nhẹ nhàng trước mặt quý Sư Cô. Lúc đó là 5 giờ chiều ngày mồng 8 tháng 9 năm Quý Mùi tức ngày 3 tháng 10 năm 2003. Nơi tịnh thất, trên chánh điện chùa Tây Hưng tiếng niệm “Nam Mô A Di Đà Phật” vang lên. Sư Bà trụ thế 92 tuổi, hạ lạp trải qua 63 mùa an cư kiết hạ.

Với hạnh nguyện lợi tha cao cả, Sư Bà đã cống hiến cả cuộc đời mình một cách thầm lặng cho đời và đạo. Việc làm của Sư Bà tuy đơn giản nhưng nếu không có Bồ Đề tâm, không có Bồ Tát hạnh thì cũng không dễ gì làm được. Công đức và đạo hạnh của Sư Bà vẫn còn sống mãi trong lòng người con Phật, nhất là Ni giới và hàng Phật tử tại gia. Đặc biệt nhất vẫn là vô số xá lợi đủ màu mà Sư Bà đã lưu lại cho hậu thế, trong đó có 5 viên Xá Lợi Ngọc. Theo lời Sư Cô Như Hiền, Sư Bà Như Hiếu chỉ giữ lại một số xá lợi để khuyến khích Phật tử tu hành niệm Phật, số còn lại được đem đi rải trên sông.

Sư Cô Như Hiền còn cho biết, sau lễ trà tỳ tại lò hỏa táng Bình Hưng Hòa, huyện Bình Chánh Sài Gòn, Xá lợi được đem về thất để lựa trong tối hôm đó. Đến 2 giờ khuya, giờ mà Sư Bà bắt đầu cho ngày tu niệm Phật, Sư Cô thị giả nghe thấy có luồng gió mát với hương thơm ngào ngạt giống như hương thơm của hoa sứ (ngọc lan). Mùi thơm này lưu lại cho đến mười phút.

Sư Bà Như Hiếu cho biết: “Sở cầu sở nguyện của Sư Bà Như Phụng đã được như ý nên Sư Bà đã trở về với Đức Từ Phụ A Di Đà Phật”.

Bốn năm trước đây, tại Sa Đéc, hàng Phật tử tại gia có cụ bà Diệu Thành đã vãng sanh để lại xá lợi với sự nhiệm mầu là từ chín viên nhỏ đã tự kết hợp lại thành ba viên xá lợi lớn, nay là Sư Bà Thích Nữ Như Phụng đã vãng sanh để lại nhiều xá lợi đủ màu và năm viên Ngọc Xá Lợi. Sự vãng sanh của hai vị Bồ Tát nói trên thật là một tấm gương sáng, một bài học quý báu, giúp cho Phật tử ở Sa Đéc có lòng tin sâu xa vào sự thù thắng của Pháp Môn Niệm Phật và nhứt là lời dạy vô cùng quan trọng của Đức Bổn Sư trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật nói phẩm thứ hai: “Bởi vậy mà Ta, Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn hôm nay trân trọng xác quyết rằng: Vãng đồng ý nghĩa với thành Phật, vì vãng sanh tức là thành Phật”. Chắc chắn là trong tương lai nơi đây sẽ còn có thêm nhiều vị được vãng sanh!

Thiện Thành và Minh Thịnh cẩn ghi.

5. Đại Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam  vãng sanh lưu lại cả ngàn viên xá lợi

Ngài Lý Bỉnh Nam là vị Thầy vĩ đại của hơn 200 ngàn đệ tử nói chung và của Hòa Thượng Tịnh Không nói riêng. Sau khi Ngài tịch, thiên hạ mến mộ công đức của Ngài nên mỗi ngày có khoảng 600 người đến hộ niệm. Tất cả đều tự động đến, không phải để chia buồn, nói lời rỗng tuếch mà đi xung quanh quan tài hộ niệm. Tiếng niệm Phật không ngừng nghỉ trong suốt 49 ngày.

Cư sĩ Lý Bỉnh Nam thời Dân Quốc, hiệu Tuyết Lư hay Tuyết Tăng; người thành phố Tế Nam tỉnh Sơn Đông. Từ bé, ông đã đỉnh ngộ, hiếu học. Ông chuyên học về pháp luật, chính trị và học cả Trung y, nghiên cứu Phật học: Giáo, Thiền, Tịnh, Mật, ông đều thường tu trì. Ông từng giữ chức giám ngục của huyện Lữ, nhưng nhân từ tột bực, chung thân ăn chay.

Ông quy y với vị Tổ thứ mười ba của Tịnh Tông là Ấn Quang Đại sư, được ban hiệu là Đức Minh. Ông gắng sức tự hành, dạy người chuyên tu Tịnh nghiệp. Sau ông đáp lời mời, làm bí thư cho vị chủ nhiệm quản trị nhà thờ phụng Đại Thành Chí Thánh Tiên Sư (Khổng Tử).

Ông theo chủ nhiệm Khổng Thượng Công (Khổng Đức Thành) thiên di theo chính phủ về Trùng Khánh, sống ở biệt thự Ỷ Lan thuộc núi Ca Nhạc. Mỗi sáng sớm, ông lên chùa Vân Đảnh để lễ tụng, niệm Phật. Ít lâu sau, ông lãnh trách nhiệm giảng dạy cho Phật Học Giảng Diễn Hội của chùa mấy năm, người tin theo rất đông. Năm Dân Quốc 45 (1946), theo Khổng Thượng Công trở về Nam Kinh, ông thường giảng Kinh tại chùa Phổ Tế và Chánh Nhân Liên Xã.

Tháng Hai năm Dân Quốc 38 (1949), vào lúc sáu mươi tuổi, ông theo Khổng Thượng Công qua Đài Loan, ngụ tại Thành phố Đài Trung. Vừa mới sắp xếp công vụ xong, ông đã tìm được chùa Pháp Hoa để làm cơ sở hoằng pháp và lập phòng chẩn mạch Trung Y, lập Bồ Đề Y Viện và Thí Y Hội v.v... để chữa trị, hốt thuốc miễn phí. Ông khởi xướng những sự nghiệp hoằng hóa, từ thiện để tiếp dẫn quần cơ đồng tu Tịnh Nghiệp.

Ông thường nhóm chúng niệm Phật; cử phái viên hoằng pháp đến thăm các nhà giam và những gia đình liên hữu. Do đó, pháp duyên ngày càng rộng rãi; tòa giảng kinh của ông mở rộng đến các chùa Linh Sơn, Bảo Giác, Bảo Thiện v.v... Ông còn khuếch trương những cơ sở truyền giáo khắp cả Tam Đài (Đài Bắc, Đài Trung và Đài Nam), chuyên hoằng dương Tịnh Độ phổ độ chúng sanh.

Mỗi năm, cử hành Phật Thất nhiều lần; lần nào ông cũng đích thân chủ trì, ân cần, thiết tha huấn thị. Ông thường soạn các tài liệu Phật học hàm thụ và vấn đáp, soạn các chương trình phát thanh miễn phí gởi tặng các đài phát thanh.

Về trước tác có: A Di Đà Kinh Trích Chú Tiếp Mông Kỵ Nghĩa Uẩn (lược chú Kinh Di Đà để những người kém hiểu biết lãnh hội được ý nghĩa sâu xa), Đại Chuyên Học Sinh Phật Học Giảng Tòa (tài liệu giảng dạy Phật học cho sinh viên chuyên ngành Phật học) gồm sáu quyển: Phật Học Vấn Đáp Loại Biên, Hoằng Hộ Tiểu Phẩm Vựng Tồn, v.v... hóa độ nhân gian.

Nhân đó, ở các nơi gần hay xa, mọi người đều được bình đẳng hưởng thụ pháp ích. Sau ông nghỉ việc để tăng thời gian hoằng pháp; luôn luôn khuyên người khác tin sâu nhân quả, già dặn, chắc thật niệm Phật.

Trong Pháp Môn Niệm Phật có hai công phu để hành trì:

1. Tu Phật Thất, dành cho người căn cơ bình thường.

2. Ban Châu Tam Muội, dành cho người siêu việt xuất chúng, có sức khỏe dẻo dai.

Hành giả thực hành Ban Châu Tam Muội phải đứng hay đi kinh hành trong thời gian 90 ngày không hề nằm, thường xuyên đắp y hoặc mặc áo tràng. Theo lời kể lại, cư sĩ Lý Bỉnh Nam đã hai lần đạt được Ban Châu Tam Muội. Ngài đã được định rất sâu. Như vậy, có thể Ngài Lý Bỉnh Nam đã đạt được Lý Nhứt Tâm Bất Loạn hoặc Sự Nhất Tâm Bất Loạn.

Ngày mười hai tháng Tư năm Dân Quốc 75 (1986), ông bảo đệ tử hầu cận:

- Ta sắp đi đây!

Đến sáng hôm sau, ông niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, dặn dò đệ tử rồi nằm yên lành mà tịch. Thọ chín mươi bảy tuổi. Sau khi trà tỳ, thu được hơn cả ngàn viên xá lợi ngũ sắc.

Lược trích trong Lý Công Tuyết Hư Lão Cư Sĩ Lược Sự

6. Phật tử Lê Quang Mẫn niệm Phật vãng sanh lưu xá lợi

Vạn sự đều do duyên mà thành, song điều chúng tôi muốn trình thưa nơi đây là một nhân duyên đặc biệt đã giúp chúng tôi biết anh Lê Quang Mẫn, lúc anh thanh thản nằm yên trong áo quan tại nhà quàn Oak Hill ở San Jose.

Ban Niệm Phật chùa An Lạc mới vừa được thành lập (sau khóa tu Phật Thất đầu tiên vào tháng 11 năm 2002) thì anh Trưởng ban mời chúng tôi đến hộ niệm cho người bạn đạo của anh, một Phật tử thuần thành: anh Lê Quang Mẫn, pháp danh Quảng Hỷ, đã qua đời vì bệnh ung thư phổi.

Sau khóa lễ, chúng tôi lặng lẽ tiến đến nơi anh nằm, thầm nói câu vĩnh biệt. Nhìn nét mặt an lành của anh, tôi ngạc nhiên tự hỏi: “Một người từng bị vật vã với bệnh ung thư những hai năm trước khi chết, sao lại có vẻ mặt tự tại, an bình như thế”.

Thắc mắc ấy được giải đáp: một tuần sau đó, anh Trưởng ban báo tin Quảng Hỷ ra đi, lưu lại nhiều xá lợi.

Nghe tin lành ấy, chúng tôi hân hoan chia sẻ với nhau niềm vui đạo vị, mừng cho một liên hữu vừa thoát ly tam giới còn để lại chứng tích củng cố niềm tin cho mọi người. Thỉnh thoảng trong các buổi pháp đàm, một vài người có nhắc lại công hạnh của anh Mẫn, như ôn một tấm gương tốt cho các bạn đạo.

Chúng tôi noi theo hạnh nguyện Bồ Tát của anh Mẫn, đã cùng với người bạn đồng tu thân thiết của Quảng Hỷ là đạo hữu Nguyên Tịnh, xin phép đến gặp hiền nội của anh Lê Quang Mẫn là đạo hữu Thiền Ngọc.

Trong suốt buổi pháp đàm về người quá cố, chúng tôi ghi nhận được những đặc điểm, gương hạnh của Quảng Hỷ, nhờ đó chúng tôi hiểu được vì sao anh vãng sanh.

Phát Bồ Đề Tâm

Lê Quang Mẫn sinh ngày 28/1/1956 tại Long An, trong một gia đình Phật Giáo. Song thân là những người biết tu hành và thường hộ trì Tam Bảo.

Đặc biệt là hỗ trợ cho các Tăng sinh đang tu theo học các khóa Phật học.

Năm 1981, anh xuống tàu vượt biên. Chuyến đi này gặp nhiều hiểm nạn. Tàu bị cướp, bị hư, lênh đênh trên biển cả tháng trời, cạn lương thực, uống nước đến nỗi có nhiều người chết phải thủy táng tại chỗ. Trong cảnh đau khổ và tuyệt vọng cùng cực ấy, anh khẩn thiết niệm “Quán Thế Âm cứu khổ cứu nạn”. Khi cả tàu được thoát nạn, anh càng tin tưởng hơn vào sự nhiệm mầu của Bồ Tát.

Từ đó, anh phát Bồ Đề Tâm, nguyện làm Bồ Tát Phát tâm, trên cầu Phật đạo, dưới cứu khổ muôn loài. Hơn ai hết, anh đã chứng kiến và chịu đựng sự đói khát cùng cực, đã cận kề cái chết, hiểu mạng sống của sinh linh vô cùng quý báu; nếu không có những vị Bồ Tát trải lòng từ bi rộng khắp để cứu độ thì họ biết trông cậy vào ai.

Anh Lê Quang Mẫn cùng gia đình định cư ở An Diego (cực Nam California).

Tự độ , độ tha

Vốn thấm nhuần Phật Pháp, Quảng Hỷ thường lui tới sinh hoạt tại các chùa. Là đệ tử của Thượng Tọa Thích Từ Lực, hầu như tuần nào Quang Mẫn cũng có về Trung Tâm Phật Giáo Hayward để được học hỏi giáo pháp. Ngoài ra, anh còn làm Phật sự tại các chùa Đức Viên, An Lạc, Kim Sơn, Hồng Danh v.v...

Anh đã tham dự khóa tu của Thiền sư Nhất Hạnh tại Làng Hồng và có ý định xuất gia nhưng không thực hiện được. Quang Mẫn theo Thầy Thông Triệt học Thiền một thời gian ngắn. Đến năm 1996, anh quyết định chuyên tu Tịnh Độ, tự soạn ra nghi thức để hành trì và phổ biến. Mỗi tối anh đều có thời Tịnh tu.

Tâm nguyện của anh là đem sự lợi ích đến cho đồng bào về vật chất lẫn tinh thần. Cúng dường và bố thí là Phật sự thường xuyên của anh.

Bên Bờ Sinh Tử

Năm 2000, anh bắt đầu ho. Thời gian này, anh tham dự khóa tu 5 ngày ở Santa Cruz (Bắc Cali) dưới sự hướng dẫn của Thầy Hằng Trường. Khóa tu để lại một ấn tượng khó phai trong tâm khảm anh.

Đến tháng 6/2001, người anh sa sút thấy rõ. Vợ anh lo lắng, năn nỉ anh đi khám bệnh tổng quát, chụp hình phổi. Tháng 7, bác sĩ xác nhận anh bị ung thư phổi vào thời kỳ khá nặng rồi.

Tuy biết mình vướng phải bệnh nan y nhưng anh Mẫn không hề sợ hãi. Anh vẫn lạc quan và sinh hoạt bình thường. Tháng 5/2002, dù cơn bệnh bắt đầu hoành hành, anh vẫn tham dự khóa tu hai tuần lễ của Thầy Hằng Trường tại Nam California.

Thầy chuyên tu về Hoa Nghiêm, hướng dẫn tu Bồ Tát đạo, mở rộng tâm thức Tịnh Độ cho hành giả. Đây là vị thiện trí thức cuối cùng nhưng quan trọng nhất trong cuộc đời tu học của Quảng Hỷ vì Thầy đã chỉ cho anh thấy rõ rằng muốn tự độ, phải độ tha; hãy quên mình phục vụ chúng sanh. Trong mọi hoàn cảnh, đừng ích kỷ tự tu, hãy vì tha nhân mà hành sự.

Thầy đã giải đáp được hoài bão độ sinh và chí nguyện giải thoát của Quảng Hỷ. Đây chỉ là một, không hai. Tu niệm Phật nên vì người mà tu cầu vãng sanh cũng vì muốn độ chúng sanh mà về Cực Lạc để tu học.

Lần cuối cùng Quảng Hỷ được gặp Thầy Hằng Trường ở một đạo tràng tại tư gia đạo hữu Tâm Quảng. Bấy giờ bệnh đã nặng lắm, đi đâu cũng phải mang bình dưỡng khí trong người để thở. Thầy khuyên anh: “Hãy xả bỏ tất cả!”.

Kể từ đầu năm 2002, bệnh tình ngày càng trầm trọng. Có người chỉ phương thuốc uống máu rắn hoặc giết rắn lục đốt ra tro uống (họ tình nguyện mua giùm). Anh khẳng khái chối từ: “Tôi thà chịu chết, không giết hại sinh mạng. Mình đã thọ Bồ Tát giới, sao làm việc ấy được!”.

Tháng 11/2002, một tuần lễ trước khi mất, Quảng Hỷ nằm ở Nursing Home “Mission De La Casa”. Nơi đây, không những các bạn đạo thay phiên nhau thăm viếng mà chư Tăng Ni các chùa cũng lần lượt đến an ủi.

Vài ngày trước khi mất, Quảng Hỷ nói với đạo hữu Đoàn Thị Nga: “Em có gì (ý nói không qua nổi, sắp mất) nhờ chị cho Thầy Hằng Trường biết. Nếu em có xá lợi, chị giao cho Tuyết, vợ em (ngầm muốn độ cho vợ)”.

Tuy Quảng Hỷ dặn dò hậu sự, nhưng tâm anh chưa sẵn sàng ra đi. Anh vẫn muốn sống để tiếp tục những Phật sự, để có dịp về Việt Nam xây nhà tình thương, trường học, giúp đỡ đồng bào nghèo. Những dự tính cả đời ước ao mà anh chưa thực hiện được.

Ngày 15/11/2002, từ 3 giờ chiều, anh bắt đầu hấp hối, nhịp tim yếu dần, yếu dần, từ 30 xuống còn 20. Mồ hôi toát ra theo những cơn đau.

Đã liên lạc được với Thầy Hằng Trường. Thầy đang ở xa, Thầy điện thoại về, dặn: “Quảng Hỷ ráng chờ Thầy, Thầy sẽ tới!”. Bạn đạo kề tai Quảng Hỷ báo tin; anh hiểu và anh chờ. Quý Sư và các bạn đạo luân phiên hộ niệm.

Thoát vòng sanh tử

Khoảng 9 giờ đêm, Thầy đến. Bây giờ Quảng Hỷ đã đuối lắm rồi nhưng vẫn còn tỉnh táo. Biết Thầy Hằng Trường tới, anh mở mắt, bật ngồi dậy, bắt tay Thầy, cúi đầu chào. Nhịp tim đang ở mức 20 tăng vọt lên 40,50 rồi 100, tưởng như sức sống được phục hồi. Điều này làm bác sĩ Thái Hồng Phương (đang hiện diện) rất ngạc nhiên.

Thầy hiểu tâm trạng của anh. Đây là giờ phút quyết định. Thầy nói: “Thầy đã thỉnh Ngài Quán Thế Âm tiếp dẫn anh về Tịnh Độ. Đây là duyên lành hiếm có. Hãy buông bỏ hết, một lòng niệm Phật mà ra đi trong ánh hào quang của chư Thánh Chúng”.

Thầy bảo Ban Hộ niệm phải nghiêm chỉnh vì đang có sự hiện diện của Thánh Chúng nơi đây.

Và theo lời dạy của Thầy, các bạn đạo lần lượt tiến đến, kề tai Quảng Hỷ chúc lành cho anh ra đi. Tất cả mong Quảng Hỷ đi về thế giới Cực Lạc an lành, cõi tạm trần ai này không có gì đáng lưu luyến.

Thầy Hằng Trường hướng dẫn phương pháp niệm Phật cho người sắp lâm chung: “Hãy thấy mình với người bệnh là một. Mình là người bệnh, đau đớn vô cùng vì tứ đại đang phân ly. Do đó câu niệm Phật phải nhẹ nhàng, êm ái, sao cho dễ nghe, dễ cảm. Đừng niệm dồn dập quá như hối thúc người ta, vì phải đúng giờ mới đi được. Câu niệm cho liên tục”.

Anh Quang Mẫn nằm im, thầm niệm theo. Nhịp tim xuống dần, xuống dần. Khoảng 15 phút sau, anh thở ra 3 lần rồi đi nhẹ nhàng.

Ngay khi ấy, Sư Cô Quảng Tịnh cảm thấy có một luồng điện từ đỉnh đầu cô chạy dài xuống cả toàn thân. (Đây là lần thứ hai cô có cảm ứng này: lần thứ nhất, khi trợ niệm cho đạo hữu Thiện Bữu, vãng sanh năm 2000).

Thầy Hằng Trường xác nhận Quảng Hỷ đã vãng sanh và chúc mừng gia đình anh.

Một ngày sau khi làm lễ hỏa thiêu, anh Nhơn, một bạn đạo của Quảng Hỷ, do linh tính nên đã đến lò thiêu, thu nhặt được một số Hoa Xá lợi, ửng màu ngũ sắc.

Đặc biệt có Xá lợi giống như hình ngọn núi, cao 1 inch, phần dưới có màu hồng cam, phần trên trắng như sữa, có vòng xanh lục chung quanh, đỉnh có điểm tuyết lấp lánh.

Hoa Xá lợi này, Sư cô Như Phước xin về để ở chùa Đức Viên để sách tấn người niệm Phật.

Thiện căn phước đức nhân duyên

Quảng Hỷ đã gieo duyên với Phật pháp từ nhiều kiếp rồi nên kiếp này anh vô cùng hâm mộ đạo Phật, một lòng cầu học không mệt mỏi. Lại phát tín tâm tu Tịnh Độ cầu vãng Sanh, một pháp môn rất khó tin, khó vào. Đây là đầy đủ thiện căn.

Thừa hưởng phước đức từ kiếp trước, anh lại tự mình liên tục bố thí, cúng dường, làm công quả. Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, Quảng Hỷ đã thật sự phát Bồ Đề Tâm, sống xứng đáng với danh hiệu “Hữu tình giác ngộ”, “Bồ Đề Tát Đỏa” xứng đáng với Bồ Tát giới mà anh đã thọ trì.

Chính cái tâm rộng lượng ấy là nhân duyên tối thắng giúp anh gặp được Thầy Hằng Trường theo luật đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Thầy Hằng Trường xuất hiện kịp lúc, giúp anh tháo cái mấu chốt cuối cùng (còn lưu luyến với sự sống) và đồng thời giúp cho anh niềm tin mạnh mẽ vào sự tiếp dẫn của chư Thánh chúng. Tự lực và tha lực kết hợp đúng thời, đúng lúc, thật là vi diệu.

Thành tựu của anh là một sự thật hiển nhiên, là bài học thực tiễn cho tất cả liên hữu đương thời và mai sau.

Lược thuật bài viết của D.N. (Viết theo lời kể của hiền thê anh Lê Quang Mẫn và Nguyên Tịnh, bạn đồng tu chí thân của anh).

7. Chuyện vãng sanh của cụ Thiện Phước ở Biên Hòa

Có rất nhiều chuyện niệm Phật linh ứng của các Phật tử tham dự niệm Phật. Ở đây, tôi xin đưa một vài gương điển hình.

Phật tử Huệ Nhân, năm nay 74 tuổi, mẹ mất đã lâu, chưa bao giờ nằm mộng thấy mẹ về nhưng sau khi vào chùa dự Phật thất được ba kỳ thì bà nằm chiêm bao thấy mẹ về và được báo mộng là mẹ của bà đã vãng sanh về Cực Lạc. Bà vui mừng vô hạn vì 40 năm mới gặp lại mẹ.

Phật tử Đoàn Thanh Sơn có con tên Đoàn Thanh Nhân, nóng tánh hay gây gỗ, bỏ học, thích rong chơi bên ngoài, cha mẹ của cậu than phiền với tôi. Tôi bảo dẫn cậu bé vào quy y và tham dự niệm Phật vào mỗi Chủ Nhật. Và kể từ đó, cậu thay đổi hẳn tính tình. Ban ngày đi học nghề, buổi tối đi học bổ túc và vâng lời cha mẹ, không rong chơi phá phách làng xóm nữa.

Và cuối cùng là chuyện vãng sanh của cha tôi

Tôi thấy công đức niệm Phật thậm thâm vi diệu. Cha mẹ tôi thửa sanh tiền là một thương gia lớn ở chợ Biên Hòa, công việc ông rất bận rộn cả ngày, ông bà chỉ dành ít thời gian để đi chùa, phần lớn là niệm Phật và bố thí. Hơn 60 năm, đêm nào trước khi đi ngủ, ông cũng niệm Phật cho đến khi ngủ quên.

Có nhiều lúc bán hàng đến 12 giờ khuya mới ăn cơm. Dầu mỏi mệt, mắt nhướng không nổi, ông cụ vẫn không bỏ thời khóa niệm Phật. Ngày ấy tôi vừa mười hai tuổi đầu, không hiểu việc làm của cha.

Ông là người Tàu lai mang họ Từ tên Từ Văn Lên, pháp danh Thiện Phước, sanh năm 1916. Năm 1959, lúc tôi 9 tuổi, ông quy y với Thầy Yết Ma Thiện Niệm, là một Ni sư người Pháp lai giả trai đi tu. Cha tôi chỉ nghe Thầy Yết Ma và Ni Trưởng Huỳnh Liên, Ni sư Thanh Liên, Kim Liên, Tạng Liên dạy niệm A Di Đà Phật được vãng sanh về cõi Phật.

Đằng đẳng hơn 60 năm, không một buổi tối nào ông bỏ thời khóa niệm Phật. Ông lên gác thắp nhang bàn Phật rồi xuống dưới đất ngồi trên bộ ván niệm Phật. Chư Phật đã chứng minh cho ông. Trước khi nhắm mắt, ông biết trước ngày vãng sanh.

Sáng ngày 9/2/1992, tôi về thăm nhà, ông nhìn tôi mà nói:

- Con có tiền lo cho ba không?

Tôi liền nhìn ông vì lúc này ông không bị bệnh hoạn gì mà lại hỏi như vậy. Tôi trả lời rằng:

- Con đi tu, dạy học ở trường hạ đâu có tiền.

Đến chiều ngày mùng 10/2/1992, ông bị té và được đưa vào bệnh viện vào lúc 7 giờ sáng ngày 11/2/1992.

- Ông hỏi: Nay ngày mấy?

- Đứa cháu nội nói: Dạ ngày 11.

- Ông nói: ngày 14 nhớ mua khoai lang nấu để cúng nhe. Ba sẽ được vãng sanh, nấu để cúng chư Phật đến rước Ba. Ông lập đi lập lại ba lần.

Đúng 4 giờ 30 sáng ngày 14/2/1992, người an nhiên ra đi trong tiếng trợ niệm của con cháu.

Lạ thay, lúc ở bệnh viện, mắt ông tái xanh nhưng khi về nhà, khuôn mặt ông sáng lạ thường, môi như mỉm cười, da thịt đầy đặn, sắc mặt sáng rực ánh hồng. Toàn thân lạnh ngắt nhưng riêng đỉnh đầu của ông vẫn nóng ấm.

Chuyện này có nhiều chư Tôn Đức chứng minh nhưng vì thời gian cũng lâu nên bây giờ nhiều vị đã mất, nhiều vị đã đi nơi khác nên khó mà tìm được để chứng minh người thật việc thật. Nhưng những điều tôi trình bày đây là chân thật, không hư cấu hay giả dối vì Phật pháp bất khả tư nghì. Ông hưởng thọ 77 tuổi, vãng sanh ngày 14/2/1992. Một năm sau, 24/2/1993, mẹ tôi cũng vãng sanh và cũng thọ 77 tuổi.

Tuy tôi học nhiều, được bằng Cử nhân Phật học, Cử nhân Văn chương, Cao học Xã hội, Giảng viên Phật học và nhiều chức vụ khác nhưng tôi không công phu niệm Phật thì chắc chắn lúc lâm chung sẽ không được hưởng lợi lạc như cha mẹ tôi. Mặc dầu ba mẹ tôi không am hiểu nhiều về giáo lý nhưng ông bà niệm Phật gấp bội lần nên vãng sanh thật an nhiên và biết trước ngày vãng sanh. Tôi chỉ mong ước được bấy nhiêu đó thôi.

Cha tôi được an táng không trà tỳ nên không biết có Xá Lợi không. Nhưng theo tôi, có hay không Xá Lợi thì cũng không quan trọng, quan trọng là có vãng sanh được hay không mà thôi.

Lược trích bài viết của Sư cô Thích nữ Huệ Tâm

8. Cư sĩ Vân Liên ở Bành Tô Úc Châu

Chín giờ hai mươi ba phút chiều ngày mồng một tháng giêng năm 2000, cư sĩ Vân Liên ở Bành Tô, tám mươi sáu tuổi, ngồi kết già trên ghế sô pha trong phòng thờ Phật tại nhà mình đã niệm Phật suốt hơn ba mươi tiếng đồng hồ. Lúc này, đôi mắt bà dán chặt vào thánh tượng của Đức Phật A Di Đà trước mặt, đồng thời vẫy tay ra hiệu bạn đồng tu hạ tượng Phật thấp xuống một chút. Trong khoảnh khắc, bà mở to đôi mắt chiếu ra luồng sáng lạ lùng. Hai tay duỗi ra đặt vào thành ghế sô pha dường như muốn đứng dậy cung nghinh Đức Phật A Di Đà đến, trên môi vẫn luôn mấp máy niệm Phật. Sau khi giữ tư thế như vậy và liên tục niệm được mấy mươi phút nữa, cuối cùng bà nhắm mắt lại chỉ có đôi môi vẫn mấp máy chầm chậm không ngừng niệm Phật.

Những bạn đồng tu tham gia trợ niệm đứng gần bà, đột nhiên nghe một làn hương thoảng nhẹ từ trên người bà tỏa ra.

Cô con gái đang dốc lòng nhắm đôi mắt lại, ngồi bên cạnh niệm Phật, đột nhiên nghe bên tai văng vẳng tiếng nhạc trời trổi trên không trung. Cô cứ cho rằng ai đang chơi âm nhạc nên mở to đôi mắt ra nhìn, thấy bạn đồng tu đều đang ngồi đông đúc, quay quanh hai bên, chú tâm niệm Phật. Người mẹ ngồi kết già ngay thẳng bên cạnh được Phật tiếp dẫn đã nhắm mắt vãng sinh. Mẫu thân rốt cuộc đã thoát khỏi sự ràng buộc đi vào thế giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà mà ngày đêm bà nhớ tưởng.

Đây là việc thật người thật xảy ra vào năm 2000 tại Yagoona, Tuyết Lê, Úc Châu, một vị niệm Phật ba năm, phát nguyện cầu sinh về thế giới Tây Phương Cực Lạc, lúc lâm chung được Phật tiếp dẫn vãng sinh.

Khi phát bốn mươi tám đại nguyện, Đức Phật A Di Đà nói: “Nguyện khi ta làm Phật, mười phương chúng sinh, nghe danh hiệu ta, phát Bồ Đề tâm, tu các công đức, thực hành sáu Ba la mật, bền bỉ không thoái chuyển; lại đem căn lành hồi hướng nguyện sinh vào nước ta, một lòng nghĩ đến ta, ngày đêm không nguôi thì lúc lâm chung, ta cùng chúng Bồ Tát hiện đến trước người ấy, trong khoảng sát na, liền sinh về cõi nước ta, thành Bồ Tát bất thoái chuyển. Nếu không được như lời nguyện này thì ta không thành Phật”. Đây là lời nguyện “Tiếp dẫn vãng sinh” của Đức Phật A Di Đà.

Cư sĩ Tô là người thế nào? Nhân duyên nào bà được vãng sinh như lời nguyện? Quá trình bà vãng sinh đã chỉ rõ cho chúng ta điều gì? Vì vậy, người bạn đồng tu tham gia trợ niệm của chúng tôi đã cùng người thân và con gái của cư sĩ Tô nhiều lần nói chuyện với nhau, tìm hiểu, hy vọng có thể tìm ra đáp án, để không phụ tấm lòng khổ nhọc của cư sĩ Tô thị hiện lúc lâm chung.

a. Kiếp người lận đận

Cư sĩ Bành Tô Vân Liên là một người bên ngoài chất phác trung hậu, tính tình nhu hoà lương thiện có thể tùy duyên vui sống, nhưng nội tâm rất độc lập kiên cường.

Năm 1915, bà sinh ra trong một gia đình nông thôn thuộc huyện Phổ Ninh, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Năm mười mấy tuổi, bà gầy ốm, là con gái lớn trong nhà. Do hoàn cảnh gia đình nghèo, vì vậy những công việc nặng nhọc lớn nhỏ, bất luận cày ruộng, lấy nước, nấu cơm, giặt áo, chăm sóc em v.v… bà đều chủ động gánh vác thay cho cha mẹ. Bà lặng lẽ làm việc, không từ khó nhọc, dù cuộc sống khổ sở đến đâu cũng không hề thốt lời oán trách. Chính trong sự nghèo khổ từ thuở nhỏ đã tôi luyện cho bà một cá tính chịu khó nhẫn nại, độc lập kiên cường.

Năm mười bảy tuổi, theo lời mai mối, bà được gả đến nhà họ Trương. Sau khi kết hôn, người chồng theo cha sang Việt Nam xa xôi mưu sinh. Hai năm sau, bà mười chín tuổi, bà cùng mẹ chồng di cư sang Việt Nam. Hơn ba mươi năm sinh sống ở Việt Nam, vì giúp chồng mưu sinh nên thân thể bà gầy yếu. Mỗi ngày phải dọn dẹp, vận chuyển các loại hàng hóa nặng nề để duy trì cuộc sống, lại phải phụng dưỡng mẹ chồng và nuôi dưỡng mười người con, bốn nam sáu nữ. Thật là đã nếm đủ mùi vất vả, gian nan, khó nhọc!

Bà đã từng có những chuỗi ngày rất gian khổ. Chồng bà say mê cờ bạc, mọi việc sinh nhai trong gia đình, dạy dỗ con cái nhỏ dại đều dồn hết cho bà, ông ta không để ý đến. Nhưng bà vẫn một lòng gánh vác chịu đắng cay khổ sở, nghĩ hết cách để duy trì cuộc sống. Cuộc sống không chỗ nương tựa; gánh vác một gia đình nặng nhọc, đã nuôi dưỡng thành một cá tính độc lập kiên cường của bà, làm việc không ngại vất vả, không hề oán trách. Dù chịu biết bao oan khuất cũng âm thầm đón nhận không bao giờ than khổ với người khác, tất cả gian khổ đều nuốt vào lòng. Mọi người hãy tìm hiểu kỹ, cảm nhận được cuộc sống cư sĩ Tô ở Việt Nam, thì có thể phát hiện ra những điều bà đã trải qua, đó không phải là sự rèn luyện và nỗi đau khổ mà người bình thường có thể nhẫn chịu. Tuy đương thời bà không cơ duyên tiếp xúc Phật pháp nhưng sự biểu hiện của bà lại ấn chứng trọn vẹn Lục độ Ba la mật trong Phật pháp.

Bố thí! Bà đã không ngừng bỏ công sức đối với gia đình, cha mẹ chồng, chồng và con cái.

Trì giới! Làm việc vất vả mấy mươi năm như một ngày không hề biếng nhác, không một lời oán trách.

Nhẫn nhục! Dù chịu bao oan khuất vẫn làm tròn bổn phận không than thở với người.

Tinh tấn! Siêng năng quản việc nhà, dùng thân giáo làm gương cho các con, không hề ngơi nghỉ.

Thiền định! Cuộc sống dù khổ đến đâu, vẫn an nhiên không lay động, an phận giữ mình, tùy duyên vui sống, phụng dưỡng cha mẹ chồng, dạy dỗ con cái, hiền lành nhu hoà với người, khắc khổ cần kiệm với bản thân, trọn một đời không thay đổi.

Trí huệ! Trong cuộc sống, bà có thể tùy duyên vui sống, tùy duyên mà làm việc.

Vào thời điểm ấy, tuy mọi người không có cơ hội đọc sách biết chữ, tiếp nhận sự giáo dục nhưng bà quả thật được rèn luyện trong đời sống khốn khổ và đã thành tựu phẩm đức tốt đẹp, chứng minh cho những điều Cổ đức đã nói: “Cuộc sống chính là sự tu hành, tu hành không tách rời cuộc sống”.

b. Phước báo đến, được Pháp Môn Niệm Phật, Tín Nguyện niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ

Năm 1978, cả nhà cư sĩ Tô dời về Đài Loan. Năm 1986, trong sự sắp xếp của hai cô con gái, bà và chồng lại từ Đài Loan sang Tuyết Lê, Úc Châu. Cuộc sống cuối đời của bà tại Úc Châu đã không còn vất vả nữa, đó là kết quả đạt được của cả đời bà, chịu khó tu phước đức. Cũng may nhờ những người con hiếu thuận này, bà mới có thể thụ hưởng phước thanh nhàn vui cùng con cháu. Hai người con gái học Phật, con rể đều vô cùng hiếu thảo, lại thêm một đàn cháu ngoại đều đáng yêu, thường làm bạn bên cạnh, khiến cho tính tình bà vốn đã ôn hoà lương thiện, lại càng biểu lộ nét từ bi, tươi sáng. Bất luận bà đi đến đâu thì nơi đó đều tràn ngập bầu không khí vui tươi, hoạt bát. Điều đáng quý hiếm là vào tuổi thất thập cổ lai hi, bà có duyên được nghe Phật pháp, tiếp nhận được sự đích thân hướng dẫn của Đại đức pháp sư Tịnh Không, tông Tịnh Độ đương thời, giống như giữa đêm đen mờ mịt tìm được ngọn đèn sáng soi đường. Từ đây, bà đã tìm được mục tiêu chân chính của đời người, tham gia vào hội “A Di Đà Phật cộng tu”, bà bắt đầu niệm Phật A Di Đà cầu vãng sinh thế giới Cực Lạc. Bao nhiêu thiện căn phước đức được gieo trồng từ vô lượng kiếp đến giờ, gặp được nhân duyên hiếm có này, rốt cuộc bà đã bước lên con đường Bồ Đề thênh thang rộng lớn.

c. Dõng mãnh tinh tấn

Hiểu rõ lợi ích công đức thù thắng của niệm Phật và kết quả rốt ráo viên mãn của thế giới Cực Lạc ở Tây Phương. Từ đó, bà buông bỏ muôn duyên, nhất tâm niệm Phật cầu sinh Tịnh Độ. Bốn giờ sáng trong nhà đã vọng ra tiếng niệm Phật trong trẻo của bà. Mỗi chiều, sau khi bọn trẻ tan học trở về nhà, bà liền dẫn cả nhà lớn nhỏ và đàn cháu ngoại (đứa nhỏ nhất mới năm tuổi) xếp thành một hàng, cùng niệm Phật kinh hành, vòng quanh Phật, lễ Phật, giống như một hồ hoa sen nhỏ. Sau khi học Phật, bà cung kính Tam bảo, tôn thờ Sư trưởng; mỗi khi có pháp sư đến giảng kinh hoằng pháp, bà luôn đến dâng hoa, lễ bái và tham gia nghe kinh, nghe pháp không hề gián đoạn. Dù có một số pháp sư giảng tiếng bản xứ, nghe không hiểu, bà cũng ngồi cung kính ngay thẳng lắng nghe, không làm ảnh hưởng đến mọi người, không hề giữa chừng rời bỏ đạo tràng.

d. Tín nguyện kiên cố, vượt qua mối lo ung thư phổi

Tháng 02 năm 1998, cư sĩ Tô do bệnh phải nằm viện kiểm tra, phát hiện đã vướng bệnh ung thư phổi, bà vừa tiếp nhận trị liệu hóa học, vừa cố gắng khẩn thiết niệm Phật. Hai tháng sau, bà đi kiểm tra lại, bác sĩ vô cùng kinh ngạc, phát hiện ra tế bào ung thư không còn nữa.

Tháng 05 năm 1998, sau khi hết bệnh, bà cùng con gái tổ chức một chuyến du lịch toàn cầu, đi thăm viếng bạn bè, bà con và con cái ở rải rác các vùng trên thế giới. Đồng thời, bà đem những kinh nghiệm từng trải của bản thân mình khuyên mọi người niệm Phật cầu vãng sinh Tây Phương Tịnh Độ. Và cũng nhân cơ duyên này, bà nói lời giã biệt sau cùng với mọi người.

Đầu năm 1999, cư sĩ Tô do bị ho liền đi bệnh viện, sau khi kiểm tra mới biết bệnh ung thư phổi tái phát, hơn nữa bệnh đã sang thời kỳ thứ hai.

Bà nói với bác sĩ: “Tôi cảm thấy rất tốt, không cảm thấy có bệnh nặng gì, cũng không cần chích thuốc, uống thuốc và làm hoá học trị liệu”. Đối với chứng bệnh hiểm nghèo này, bà không hề lo sợ, dường như bà không muốn làm gì cho chính mình. Trong khi những bạn đồng tu có một số việc nhỏ như đau lưng nhức mỏi, bà lại ghi nhớ trong lòng, nghĩ hết mọi cách tìm cho được phương thuốc nội địa phối hợp với thảo dược, đem biếu cho người bệnh dùng; dường như một chút bệnh nhỏ của người khác vẫn quan trọng hơn chứng bệnh ung thư của chính mình.

Sau khi biết bệnh ung thư của mình tái phát, bà càng tinh tấn niệm Phật hơn. Tâm nguyện cầu sinh Tịnh Độ càng bức thiết hơn. Bà vẫn tham gia hội “A Di Đà Phật cộng tu”. Mỗi cuối tuần, hội tổ chức 24 giờ, bà luôn tinh tấn niệm Phật, khiến cho những bạn đồng tu trẻ tuổi trông thấy đều hổ thẹn.

Ngày 26 tháng 10 năm 1999, trước ngày vãng sinh hai tháng, trong ngoài nhà của con gái, bà đều dọn dẹp sạch sẽ, những luống rau cải được trồng thường ngày cũng được nhổ dọn sạch sẽ. Sau đó, bà nói với con gái: “Sau này, mẹ không còn có thể giúp con trông nom việc nhà. Thường ngày con phải đi làm, rau cải cũng không thể chăm sóc được, vì vậy, mẹ phải dọn sạch hết”. Còn một số tiền dư, bà cũng phân chia hết. Từ điểm này có thể phát hiện ra, trước hai tháng, bà đã sớm tiết lộ cho mọi người trong nhà biết tin mình sắp vãng sinh.

Trong khoảng thời gian sau cùng, bà vẫn như thường lệ tham gia hội “A Di Đà Phật cộng tu”. Đồng thời ghi tên tham gia Phật thất từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 31 tháng 12, do hội “A Di Đà Phật cộng tu” tổ chức. Suốt bảy ngày đêm, bà không ngừng tinh tấn niệm Phật. Vào ngày 26, bệnh tình bà nặng hơn. Theo sự khuyên nhủ của cô con gái, bà mới trở về nhà nghỉ ngơi qua đêm. Nhưng đến sáng hôm sau bà vẫn kiên trì đến đạo tràng Phật thất. Mãi đến ngày 29, khi bệnh tình trầm trọng hơn, bà mới trở về niệm Phật ở nhà.

Một bà cụ 85 tuổi, không màng đến cơ thể bị bệnh ung thư dày vò, từ chối lời đề nghị của bác sĩ, dừng tất cả thuốc men và trị liệu hoá học, toàn tâm toàn ý lao vào niệm Phật, ngày đêm không nghỉ, tinh tấn liên tục mấy ngày đêm, không chịu tiếp nhận lời khuyên dừng niệm. Niệm Phật dốc sức như thế, đủ để chứng minh tín tâm và nguyện lực cầu sinh Tịnh Độ của bà là kiên định không gì sánh bằng! Hiện thân thuyết pháp như thế, bảo cho chúng ta biết đây mới là Nhất tâm quy mạng chân chính Đức Phật A Di Đà nơi thế giới Tây Phương Cực Lạc.

Ngày 30 tháng 12, khi kiểm tra, bác sĩ phát hiện ra bộ phận phổi của bà đã chứa đầy nước. Một số bệnh nhân như thế thì đau đến nỗi không tự kiềm chế được. Vả lại, cần phải rút nước ra. Nhưng cư sĩ Vân Liên vẫn theo thường lệ ngồi niệm Phật, không hề có hiện tượng phổi trương nước. Bác sĩ vỗ nhẹ vào bộ phận phổi, hỏi bà: “Khó chịu không?” Bà gật đầu đáp: “Có”. Bác sĩ hỏi bà có đau không? Bà lắc đầu nói: “Chỉ cần nhất tâm niệm Phật thì không đau, lơ là một chút thì cái đau dấy lên”.

Trưa ngày 31 tháng 12, kết thúc Phật thất của hội “A Di Đà Phật cộng tu”, các bạn đồng tu cùng đến thăm bà. Khoảng 10 giờ 30 phút, mọi người phát hiện, cư sĩ Tô đang ngồi trong Phật đường, đột nhiên chắp tay, tướng mạo trang nghiêm, một luồng hào quang vàng rực chiếu xuống đỉnh đầu bà, từ từ lan tỏa toàn thân, khoảng chừng 15 phút, mới dần dần biến mất. Những người trông thấy đều kinh ngạc. Vì vị trí Phật đường ở hướng Nam, so với thời tiết hiện tại, thì mặt trời hoàn toàn không thể chiếu vào. Trong khoảnh khắc này, họ hàng, con cháu đều kéo nhau đến thăm hỏi, an ủi, bao nhiêu tình cảm dâng tràn khó thể dùng lời diễn đạt.

Ngay chiều hôm ấy, đoàn trợ niệm của hội Tịnh Độ Tuyết Lê cùng với các bạn đồng tu của hội “A Di Đà Phật cộng tu” bắt đầu trợ niệm, đồng thời yêu cầu tất cả thân bằng quyến thuộc đều phải tránh xa. Bởi vì các thành viên của đoàn trợ niệm đang vây quanh dốc lòng niệm Phật, để tránh tình thân làm trở ngại việc vãng sinh.

Mọi người đều hiểu rõ hiện giờ đã đến thời điểm quan trọng: Bà có vãng sinh được hay không? Vì vậy, bất luận thế nào cũng không thể có một chút sai sót.

Nhị lực pháp môn, tuy có trợ niệm nhưng tự lực phải phấn đấu, giúp đỡ nhau, thành tựu cho nhau.

Trong suốt 33 giờ niệm Phật, người trong đoàn trợ niệm đã mệt, có thể luân phiên thay đổi nghỉ ngơi. Nhưng cư sĩ Tô vẫn phải gượng đau niệm Phật, tập trung tinh thần, không thể lơ là và không người nào có thể thay thế. “Việc lớn sinh tử ai có thể thay thế! Con cái dù hiếu thuận cũng không thể làm gì, không thể nào nhận thay mình!”.

Đúng như kinh Vô Lượng Thọ đã nói: “Con người trong ái dục, sinh tử một mình, đến đi một mình, khổ vui tự gánh, không người thay thế”. Dù đã kiệt sức quá đổi, suýt chút nữa ngã quỵ nhưng bà lại lập tức niệm Phật theo mọi người. Có người hỏi: “Bà có cần nằm xuống nghỉ một chút không?” Bà lắc đầu cự tuyệt. Có người lấy xâu chuỗi niệm Phật trao cho bà, sau khi vừa duỗi năm ngón tay ra nhận lấy, bà chỉ lần chuỗi niệm một tiếng rồi đặt lên đùi, dường như muốn nói rõ: Hiện giờ đã là thời khắc quan trọng, không thể nhờ vào chuỗi, mà phải tập trung tinh thần phấn đấu đến cùng.

Nhìn thần sắc gắng gượng của bà, môi mím chặt răng, lộ vẻ niệm đến cùng một câu danh hiệu Phật. So với vẻ mặt đáng yêu khả kính trước kia của bà, một bà cụ gương mặt đầy đặn tươi tắn, giờ đây dường như trở thành hai người, khiến một số bạn tu vô cùng xúc động, không dằn lòng được, họ xoay người qua lễ Phật, cầu xin Phật và Bồ Tát mau đến tiếp dẫn cư sĩ Tô vãng sinh về Tây Phương. Những nghiệp còn lại của bà, chúng con xin thay nhau gánh chịu. Tấm lòng trợ niệm, nhiệt tâm của những người bạn đồng tu chân thành tha thiết giống như cầu giúp cho cha mẹ ruột của mình vãng sinh Cực Lạc, không dám mảy may xao lãng. Thật đáng gọi là từng tiếng danh hiệu Phật đều biểu lộ sự chân thành cùng một cội nguồn không có ta, không có ai khác.

Tất cả những bạn đồng tu tham gia trợ niệm lần này, đều tán thán: “Trước giờ tham gia trợ niệm, nhưng chưa từng niệm đến mức chân thành tha thiết, trang nghiêm thanh tịnh như vậy. Niệm mãi đến cảnh giới tràn đầy pháp lạc mà cũng không muốn thôi”.

Trợ niệm liên tục 33 giờ, vào 9:23 phút chiều tối ngày 01 tháng giêng, mọi người đồng cầu mong Phật tiếp dẫn bà vãng sinh Cực Lạc. Sau 12 giờ đêm, bà vãng sinh. Khi bạn đồng tu bận rộn thay đổi y phục cho bà, họ mới phát hiện ra toàn thân bà mềm mại, đỉnh đầu nóng ấm, gương mặt thoáng nụ cười, tướng mạo trang nghiêm, đẹp hơn lúc sống. Một người bạn đồng tu lần đầu tham gia trợ niệm sau khi nhìn thấy đã kinh ngạc, yêu cầu cho chụp một bức ảnh lưu niệm để minh chứng.

f. Xá lợi thị hiện, khuyên tinh tấn tu

Sau khi hỏa táng di thể của cư sĩ Bành Tô Vân Liên, mọi người phát hiện ra mấy trăm viên xá lợi nhiều màu rực rỡ. Bà dùng chuỗi niệm Phật, niệm đến xương đốt tay đều lõm xuống, đủ thấy sự thâm hậu trong công phu niệm Phật hằng ngày của bà.

Vô cùng cảm ơn sự thị hiện trong phút lâm chung đáng quý này của cư sĩ Tô khiến cho những người trợ niệm cảm nhận sâu sắc cái gọi là niệm Phật chân thành, thanh tịnh, bình đẳng, chính giác, từ bi. Sau khi trợ niệm xong, mọi người tràn đầy pháp hỷ, quên đi bao khó nhọc và cũng thể hội được rằng: Tuy Pháp Môn Niệm Phật là pháp môn dễ tu hành trong tất cả pháp môn (chỉ cần nhất tâm niệm Phật A Di Đà), nhưng cũng không phải là dễ dàng như trong tưởng tượng (bình thường cũng phải đoạn ác, tu thiện, phát Tâm Bồ Đề dụng công tu hành). Cuộc trợ niệm lần này kéo dài đến 5 giờ 30 phút sáng ngày mùng 2, mới cho người khác thay thế. Lúc hồi hướng, mọi người đều hài lòng vui vẻ, chúc mừng nơi Hải hội Liên trì lại có thêm một vị Bồ Tát bất thoái chuyển, cầu mong Bồ Tát Bành Tô Vân Liên sớm nương nguyện lực, trở lại Ta Bà nguyện độ chúng sinh.

A Di Đà Phật

Tháng 01 năm 2000, Học hội tông Tịnh Độ Tuyết Lê kính ghi

9. Bà Nguyễn Thị Nhật, pháp danh Diệu Minh một lần hộ niệm vãng sanh

Tôi là một Phật tử cư ngụ tại miền Đông Bắc nước Mỹ, tiểu bang Pennsylvania. Tiếng là Phật tử nhưng thật ra tôi chỉ mới chập chững bước vào cửa đạo. Tôi biết rất ít về Phật pháp. Nhưng có lẽ nhờ nhân duyên đặc biệt nào đó từ đời trước nên tôi tin tưởng hết lòng vào Pháp Môn Tịnh Độ. Còn nhớ lần đầu tiên khi mới bắt đầu tìm tòi học hỏi về Phật pháp đã gặp ngay Pháp môn này, tôi mừng còn hơn bắt được vàng, không gì có thể so sánh được với nỗi vui mừng của tôi lúc đó, không gì có thể đánh đổi được giá trị của Pháp Môn Niệm Phật đối với tôi.

Tôi thầm nhủ: “Thì ra mình có thể thoát ly sanh tử ngay trong kiếp này, chứ không phải tu hành cả mấy tỉ tỉ kiếp mới có thể thành Phật như mình đã từng nghe từ trước và e ngại sẽ không làm được”. Kể từ đó, tôi miệt mài tìm hiểu về Pháp Môn Niệm Phật, say mê nghe những bài giảng về pháp môn này và cố gắng thu thập tất cả những điểm trọng yếu trong phương pháp tu tập để biết phải làm thế nào mới được vãng sanh Cực Lạc. Tôi ao ước mình sẽ được vãng sanh và thiết tha mong ước tất cả mọi người đều biết tu theo pháp môn này để tất cả đều được vãng sanh Cực Lạc. Tôi được nghe về phương pháp hộ niệm qua sách vở và băng dĩa, nhưng chưa bao giờ chứng kiến tận mắt. Vì thế, tôi thầm mong mỏi có một dịp nào đó mình sẽ được hộ niệm cho một người nào đó để họ được vãng sanh. Nhưng ở vùng này hình như không ai muốn chúng tôi hộ niệm trong lúc sắp lâm chung mà chỉ mời Ni Sư đến sau khi người thân đã qua đời và chúng tôi chỉ được cơ hội đó theo quí Sư Cô đi tụng niệm mà thôi. Cho đến một hôm.

Ni Sư cho biết là có một bà cụ đang nằm bịnh viện, bịnh trạng cũng khá  trầm trọng và gia đình cho phép chúng tôi đến niệm Phật cho cụ. Chúng tôi mừng khấp khởi, vội vào bịnh viện thăm cụ và cùng với quí Sư Cô niệm Phật cho cụ. Bà cụ lúc mê lúc tỉnh. Lúc mê thì nằm liệt ra không biết gì cả, khuôn mặt nặng nề trì xuống một cách méo mó và một con mắt thì bị xệ hẳn xuống; lúc tỉnh thì không nói được nhưng đau đớn rên rĩ, vung tay thật mạnh lên khỏi đầu như không còn chịu đựng nổi cơn đau. Nhìn cụ tôi thấy lòng xót xa, thương vô cùng nhưng không biết phải làm sao để giúp cụ, chỉ còn cách niệm Phật để cụ bớt đau. Vì mong ước được niệm Phật cho cụ vãng sanh nên tôi lo lắng đủ điều: tôi lo rằng nếu cụ mất trong bịnh viện thì chúng tôi sẽ không được phép niệm Phật cho cụ như ở nhà, và như vậy thì khó mà giúp cụ về Tây Phương Cực Lạc được. Tôi cứ thầm nói với cụ: “Cụ ơi!  Cụ khoan chết nghe, cụ rán đợi cho đến lúc bác sĩ “chê” cho cụ về nhà rồi cụ hẳn chết, để chúng con có thể niệm Phật cho cụ suốt ngày đêm để cầu cho cụ được vãng sanh Cực Lạc”. Vào bịnh viện thăm cụ được vài ngày thì có một ngày cụ tỉnh lại, và cụ đã cố gắng nhép miệng niệm Phật theo chúng tôi. Cụ muốn chúng tôi niệm Phật cho cụ, chúng tôi rất mừng và khuyên cụ cố gắng niệm theo hay nghe chúng tôi niệm cũng được. Vài ngày sau, tức là ngày 10 tháng 11 năm 2008, cụ được xuất viện và về đến nhà vào buổi chiều, chúng tôi định bắt đầu từ ngày hôm sau đến nhà niệm Phật cho cụ mỗi ngày 1-2 tiếng đồng hồ. Nhưng vào khoảng 8 giờ tối hôm ấy, Ni sư gọi chúng tôi  bảo rằng cụ đang hấp hối. Chúng tôi vội vã lên đường.

Lúc chúng tôi bước vào nhà thì cụ đã ra đi được một tiếng đồng hồ. Quí Sư Cô đang ngồi  bên cạnh giường niệm Phật cho cụ. Đôi mắt cụ nhắm nghiền, khuôn mặt cụ từ mắt trở xuống trông vàng nhợt nhạt, màu vàng của một cái thể xác không còn sinh khí. Vầng trán thì màu sậm hơn một tí, nhưng cũng khô khan một màu của người chết. Hai vành môi của cụ thâm đen và hở cách khoảng nhau gần bằng 1 inch. Cổ bên trái của cụ có một vết bầm đen và bầm đỏ lớn khoảng bằng bàn tay. Chúng tôi ngồi xuống sau lưng  quí Sư Cô niệm Phật cho cụ. Chúng tôi hẹn nhau quyết định sẽ thức trắng đêm nay niệm Phật cho cụ suốt tám tiếng đồng hồ cho đến khi nhà quàng đến mới thôi. Chúng tôi thành tâm và tha thiết niệm Phật: cái tâm thành của một tấm lòng vì người khác mà hết lòng hết sức niệm để mong cho người được vãng sanh, mong cho tiếng niệm và tấm chân tình của mình thấu đến tâm từ bi của đức Phật A Di Đà để được sự cảm ứng; cái tha thiết của một tấm lòng mong cho người người được vãng sanh để cho người người được giải thoát, để cho cõi Ta Bà này bớt đau khổ, để cho mọi người sớm thành Bồ Tát, thành Phật rồi trở lại độ tất cả chúng sanh. Tôi thầm nguyện cầu đức Phật A Di Đà đại từ đại bi hiểu thấu lòng thành của chúng tôi mà phóng hào quang đến tiếp dẫn cụ về Cực Lạc.

Đêm đã về khuya, chúng tôi vẫn tiếp tục niệm, con cháu của cụ cũng đã tham gia niệm Phật với chúng tôi tự nãy giờ nên sự trợ niệm của chúng tôi mạnh hơn. Chốc chốc anh trưởng ban lại ghé vào tai cụ nhắc nhở cụ niệm Phật và nhất là khẩn cầu đức Phật A Di Đà đến tiếp dẫn. Chúng tôi cứ kiên trì và thành tâm niệm, niệm hoài niệm mãi không ngừng dù chỉ một giây, khi thật lớn tiếng, khi thì vừa vừa, khi nhanh khi chậm. Sau khoảng hơn hai tiếng đồng hồ thì thấy màu môi của cụ đã bớt thâm đen. Rồi một lúc sau màu vàng nhợt nhạt của phần dưới khuôn mặt từ từ thay đổi giống như màu da của một người sống, còn màu sậm của vầng trán thì từ từ nhạt dần để phù hợp với màu da của phần dưới khuôn mặt cho đến khi cả khuôn mặt cùng có một màu giống như người bình thường. Đôi mắt của cụ nhắm lại thẳng hàng với nhau và khép một cách nhẹ nhàng, thoải mái như đang ngủ chứ không phải bị sưng và bị xệ hẳn xuống một bên như lúc nằm trong bịnh viện. Hai vành môi của cụ nhạt dần màu thâm đen và từ từ khép gần lại, mỗi lúc một chút, thật ít đến độ mình không thấy rõ khép gần lại bao nhiêu, nhưng lại thấy rõ sự thay đổi khép lại mới thật là lạ. Vết bầm đen và đỏ ở cổ cũng đã phai nhạt đi phần nào. Trong vòng hai đến bốn tiếng đồng hồ thì sự thay đổi rất là chậm. Từ bốn đến sáu tiếng đồng hồ thì sự thay đổi nhanh hơn một chút. Khoảng sau bảy tiếng đồng hồ thì làn da trên má của cụ bắt đầu mơn mởn ra và hơi săn lại. Vết bầm ở cổ đã nhạt đi rất nhiều. Còn đôi môi? Đôi môi cụ đã khép kín lại, không những khép kín lại thôi mà còn như đang mỉm cười. Nụ cười thật nhẹ nhàng, thoải mái, hoan hỉ. Nét mặt của cụ thật an lạc. Tôi ngồi mà nhìn ngang cũng thấy cụ đang mỉm cười, đứng dậy để nhìn thẳng vào mặt cụ cũng thấy cụ đang cười mỉm, rõ ràng là một nụ cười mỉm thật nhẹ nhàng, kín đáo, thanh thoát, đẹp không thể tưởng tượng, nụ cười mỉm chỉ đủ cho thấy cụ đang mỉm cười nhưng hai vành môi vẫn khép kín, đủ để thấy hai má lún đồng tiền của cụ. Các con của cụ bảo nhau: “Lạ quá!  Sao bây giờ mẹ đẹp hơn cả lúc còn sống!”.

Chúng tôi vẫn niệm đều đều không ngừng nghỉ từ lúc bắt đầu cho đến bây giờ là đã gần 5 giờ sáng. Tự nhiên, anh trưởng ban của chúng tôi đang niệm đều đều bất ngờ thay đổi tốc độ và cường độ, niệm ào ào như vũ bảo và thật lớn tiếng. Chúng tôi cũng niệm theo như vậy nhưng tôi không hiểu tại sao và thầm thắc mắc: “Không biết ông này ổng thấy cái gì mà tự nhiên ổng làm ào ào như vậy”. Ngay lúc đó anh ấy thúc vào tay tôi bảo: “Giờ linh thiêng, niệm mạnh lên!”. Tôi sực nhớ lại, đúng rồi, từ 3 đến 5 giờ sáng là giờ linh thiêng. Tôi liền dùng hết sức, niệm nhanh và thật lớn tiếng với tất cả tâm thành, cả nhóm cũng làm theo. Tiếng niệm của chúng tôi sang sảng vang vang làm chấn động cả bầu không khí tĩnh mịch, ào ào như thác đổ, và hùng dũng như bất chấp mọi trở ngại. Chúng tôi niệm như vậy có lẽ khoảng hơn một tiếng đồng hồ thì nhà quàng đến. Thăm dò điểm nóng thì thấy hơi nóng xuất ra từ đỉnh đầu của cụ nên chúng tôi càng phấn chấn hơn, niệm liên tục không ngừng nghỉ cho đến giờ phút cuối. Lúc ấy tôi nhìn lại thì thấy vết bầm ở trên cổ của cụ đã nhạt mất đến khoảng 95% so với lúc đầu. Sau khi mọi việc đã xong xuôi, anh trưởng ban mới kể rằng lúc nảy anh đang niệm đều đều và cảm thấy như sắp ngủ gục thì tự nhiên hai tay anh run bần bật và có một sức mạnh nào đó từ trong tâm của anh thúc đẩy anh phải niệm thật hùng dũng và thật lớn tiếng như vậy.

Nhân viên nhà quàng người Mỹ chỉ cử một người đến nên anh trưởng ban của chúng tôi phải phụ một tay khiêng cụ chuyển sang giường khác. Lúc ấy cơ thể của cụ vẫn còn mềm mại đến độ ông nhân viên ấy hỏi anh trưởng ban rằng đã chết bao lâu mà sao cơ thể còn mềm như vậy. Anh này bảo đã 9 tiếng rưỡi đồng hồ, ông ấy ngạc nhiên bảo là chuyện lạ mà ông chưa từng thấy bao giờ.

Vào ngày hỏa táng, tôi cầm một cánh hoa hồng màu tím nhạt đến trước mặt cụ, khấn rằng: “Thưa cụ, con biết chắc rằng cụ đã được vãng sanh, con xin phép được dâng cụ đóa hoa hồng này, xin cụ ban cho một kỳ tích nào đó để cho mọi người thấy mà tăng thêm lòng tin, phát tâm tinh tấn tu theo pháp môn niệm Phật và cầu vãng sanh để mọi người đều được Vãng Sanh Cực Lạc”. Khấn xong tôi nhẹ nhàng để đóa hoa hồng trên ngực của cụ chỗ gần cánh tay phải và sau đó nắp quan tài được đóng lại.

Sau khi hỏa thiêu, con cháu của cụ tìm được một số xương còn lưu lại, ngoài ra còn có đóa hoa hồng của tôi. Hoa vẫn còn giữ được màu sắc xanh của đài hoa, còn màu tím nhạt của cánh hoa thì bây giờ trở thành một màu tím tươi thắm hơn vì đóa hoa được ép nhỏ lại một cách cẩn thận, chỉ bằng một lóng của ngón tay út, dày khoảng 2 ly dưới hình dạng của một búp hồng mới hé mở để chỉ đủ cho thấy màu sắc tươi đẹp của cánh hoa bên trong. Hoa rất xinh, đẹp và cũng cứng như xá lợi. Nhiệt độ của lò thiêu nóng khoảng 3000 độ F, thế mà đóa hoa tươi mềm mại và mong manh của tôi, mặc dù rất dễ dàng bi tan vỡ trước một cơn gió thổi, nhưng lại không bị thiêu rụi thành tro mà còn giữ được hình dáng và màu sắc.

Ôi!  Phật pháp nhiệm mầu không thể nghĩ bàn!  Chỉ có những ai tự mình uống nước thì mới biết được nước nóng hay lạnh. Hào quang của Phật tỏa chiếu khắp mười phương, tâm từ bi của Phật bao trùm cả vũ trụ, chỉ cần chúng ta biết Thức Tỉnh, Tu Tập và Quay Về.

Cực Lạc Tây Phương quê hương còn đó,

Sao dại khờ nở hờ hửng quay lưng?

Di Đà đợi Từ Bi Tâm rộng mở,

Hào quang nương ta mau trở về Nguồn.

Giờ phút cuối xin được Ngài tiếp dẫn,

Dưới chân Ngài nguyện hết dạ tu hành.

Một ngày kia khi ước nguyện đã thành,

Ta Bà khổ ta xin hết lòng Độ.

Bằng tất cả tâm thành, tôi đã kể lại những điều tôi được chứng kiến tận mắt từ đầu đến cuối trong cuộc vãng sanh của cụ bà Nguyễn thị Nhật, pháp danh Diệu Minh, 86 tuổi, tại Telford, Pennsylvania – USA.

A Di Đà Phật!  Con xin thành tâm cúng dường công đức này đến tất cả tam thế thập phương chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hiền, Thánh, Tăng, nguyện cầu hồng ân Tam bảo gia hộ cho tất cả chúng sanh đều biết tu theo pháp môn Tịnh Độ và được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc.

Vài dòng về tiểu sử của cụ bà Nguyễn Thị Nhật, pháp danh Diệu Minh:

Cụ sinh năm 1923 tại Hà Đông Việt Nam, mất ngày 10 tháng 11 năm 2008 tại Telford, tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ, hưởng thọ 86 tuổi

Sinh thời cụ là một người rất hiền lương, làm nghề buôn bán hàng vải. Cụ mất chồng từ năm 52 tuổi, một mình tần tảo nuôi chín đứa con cho đến ngày khôn lớn.

Cụ rất thành tâm và có lòng tin sâu đối với Phật pháp. Lúc còn ở quê nhà, cụ đi chùa lễ bái và dự những chuyến hành hương, nếu chùa chiền nào cần sự giúp đỡ, cụ lúc nào cũng sẵn sàng. Tâm từ thiện và lòng bố thí rất cao: bằng tiền tài, thực phẩm, quần áo... cụ thường xuyên giúp đỡ cô nhi viện của chùa và những người nghèo khổ. Ngay cả sau năm 1975, mặc dù gia đình đã suy sụp nhưng cụ vẫn tìm cách giúp đỡ những người khốn khổ, hoạn nạn hơn mình. Ở Mỹ, những ngày lễ chùa không bao giờ vắng mặt cụ. Và lúc nào đến chùa, dù bận cách mấy, cụ cũng rán tìm cho được Sư Cô để ân cần dặn Sư Cô là lúc nào cụ ra đi thì xin niệm Phật và tụng kinh cho cụ thật nhiều. Ở nhà, cụ niệm Phật theo thời khóa và hết lòng cầu vãng sanh Cực Lạc.

Cụ mất đi làm cho con cháu vô cùng thương tiếc, nhưng cụ đã được vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, để lại một tấm gương sáng cho mọi người và con cháu, khiến họ phát khởi lòng tin sâu đậm vào pháp môn Tịnh Độ mà tinh tấn tu tập để tất cả đều được vãng sanh Cực Lạc.

11/27/08 Phật tử Chủng Hải

10. Chuyện Mèo Bobo Sandy Lin vãng sanh,  Báo Vajra Bodhi Sea tháng 8, 2006, trang 32-34

Con mèo quí Bobo của tôi, tôi mua nó vào năm 1990, lúc đó tôi chưa học Phật pháp. Trước khi mua Bobo, tôi chẳng thích gì mấy con thú vật, nhưng vì tôi rất thương Bobo nên coi nó chẳng khác gì đứa con gái của tôi.

Năm 1993 do một nhân duyên hiếm có, tôi quy y Sư phụ Thượng Nhân, trở thành tín đồ Phật Giáo, và dần dần tôi hiểu được giáo nghĩa của đạo Phật. Tôi bắt đầu biết đến thế nào là “Lục Đạo Luân Hồi” và cũng biết được sự đau khổ của con đường súc sinh, nên tôi cố tìm mọi biện pháp để có thể giúp cho Bobo trong tương lai được thoát khỏi con đường súc sinh.

Trời đã không phụ lòng kẻ thành tâm, vào ngày 1 tháng 5 năm 1993, với sự cố gắng của tôi cuối cùng Bobo đã được quy y “Tam Bảo”, trở thành một Phật tử mèo Pháp danh “Lâm Từ Ba.” Mùa xuân năm 1994, tôi có dịp may cùng với hai Đạo hữu đến bái kiến Thượng Nhân tại Burlingame. Tôi có bạch cùng sư phụ rằng tôi là người xin cho mèo được quy y vào lúc tôi quy y trước đây . Lúc đó sư phụ nói với tôi rằng chỉ cần tôi cố gắng tu hành, tôi có thể độ nó, nó không cần quy y với Ngài.

Sau khi Sư phụ Thượng Nhân nhập Niết Bàn, tôi có thỉnh rất nhiều băng khai thị và băng giảng kinh do Thượng Nhân thuyết giảng. Tôi bắt đầu cho Bobo cùng với tôi nghe kinh, và để Bobo trước bàn thờ Phật, trước pháp tượng của Thượng Nhân, cầu xin sám hối, đồng thời trong nhà thường xuyên mở máy niệm Phật, hy vọng Bobo có thể cố gắng theo máy niệm Phật mà niệm hồng danh Phật. Một hôm có một Đạo hữu đến nhà thăm viếng thấy Bobo, họ cũng cất tiếng chào bằng câu: “A Di Đà Phật!”. Bobo cũng ngẩng đầu lên hồi đáp bằng tiếng “mèo” “A Di Đà Phật!”

Sau khi Bobo được 10 tuổi, cứ khoảng 3 đến 4 tháng tôi lại đưa Bobo đi khám sức khỏe, vì 10 tuổi của mèo tương đương với 56 tuổi của người, sau đó mỗi năm của mèo bằng 4 năm tuổi của người. Khi tuổi Bobo dần dần già đi, tôi thường xuyên nhắc nhở nó cố gắng niệm Phật, lúc lâm chung mới có thể vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới.

Đầu năm 2005, bản báo cáo sức khỏe của Bobo cho biết nó mắc bệnh thận suy mãn tính, tôi luôn luôn cảnh tỉnh Bobo là nhất định phải cố gắng niệm Phật.

Bây giờ hồi tưởng lại, hình như Bobo đã biết trước nó gần đến lúc vãng sanh; vào những lúc nửa đêm khi tôi thức dậy, đều thấy nó nhìn tôi chăm chú, nhất là vài tháng trước khi nó vãng sanh. Trong năm nay (2006) vào buổi sáng ngày 6 tháng Giêng, Bác sĩ Thú y gọi điên thoại đến bảo tôi cấp tốc làm thủ tục đưa Bobo vào bệnh viện thú y, vì tình trạng bệnh thận của Bobo đã nặng hơn trước kia nhiều.

Trên đường đi đến bệnh viện thú y, tôi luôn luôn nhắc nhở Bobo, nếu như nó không muốn lưu lại thế giới Ta Bà nầy, nó có thể an tâm mà ra đi, cũng đừng lưu luyến gì đến tôi, phải cố gắng niệm Phật cầu vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ. Tôi cũng yêu cầu bệnh viện thú y để máy niệm Phật kế bên Bobo; như thế, bất cứ lúc nào Bobo cũng nghe được danh hiệu Phật. Bobo ở trong bệnh viện thú y được hai ngày rưỡi, vào buổi trưa ngày 8, Bác sĩ đột nhiên gọi điện thoại thông báo cho tôi biết, thận của Bobo mất chức năng, không thể bài tiết nước tiểu, bệnh trạng rất nghiêm trọng. Bệnh thận của nó từ mãn tính trở thành cấp tính, khó cứu vãn, Bác sĩ thú y đề nghị cho nó “chết an lạc” giúp nó giảm bớt đau đớn; tôi không chút do dự liền từ chối ngay đề nghị của Bác sĩ, tôi lập tức đến bệnh viện, làm thủ tục cho Bobo xuất viện, đưa Bobo về nhà.

Tôi ở bên cạnh Bobo, luôn nhắc nhở nó phải nên buông xả tất cả, phải cố gắng niệm Phật, cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ. Bobo về đến nhà khoảng 6 giờ chiều ngày 8, và mất vào lúc 1 giờ 42 phút sáng ngày 9, ra đi rất an lạc, hoàn toàn không có những tình trạng xảy ra như Bác sĩ thú y đã cảnh cáo trước đây. Nó rất may mắn, tôi luôn luôn ngồi bên cạnh để trợ niệm cho nó; suốt cuộc đời tôi, đây là lần đầu tiên, tận mắt thấy được sự sống chết vô thường từ đầu đến cuối, trong tâm tôi hoàn toàn không có sự chuẩn bị, không thể dùng những từ ngữ nào có thể hình dung nổi sự tiếc nuối và đau xót trong tâm tôi. Trong đời tôi lúc này là lúc đau khổ nhất và vui mừng nhất: đau khổ nhất là “sanh ly tử biệt”, mừng nhất là thấy Bobo được an lạc vãng sanh. Bobo hỏa táng vào sáng ngày 19 tháng Giêng năm 2006. Ngạc nhiên nhất là sau khi hỏa táng có rất nhiều Xá Lợi lưu lại, điều này cũng cho ta thấy được sự từ bi của Phật Bồ Tát. Không riêng gì con người hay súc sanh, chỉ cần ta có lòng thành tâm niệm Phật, A Di Đà Phật nhất định sẽ đến nghinh tiếp ta.

Phật tử Mèo Lâm Từ Ba, kiếp nầy may mắn biết bao, tuy là súc sanh nhưng được Sư phụ, một vị cao tăng đại đức khai thị và giáo hóa, rốt cuộc làm cho nó phát đại bồ đề tâm và tinh tấn niệm Phật.

Do câu chuyện này mà tôi cũng đươc học hỏi thêm: chúng ta phải biết trân quý cuộc đời ngắn ngủi của chúng ta, và lúc nào cũng đừng quên tinh tấn dụng công tu hành. Nguyện rằng câu chuyện này sẽ giúp cho tất cả mọi người cùng tinh tấn tu hành.

Có một câu chuyện khác về mèo biết niệm Phật, nhưng làm sao để có bằng cớ là câu chuyện đó có thật hay không? Sau khi mèo mất, được chôn ở vườn sau của chùa, mặc dầu gần đó không ao nước gì cả, nhưng trên mộ nhỏ của mèo lại mọc lên một đóa hoa sen. Điều này cho thấy súc sanh cũng có Phật tánh.

Câu chuyện này được tường thuật đầy đủ trên Nguyệt San Vajra Bodhi   Sea - số 159, tháng  8 năm 1983, trang 10

 

NHỮNG CHUYỆN NIỆM PHẬT CẢM ỨNG TIÊU TAI GIẢI NẠN

Người tu Pháp Môn Tịnh Độ, sau khi xả bỏ báo thân ở cõi Ta Bà, được vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, hưởng sự giải thoát an vui. Tuy nhiên, không phải đợi đến khi vãng sanh, mà ngay khi đang tu, đang ở cõi trần này, người niệm Phật được nhiều lợi ích như: thân tâm an lạc, tiêu trừ phiền não, nghiệp chướng, tội lỗi, bệnh tật, thoát khỏi nhiều sự nguy hiểm. Dưới đây là những mẩu chuyện chứng minh, những mẩu chuyện này trích dẫn trong quyển sách: “Những Chuyện Niệm Phật Cảm Ứng Mắt Thấy Tai Nghe” của cư sĩ Lâm Khán Thị.

1. Phật vốn là vị y vương có thể chữa trị dứt các chứng bệnh

Mẹ của liên hữu Lý Thủy Cẩm là một vị thọ Bồ Tát giới ở thư viện Từ Quang vào ngày 10 tháng 6 năm Dân Quốc thứ 49, mọi người đều gọi bà là lão Bồ Tát. Bốn năm trước lúc bà 80 tuổi, ở dưới vú bên phải bỗng nhiên nổi lên một cục thịt to bằng cái chén trung. Theo bác sĩ chẩn đoán là ung thư gan, đã rất nguy kịch, hết phương cứu chữa, chẳng những dùng thuốc không hiệu quả, mổ lại càng không được, chỉ có để bà muốn ăn gì thì cố mua cho bà ăn, thế là tốt rồi! Tây y, Đông y đều nói như thế, không kê thuốc cũng không chích thuốc, châm cứu gì cả! Cứ như thế nằm trên giường bệnh đau đớn triền miên suốt 6 tháng, nhờ vào đứa con trai tên là Nghĩa, là một cư sĩ và người con dâu chăm sóc phục dịch kề bên; con gái là Thủy Cẩm cũng về nhà chuẩn bị hậu sự (đám tang). Nhưng trong 6 tháng, lão Bồ Tát mỗi ngày hai thời sáng tối, bất luận thế nào đều nhất định đứng dậy lạy Phật, dầu là đang trong cơn bệnh khổ, nằm trên giường bệnh, miệng cũng không rời Thánh hiệu A Di Đà Phật. Vào khoảng đầu tuần tháng Tám (từ mồng 1 đến mồng 10) bệnh trạng đã rất trầm trọng, thân thể không thể cử động được, miệng không nói được! Một đêm kia, lúc bệnh trạng đang rất nguy cấp bỗng nhiên thấy bà nói lẩm bẩm: “A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát … các ngài viết chi nhiều chữ như thế, con một chữ cũng không biết! Các ngài sao không nói thẳng với con có tốt hơn không?”. Ngưng lại một chút, lão Bồ Tát lại nói tiếp: “Cảm ơn lòng từ bi của Phật rất nhiều, các ngài 10 giờ tối mai sẽ đến giải phẫu cho con cắt bỏ đi cục thịt ở dưới ngực bên phải này, A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát, các ngài thật là từ bi quá!”. Những lời này đều là vợ chồng A Nghĩa và vị liên hữu Thủy Cẩm tự tai nghe được, nhưng lúc đó lại cho là người già trước lúc lâm chung, tinh thần rối loạn nói lung tung vậy thôi! Nhưng đến sáng lão Bồ Tát liền kêu con, cháu đi chuẩn bị hương hoa quả phẩm, đặt một cái bàn thờ trong phòng để tiếp đón Phật Bồ Tát đến trị bệnh. Thật là không thể nghĩ bàn, vừa đợi đến 10 giờ, liền nghe tiếng khua của dao kéo… Đột nhiên nghe một tiếng “sựt”, cục thịt ở dưới ngực bên phải đó bỗng bị cắt rời ra, máu chảy ra đen như than, từng giọt từng giọt to bằng ngón tay cái, chảy ra rất nhiều. Từ đêm đó trở đi, sức khỏe của bà mạnh khỏe dần dần, miệng của vết thương nơi cắt cục thịt, nhờ con dâu hằng ngày dùng nước trà rửa, rửa không đến một tháng, không cần thuốc gì mà khỏi bệnh.

Hiện nay lão Bồ Tát gặp người nào cũng liền khuyên niệm A Di Đà Phật; xâu chuỗi từ nào đến giờ chưa từng rời tay. Năm nay dù đã tám mươi bốn tuổi nhưng sức khỏe còn mạnh hơn người thường. Giữa Đài Trung và Minh Tú thường đi đi về về tinh thần sung mãn khác thường. Phật vốn là đại Y Vương, ngoại khoa đại phẫu thuật của Phật, Bồ Tát là trị muôn người lành muôn người, nhưng điều quan trọng là chỉ hỏi nơi bạn là có đúng “nhất tâm niệm Phật” hay không? Độc giả nếu không tin, lão Bồ Tát đến nay vẫn còn mạnh khỏe, nếu không ngại xin mời đích thân đến thăm một lần. Bà cụ già rồi, đã không vì danh cũng không mưu lợi, cần gì phải dựng ra câu chuyện này để lừa gạt người?

2. Thuốc A Gìa Đà trị được vạn bệnh

Nhân duyên hoằng pháp của Liên xã Đài Trung đến miền Đông, khởi đầu từ đại hội diễn giảng của liên xã Đài Trung nhân dịp tân xuân năm Dân Quốc thứ 43. Trong thính chúng có vị nữ sĩ Hồng Lâm Trản liên tục năm ngày nghe giảng. Từ Đài Đông xa xôi đến đây, thời gian ở Đài Trung, bà ta ở cửa hàng bách hóa Vĩnh Phong, được sự chiêu đãi chân thành của Hoàng Hỏa Triều cư sĩ Ký phu nhân Nguyễn Miến. Lúc bấy giờ nữ sĩ Lâm Trản rất xanh xao, vàng vọt, trên cổ đeo một sợi dải băng, chốc chốc lại ho, bà ta hỏi Hoàng phu nhân: Ở Đài Trung có bác sĩ giỏi không, dẫn bà ta đi xem bệnh. Ở Đài Đông bà đã từng đi rọi X quang nghe nói là phổi bên trái có ba lỗ. Mấy tháng nay uống cả ký Cao ly sâm chính hiệu và chích hơn một trăm mũi thuốc, đều không thấy hiệu quả!

Lúc đó là khoảng 5 giờ chiều, nhà họ Hoàng là một gia đình Phật tử thuần thành, hai thời khóa sớm tối từ nào tới giờ chưa từng gián đoạn, bà Hoàng phu nhân Nguyễn Miến mời bà Trản đến bàn thờ lạy Phật, còn lấy một xâu chuỗi, chỉ cho bà ta phương pháp niệm Phật và nói rõ về đạo lý trị hết được muôn bệnh của môn thuốc A Già Đà này cho bà ta nghe. Khóa tụng xong còn cầu nguyện xin một ly nước chú đại bi cho bà ta uống. Sau buổi cơm tối bà Miến liền nói: “Chị Trản à, chị thật là có phước, bắt đầu từ tối nay, Liên xã của chúng tôi liên tiếp giảng pháp năm ngày”. Tối đó liền dẫn bà ta đi nghe giảng. Thật là không thể nghĩ bàn, đêm đó bà Trản suốt một giờ không ho một tiếng nào, khi ngủ, ngủ thẳng đến sáng. Bà Trản cảm thấy Phật pháp thật là lý thú, ở nhà họ Hoàng ban ngày chí tâm niệm Phật, đến tối đi nghe giảng, liên tục năm ngày, một phần khái luợc về Phật pháp sơ cơ đã hiểu được đôi chút, tinh thần đã có chỗ nương tựa, sức khỏe cũng tốt rất nhiều. Bà than thở: “Người ở Đài Trung rất là có phước, người Đài Đông chúng tôi chưa từng được nghe qua chánh pháp sâu sắc như thế này!”. Bà Miến đáp lại: “Chị hiện nay đã hiểu rõ được cái hay của việc tin Phật, niệm Phật, chị nên phát Bồ Đề Tâm, thỉnh nhân viên hoằng pháp của Liên Xã đến nơi của chị hoằng dương Phật Pháp, khiến những chúng sanh có duyên cũng được lợi ích, thì công đức của chị thật là vô lượng!”. Bà Trản nghe xong, vui mừng nhận lời, nói: “Được! Vậy thì nhờ chị thỉnh dùm. Tiền xe hay tiền máy bay đi lại, tôi chịu hết, nhưng chị cũng phải cùng đi tới chỗ tôi chơi mới được”.

Giao thông từ 14 năm về trước không tiện lợi như ngày nay, đi Đài Đông chỉ một ngày là đến rồi. Lúc bấy giờ phải mất hai ngày, phải ngủ một đêm ở Cao Hùng. Cuối cùng một đoàn ba nguời: bà Trản, bà Miến cùng với Pháp Viên. Khi ngủ lại phòng trọ ở Cao Hùng, thì xảy ra việc linh cảm Phật, Bồ Tát phò hộ. Nguyên là trên chân của Pháp Viên có cái mụt nhọt, đã từng trị liệu hơn một tháng, bị lầy rữa ra hai tấc, chung quanh không còn cảm giác đau nữa. Lúc bấy giờ vì nhiệt tình, quên đi cái mụt nhọt trên chân, nhưng đến phòng trọ ở Cao Hùng, phát đau đến mức không chịu nổi, bà chủ phòng trọ nhìn thấy chân của khách đau ghê gớm như thế, liền giới thiệu nói, ở vùng này có một loại thuốc mỡ cỏ xanh tinh luyện rất hay, có thể trị được bệnh này, liền nhờ người mua hai hoàn. Vừa thoa vào, thật là loại thuốc có công hiệu đặc biệt: hết đau, nuôi thịt, sanh da, ba phần đều tốt, sáng hôm sau khỏi được phân nửa, ba ngày sau khỏi hẳn. Đây đều là sự linh cảm của Phật, Bồ Tát từ bi đặc biệt gia hộ, thật là thuốc đến bệnh tiêu, nếu không thì đi không được rồi.

3. Nước đại bi khiến cho thai đã chết sống lại

Pháp Viên giảng năm ngày tại chùa Hải Sơn ở Đài Đông. Ngày viên mãn, những người nghe và người giảng sắp sửa chia tay, cái lúc lưu luyến không rời, bỗng nhiên có một bà lão khoảng hơn sáu mươi tuổi đến, đưa ra một câu hỏi: “Những điều của cô giảng đều là những đạo lý giải thoát sanh tử luân hồi, cho đến cải ác hướng thiện, thay đổi tâm tánh. Nhưng bây giờ yêu cầu tiêu trừ bệnh hoạn, giải quyết những đau khổ, thì lại phải cầu pháp như thế nào? Cô có thể từ bi chỉ bày cho được không?”.

Pháp Viên lúc đó nhìn xem bà lão này trên cổ có một cái nhọt lớn cổ áo cài lại không được, hở ra khoảng năm sáu tấc, Pháp Viên suy nghĩ người này ắt là muốn cầu phương pháp tiêu trừ bệnh nhọt của bà ta, lúc đó thiệt là tiến thối lưỡng nan, nếu như bảo bà ta cầu Phật, Bồ Tát gia bị, cái nhọt lớn trên cổ sẽ hết, chưa chắc nắm chắc được không? Nếu như không bảo bà ta cầu, nhưng mà đã phô trương Phật pháp vô biên năm ngày rồi, có cảm ứng không thể nghĩ bàn, chung quanh lại có đông người đang chờ nghe, Pháp Viên nhứt thời phải dùng phương tiện khéo léo đáp rằng: “Nếu như yêu cầu tự mình hoặc là người khác tiêu tai thoát nạn, hết bệnh khổ v.v… nhất định phải sớm tối tụng niệm một quyển kinh A Di Đà, bảy biến chú vãng sanh, vài trăm câu Thánh hiệu A Di Đà Phật, hoặc vài ngàn câu, vài muôn câu càng tốt; nếu như người không biết tụng kinh A Di Đà, thì chỉ niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật cũng được, nhưng nhứt định phải tụng bài Nguyện sanh Tây Phương Tịnh Độ trung… sau đó có yêu cầu điều gì thì lại dùng tâm chí thành, niệm Thánh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát và gia trì nước chú Đại bi cho uống, nếu thọ mạng ở đời chưa dứt, thì có thể giảm nhẹ đau khổ của bệnh tật; còn nếu thọ mạng ở đời sắp hết, thì nhờ sức công đức của khóa tụng niệm Phật được vãng sanh Tây Phương, như thế thì được mãi mãi thoát ly bệnh khổ và tử khổ. Đây là phương pháp rốt ráo vậy”.

Ngày tháng như thoi đưa, thời gian như tên bay, thoáng một cái đã một năm trôi qua, Lâm Trản ở Đài Đông lại đến Liên Xã, lần này sắc mặt tươi rói vui vẻ, so với năm ngoái như là hai người, bệnh chứng của bà ta đã dứt hẳn không còn thấy tăm hơi gì nữa, trọng lượng thân thể cũng tăng hơn mười kí, y phục toàn là đồ mới may, đồ cũ không còn cái nào mặc vừa nữa, bà ta nói với Pháp Viên rằng: “Thưa bậc nhân sĩ của Đài Đông, mọi người đều yêu cầu tôi đến mời bà đến Đài Đông giảng diễn Phật pháp lần nữa, không những tôi niệm Phật được cảm ứng, mà còn bà Phổ Ái Cô, trên cổ có mụt nhọt to, bà dạy bà ta phương pháp niệm Phật và thời khóa tụng niệm, về sau lại xin nước Đại Bi chú uống, bà ta ngày ngày đúng như pháp mà làm, cái mụt nhọt to của bà ta đã hết hẳn, cổ áo cũng đã cài lại được rồi, ai thấy cũng đều khen là “kỳ diệu”.

Bà Trản lại nói tiếp: “Không những mụt nhọt to của Phổ Ái Cô tiêu trừ, được cảm ứng, cái việc càng khiến cho người khó tin hơn nữa chính là việc con dâu của Phổ Ái Cô, cô ta ở trên núi vùng phụ cận của Đài Đông, đã có mang mười tháng, người phụ nữ này rất là siêng năng làm lụng, tự nghĩ sắp tới ngày sanh nở rồi, trong ngoài cần phải dọn dẹp cho sạch sẽ, cả phân trong chuồng heo cũng gánh hết mấy gánh, không ngờ từ hôm đó thai nhi ở trong bụng không còn động đậy nữa, hỏi thăm những người lớn ở trên núi, người ta nói là lúc quét dọn làm sạch chuồng heo động thổ, động đến thai khí, đến ngày thứ ba vẫn không động đậy gì, người phụ nữ mang thai này, sáng sớm đã xuống núi đến tìm mẹ chồng cô ta, Phổ Ái Cô lại không có ở nhà, cô ta tự đi đến khoa phụ sản để khám, bác sĩ phụ sản nói: “Thai nhi ở trong bụng của cô chết đã ba ngày rồi, tự mình sanh không phải là việc dễ, ắt phải dùng đến khí cụ cắt thai nhi ra từng miếng, từng miếng lấy ra, hoặc là phải phẫu thuật mới đem thai nhi chết ra được. Ngoài ra không còn cách nào khác”.

Người phụ nữ mang thai đắn đo suy nghĩ, việc phẫu thuật lấy thai nhi ra không phải là việc nhỏ, không có mẹ chồng hay chồng cho phép, cô không dám chủ động, liền trở về trên núi, lại trải qua bốn ngày nữa, thai nhi trong bụng vẫn không có động đậy gì, cô ta lại xuống núi lần nữa tìm mẹ chồng: Phổ Ái Cô, nói rõ việc thai nhi bất động đã bảy ngày rồi, Phổ Ái Cô liền dẫn con dâu đến một bác sĩ phụ khoa khác khám. Vị bác sĩ này cũng chẩn đoán y như vị bác sĩ trước, nói thai đã chết trong bụng bảy ngày rồi, không cắt thai nhi ra từng miếng từng miếng lấy ra, hoặc phẫu thuật thì không được! Phổ Ái Cô dẫn con dâu đi về, quỳ trước bàn Phật, thắp hương đốt đèn dạy con dâu xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, bà ta bắt đầu tụng kinh. Sau đó niệm một ly nước chú đại bi, bảo con dâu uống và phải chí tâm cầu xin Phật, Bồ Tát phò hộ, hy vọng tử thai trong bụng con dâu sanh ra được cách tự nhiên, không phải đau đớn, phiền phức vì mổ xẻ, lúc đó mặt trời cũng đã lặn rồi, Phổ Ái Cô liền giữ con dâu ở lại ngủ với bà không phải về núi. Đang ngủ nửa đêm con dâu bà kêu mẹ chồng nói: “Thai nhi trong bụng động đậy lại rồi”. Mẹ chồng cô ta đáp lại cô ta rằng: “Chắc là Phật, Bồ Tát phò hộ, tử thai sắp sanh ra đấy”. Đến sáng, thai nhi của người phụ nữ mang thai này đã động đậy bình thường như trước, sức khỏe cũng khỏe khoắn nhiều, không còn chút gì khó chịu nữa, liền lại trở về trên núi, lại trải qua một tuần lễ, người phụ nữ mang thai này sanh ra một bé trai rất là thuận lợi, mẹ con đều bình an vô sự. Hồng Lâm Trản đến Liên Xã nói ra việc này, thật là một sự linh cảm kỳ dị, rất nhiều người nghe, chắt lưỡi khen là kỳ lạ mãi không thôi.

4. Té xuống kênh rạch, niệm Phật được cứu

Chuyện trên là câu chuyện thật của bà vợ cư sĩ Trần Phi Lâm niệm Phật được cảm ứng, bây giờ lại nói một chuyện nữa: chuyện cảm ứng của cháu gái Trần Phi Lâm. Cô cháu họ này mới đầu cũng không tin Phật và cực lực phản đối lòng thành tin Phật của ông chú. Nhưng Trần cư sĩ rất từ bi, hễ gặp mặt là khuyên cô ta niệm Phật, giảng cho cô ta nghe về đời người ở thế gian khổ nhiều, vui ít, tai nạn nhiều, nghịch cảnh nhiều, phiền não nhiều, muốn lìa khổ được vui cần phải niệm A Di Đà Phật, lúc nguy cấp, sợ hãi càng phải cố sức niệm A Di Đà Phật. Nhưng cô cháu của ông cũng chỉ như đàn khảy tai trâu, không chịu nghe theo!

Mười mấy năm về trước, cháu gái của Trần Phi Lâm muốn dời nhà đến Hoa Liên kinh doanh buôn bán, cư sĩ Phi Lâm liền thỉnh tượng Tây phương Tam Thánh, lộng kiếng, tự mình đem đến bến xe Đài Đông cho cô ta. Lúc chia tay ông còn ân cần dặn đi dặn lại cô cháu phải chí tâm thành ý niệm A Di Đà Phật. Cô cháu họ Trần sau khi dời đến ở Hoa Liên kinh doanh buôn bán rất tốt, có một hôm do việc làm ăn cô đi vào làng, đến nửa đêm mới cỡi xe đạp về nhà, đi qua một con kênh bên đường lúc không để ý cả người lẫn xe đồng rơi xuống con kênh. Con kênh này chỉ sâu hơn người một chút mà thôi, tự mình rất dễ leo lên. Lúc đó cô cháu họ Trần phủi bụi đất trên mình, rồi xem lại tứ chi, không có bị thương chút nào hết, liền lo kéo chiếc xe đạp lên, lúc muốn kéo lên đó, lại rất kỳ quái, phía sau dường như có người kéo xe trở xuống. Cứ thế, hễ muốn kéo lên lại bị kéo trở xuống mấy lần. Lúc đó cô cháu họ Trần sợ đến nỗi lông tóc dựng đứng, sợ đến nỗi hồn bất phụ thể. Vào lúc tiến thối lưỡng nan, không có cách nào, liền nhớ đến việc ông chú ở Đài Đông thường dạy cô niệm A Di Đà Phật, khi gặp lúc tai nạn nguy cấp càng phải to tiếng niệm Phật. Cô cháu họ Trần liền chắp hai tay lại, cố sức to tiếng niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Thành tâm thành ý niệm được khoảng nửa tiếng đồng hồ thân tâm cảm thấy an nhiên, tâm sợ hãi đã không còn nữa. Bỗng nhiên trên đường có một chiếc xe ba bánh chạy đến, người đánh xe đến trước mặt cô cháu họ Trần, liền thắng xe lại, không nói một tiếng nào, liền kéo chiếc xe đạp lên, lại mời cô cháu họ Trần lên xe ba bánh, đưa xe đạp đặt lên trên xe ba bánh, người đánh xe liền chở cả cô cháu họ Trần lẫn xe đạp về đến cổng nhà của cô.

Cô cháu họ Trần trong lòng rất cảm tạ người đánh xe trẻ tuổi mạnh khỏe nầy, sau khi xuống xe, muốn lấy tiền nhiều một chút cho anh ta, nhưng lúc quay đầu lại thì không biết đã đi đâu mất rồi! Lúc đó đã là nửa đêm, cũng không biết tìm ở đâu. Qua ngày hôm sau, sáng sớm cô vẫn cứ nhớ cái ân của người đánh xe ba bánh, muốn đưa tiền cho anh ta, liền đến bãi xe ba bánh tìm trong mấy người phu xe, hỏi tới hỏi lui cả ngày, mọi người đều nói tối hôm qua không có ai chở cả người lẫn xe ở đó. Sau đó cô liền nghĩ lại sự cảm ứng lúc đang nguy cấp cố sức niệm A Di Đà Phật mới có sự hóa hiện xe ba bánh đến cứu mình. Cô ta lại nhớ đến tượng Phật của ông chú đưa cho ở bến xe Đài Đông, liền về nhà lục tìm xem, chỉ thấy tướng hảo trang nghiêm của Phật A Di Đà rất giống với phước tướng của anh phu xe ba bánh. Lập tức treo lên, rất là cung kính mua về hương hoa quả phẩm, đèn cầy để cúng dường lễ bái. Lại nhớ đến tinh thần từ bi của ông chú, đích thật là ân sâu như biển, liền từ Hoa Liên đi về Đài Đông đến chú Trần Phi Lâm nói ra việc cảm ứng này. Câu chuyện trên đây là do chính miệng Trần cư sĩ nói với tôi.

5. Một tiếng A Di Đà, khiến xe được ngừng lại

Vị lão sư tỷ Thường Nga này còn có một người con gái lớn tên là Nhung, mọi người đều gọi cô là A Nhung, năm nay 43 tuổi, chồng cô là kỹ sư xây dựng, nhà ở Đài Đông. Cô A Nhung này từ lúc trẻ đã bị chứng bao tử thòng, thầy thuốc Đông Tây trị hàng chục năm; những phương pháp bí mật hay những loại thuốc đặc trị đều không hiệu quả, bệnh mãi đã đến gầy như que củi. Năm năm trước sư tỷ Thường Nga đến Đài Đông thăm, nhìn thấy con gái bị bệnh bao tử nặng như thế, liền nhớ đến thuốc A già đà trị được muôn bệnh, liền khuyên con gái chí tâm niệm Phật và kể rất nhiều truyện cảm ứng không thể nghĩ bàn nhờ niệm “A Di Đà Phật”. Dạy con gái phải gắng sức niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật làm cách trị liệu có hiệu quả nhất về mặt tinh thần. Sư tỷ ở Đài Đông mười mấy ngày thì nghe nói gần đó có một cơ sở liên xã Phật Giáo, liền dẫn con gái đi đến đó lạy Phật, niệm Phật và quy y Tam Bảo. Từ đó về sau, con gái của bà đã là đệ tử Tam Bảo, làm một vị tín đồ thuần thành của Phật Giáo, hai thời khóa sớm tối, dù bận gì cũng đều tham gia đầy đủ. Không biết lúc nào, bệnh bao tử đau khổ nhiều năm nay, rốt cuộc tiêu mất hết, sức khỏe hồi phục. Chỉ có trong một năm, do sự dẫn dắt của sư phụ và các liên hữu, cô ta chẳng những biết tụng kinh, xướng tán, tụng niệm hai thời sớm tối ở liên xã, ngay cả đến các pháp khí cũng đều học biết rành rẽ. Tục ngữ nói: “Phật pháp không phải việc khó, chỉ sợ tâm không chuyên” thật là rất đúng!

Sau khi A Nhung mạnh khỏe trở lại, gia đình ngày càng hưng long, mua thức ăn, làm việc gì thì dùng xe đạp đi, hai năm gần đây, xe đạp bị chê và bị đào thải, liền mua một chiếc xe gắn máy màu đỏ 50 phân khối, muốn đi đâu thì đi, vừa tiện vừa khỏe, suốt ngày rất vui vẻ, vừa làm Phật sự, vừa giúp nghiệp vụ cho chồng, nhất là nhiệm vụ người đàn bà trong gia đình, trong ngoài đều tươm tất.

Vào tháng 3 năm ngoái, một hôm hơn 8 giờ sáng A Nhung như thường lệ chạy xe gắn máy muốn đến chợ mua đồ, đi được nửa đường bỗng nhiên máy xe xảy ra sự cố, thắng chân thắng tay đều hư, không thắng lại được, liền tức thời xe như con ngựa hoang, xông xáo bừa bãi, đại khái mỗi con đường ở Đài Đông đều chạy qua như giông như gió, nguy hiểm suýt đụng chết một cô gái vùng núi, may mà cô gái né rất nhanh, chưa bị tai nạn. Lúc nguy hiểm ngàn cân treo sợi tóc này, A Nhung trong lòng sợ đến nỗi mơ mơ màng màng, cũng không có cách gì, cứ chạy mãi. Lúc sắp xông vào một cửa hàng, trong khoảnh khắc sắp đụng vào cây cột to trước cửa, thì trong miệng A Nhung bỗng nhiên kêu to một tiếng “A Di Đà Phật”. Nói ra cũng thật kỳ lạ, chiếc xe gắn máy đó lập tức thụt lùi lại, lùi đến chính giữa đường lộ, chiếc xe tự động dừng lại, A Nhung vội vã xuống xe, sợ đến nỗi mặt không còn chút máu, tim đánh thình thịch, trong miệng thì vẫn cứ niệm “A Di Đà Phật” không ngớt.

Lúc đó rất nhiều người vây lại xem, người và xe không việc gì, mọi người đều chúc phúc cho cô ta, nói là: đại nạn mà không chết, nhất định là có phước dày. A Nhung sau khi trải qua lần tiêu tai khỏi nạn này, liền nhớ lại mẹ có tâm từ bi khuyên cô niệm Phật, trước thì hết chứng bệnh quái ác, tiếp theo lại được giải thoát lần tai hoạ ghê gớm này, cho nên vô cùng cảm tạ, bèn nhờ người đến Đài Trung mời mẹ của cô đến ở chơi vài tháng.

Chuyện trên đây là sư tỷ Thường Nga sau khi từ Đài Đông về, đến cuộc họp liên nghị, chính miệng nói với tôi một sự thật niệm Phật cảm ứng của con gái bà.

6. Xe lật, được bình an vô s

Lại nói tiếp có một vị lão sư tỷ cũng ở Vạn Đẩu Lục tên là Hồng Liên Di, bà ta có một đứa cháu gái tên là Hoàng Mẫn, năm nay mười tám tuổi. Cô ta từ nhỏ chịu sự hun đúc của bà ngoại, trong thức thứ tám đã trồng được hạt giống Phật. Sau khi tốt nghiệp tiểu học ở trường Quốc Dân năm mười ba tuổi, lúc muốn thi vào trung học, tự cô ta đã cầu Phật Bồ Tát gia hộ có thể thi đậu vào trường trung học Thảo Đồn, cô ta đã phát nguyện trọn đời niệm A Di Đà Phật và ăn ngọ, do vì trường trung học Thảo Đồn gần nhà, cho nên cô ta mong muốn thi đậu vào trường trung học Thảo Đồn. Thật là Phật, Bồ Tát không phụ người có tâm, cô Hoàng Mẫn này cuối cùng đã đạt được hy vọng của cô ta. Sau ba năm cô tốt nghiệp, năm mười sáu tuổi cô đến làm việc ở một y viện tổng hợp tại Đài Trung, làm y tá. Cô ta làm việc rất cẩn thận, cố gắng học tập, đối với người bệnh rất thân thiết, mặc dù bận rộn với công việc suốt cả ngày, hai thời khóa sớm tối cũng niệm Phật không gián đoạn, do vì cô mang theo tượng Phật nhỏ có lộng khung kiếng theo mình, hai thời khóa sớm tối thỉnh ra lễ bái, niệm Phật xong rồi cất vào lại.

Vào mùa xuân năm nay, bác sĩ trưởng phái cô đưa người bệnh đến Thảo Đồn, ngồi một chiếc xe taxi trở về, đến nửa đường vùng phụ cận của Thảo Hồ, chiếc xe này bỗng nhiên bị hư máy, lộn lật nhào, lật vào trong đám lau bên đường, bốn bánh xe chổng lên trời. Lúc đó có một vị sư tỷ tên Ngân Tiếu đứng ngay cổng nhà nhìn rất rõ ràng, buột miệng kêu lên: “A Di Đà Phật! Tội nghiệp người trong xe tiêu hết rồi!”. Trong khoảnh khắc đó, lại thấy cửa xe mở ra, một cô gái trẻ, tay dắt một ông cụ chun ra, tài xế cũng chun ra, ba người chẳng những bình an vô sự, mà ngay cả da cũng không có trầy sướt chút nào, nhưng kiếng của xe thì vỡ nát hết. Sư tỷ Ngân Tiếu nói cô nghĩ không ra ba người này sao mà may mắn như thế, không có bị thương một chút nào hết, họ đổi xe khác đi về Đài Trung. Ngày hôm sau được nghỉ cô Hoàng liền về nhà nói với bà ngoại rằng: “Bà ngoại! Đức Phật A Di Đà thật là linh cảm, đã phò hộ cho con”. Liền đem chuyện kinh sợ xe lật vào đám lau hôm qua nói cho bà ngoại nghe, cô ta còn nói: “Con mỗi lần lên xe, trong tâm đều nhứt tâm niệm A Di Đà Phật, cho nên hôm qua ngồi trong xe cũng đang niệm Phật, sau khi xe lật gọng, con đỡ ông bác già ngồi kế bên dẫn ra, cùng về Đài Trung, đến Đài Trung xuống xe con liền mua trái cây về cúng dường lễ bái Phật A Di Đà, cảm tạ ân đức cứu mạng con để bày tỏ chút lòng thành kính”.

Chuyện trên đây là vào mùng 1 tháng 5 tôi đến cơ sở hoằng pháp ở Vụ Phong giảng kinh, lão sư tỷ Hồng Liên Di nói với tôi, lúc đó sư tỷ Ngân Tiếu cũng có ở đó.

7. Đến lúc việc xảy ra mới ôm chân Phật cũng có hiệu quả

Cư sĩ Trần Phi Lâm công chức hãng đường Đài Đông là một vị Phật tử thuần thành, nhưng vợ của ông ta lúc đầu chống đối kịch liệt ông chồng tin Phật, niệm Phật, tuy nhiên Trần cư sĩ cũng không thối tâm chút nào, vẫn cứ tinh tấn, và một mặt với tâm từ bi cố sức khuyên vợ rằng: “Chúng ta có miệng phải nên niệm Phật A Di Đà tức là cái vốn cho sau này được vãng sanh Tây Phương, nhưng trước khi chưa được sanh Tây Phương, cũng có thể gặp dữ hóa lành, tiêu tai giải nạn, đối với bản thân có sự lợi ích không gì bằng”. Bà Trần được ông chồng hàng ngày cảm hóa như thế, lại cứ như đàn khảy tai trâu, hoàn toàn chẳng nghe. Tuy thế bà Trần này lại là một bà chủ giỏi khéo coi sóc việc nhà vừa cần cù vừa tiết kiệm, có lúc còn lên núi kiếm củi, gánh một gánh củi lớn xuống núi, rồi ngồi một chiếc xe lửa nhỏ cuối cùng về nhà. Nhưng có một lần bà Trần gánh củi xuống núi, không ngờ mặt trời đã lặn, chiếc xe cuối cùng đã chạy rồi, chiếc xe lửa nhỏ trên núi là xe kéo mía, không phải là xe chuyên chở khách, cho nên sau khi chuyến xe cuối cùng chạy đi rồi, thì ai tự về nhà nấy, không có ai ở lại trạm xe cả. Trời đã tối, bà Trần trên vai gánh một gánh củi lớn, tự mình khích lệ sức mạnh, quyết định đi bộ về nhà, một thân một mình thuận theo con đường sắt, đi giữa đường ray tiến thẳng về phía trước. Lúc đi được nửa đường đột nhiên thấy giữa đường ray phía trước một bóng đen của một đại hán đang đứng, lúc ấy bà Trần càng đi thì càng gần, nhìn càng rõ, toàn thân lông tóc dựng đứng, sợ đến nỗi quăng gánh củi trên vai do vì bà đã hết sức gánh tiếp. Bà Trần đang lúc đêm đen có một mình nhìn thấy bóng đen kia, trong khoảnh khắc đó, bỗng nhiên nhớ lại việc mấy năm trời được chồng huân tập cho một câu chú vương từ nào không chịu đón nhận, nhứt là không hề muốn niệm, đang lúc vô cùng nguy cấp này, việc đến mới ôm chân Phật, bà đứng ngay nơi đó, không kềm được chắp tay lại, to tiếng niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Niệm được vài phút, cái bóng đen của đại hán đó, dường như đã có cái dạng bước sang một bên rồi và dần dần mất tiêu luôn. Bà Trần nhìn thấy thật rõ ràng, liền vội vã đi nhanh lên, cả đến gánh củi cũng không màng đến.

Trên đường chạy về nhà của bà Trần, trong miệng vẫn không ngớt niệm “Nam mô A Di Đà Phật”. Nhưng đi được một hồi bỗng nhiên đôi chân không thể đi được nữa, lúc đó trong bụng bà Trần cảm thấy rất lỳ lạ. Tại sao mà đôi chân bỗng nhiên không đi được nữa, liền cố gắng tự phấn chấn tinh thần lên, khom lưng xuống tay mò xuống đất. Bà Trần dùng tay mò dưới đất mới hay lại qua một lần đại nạn nữa, hóa ra chỉ cần tiếp tục đi về phía trước một bước nữa thì là rớt xuống một khe suối lớn rồi! Lắng tai nghe kỹ tiếng nước chảy trong khe rất là mạnh. Bà Trần lúc đó càng cảm tạ A Di Đà Phật đã từ bi cứu giúp, nếu như không phải hai chân bất động, đi tiếp một bước nữa thì rơi vào trong khe, bị nước cuốn trôi rồi, cả người nhà cũng không ai hay biết, sẽ mãi mãi ngậm hờn nơi chín suối. Lúc bấy giờ ở khe suối đó dùng miếng ván nhỏ làm cầu, bà Trần liền dùng cả hai tay hai chân như móc câu mà bò qua, xong mới thở ra một hơi nhẹ nhõm, thẳng lưng lên tiếp tục chạy về phía trước, liên tục ba lần, hễ đến bên bờ khe, thì chân tự động dừng bước, thật là không thể nghĩ bàn! Sai một bước không phải là chết đuối mà là té chết (bể đầu gãy xương...) do vì ban đêm nhìn không thấy rõ, nên bà Trần về đến nhà là đã 12 giờ khuya!

Ngày hôm sau bà Trần trở lại gánh gánh củi quăng mất hồi tối, bà đã hỏi người ở trạm xe, bóng đen hồi tối qua nhìn thấy rốt cuộc là cái gì? Người ta liền nói với bà ta: Hồi trước có một người bị tai nạn chết ngay chỗ đó, có lẽ âm hồn không tan, nên thường hiện ra nơi đó. Câu chuyện trên đây là do Pháp Viên và cô Hoàng Chiêu Anh đến dự khánh thành liên xã Đài Đông và tham gia giảng diễn năm ngày, nghe được từ chính miệng bà Trần kể lại vào mồng 1 tháng giêng năm Dân quốc thứ 48.

8. Oan hồn theo đuổi bị sốt cao, niệm Phật hết sốt

Lại nói về một lão sư tỷ ở nơi hoằng pháp Vụ Phong 10 năm trước. Bà ở đường Trung Chánh làng Vụ Phong, đã hơn 70 tuổi, người ta đều gọi bà là thím Chi, là một đệ tử Tam Bảo rất cung kính hết lòng niệm Phật. Có một hôm vị lão sư tỷ này nói với tôi: “Đứa cháu nội 9 tuổi của tôi, mấy ngày trước đến một chỗ xa nào đó, buổi sáng mới đi rất là vui vẻ, buổi chiều về sức khỏe không được thoải mái, cũng không ăn cơm tối, liền ngã ra giường ngủ, thằng bé này hồi nào tới giờ vốn ngủ với bà nội”.

Người già thường có nhiều kinh nghiệm, nhìn thấy cháu nội đi chơi bên ngoài về liền ngã ra ngủ không tỉnh, trong lòng cảm thấy không an, nên cũng không ngủ được, liền ở bên cạnh cháu, thường dùng tay sờ trán của cháu thăm dò tình hình lạnh nóng; đến hơn 2 giờ khuya, cảm thấy cháu bắt đầu phát sốt cao, liền cung kính niệm một ly nước chú đại bi, kêu nó dậy cho nó uống. Nó uống xong một ly lớn nước chú đại bi, liền nói: “Bà nội! Con hôm nay đi chơi bên ngoài, sau khi ăn cơm dưới một gốc cây, chơi một chút sức khỏe liền rất không thoải mái, do vì có một thằng nhỏ đi theo con về nhà, nó nói với con, nó cũng 9 tuổi, nó là thằng nhỏ hồi năm ngoái cũng chơi ở đó bị té chết, nó bây giờ cũng còn mặc đồ học sinh, nó nói bây giờ nó rất buồn tẻ, nó muốn con cùng nó làm bạn. Bà nội! Nó hiện vẫn còn đứng trước giường muốn con đi chơi!”.

Lúc đó lão sư tỷ nghe đứa cháu nói những lời đó rồi, bất giác run lên, lông tóc dựng đứng, nhưng không thể không tự phấn chấn tinh thần, tự nâng cao dũng khí nói: “Nhà của ta không oán không thù gì với ngươi, nếu như có oán thù đi nữa, thì oán nên mở mà không nên buộc, giờ ta niệm chú vãng sanh bố thí cho ngươi, để ngươi có thể siêu sanh thoát khổ, ngươi nên chú ý nghe!”. Lão sư tỷ liền niệm ba xâu chuỗi liền không gián đoạn đã hơn ba trăm biến, lại niệm tiếp Thánh hiệu A Di Đà Phật, không biết niệm được mấy ngàn câu, đứa cháu nội lại kêu lên: “Bà nội! Lúc bà nội niệm chú vãng sanh, nó liền đi ra ngoài cửa, vẫn còn dùng tay ngoắc con, kêu con đi ra. Mãi đến lúc bà nội niệm A Di Đà Phật thì không thấy nữa”.

Lão sư tỷ nói: “Tôi liền rót một ly nước nóng nữa cho thằng bé này uống cho nó trấn tỉnh tinh thần, nó liền ngồi dậy nói muốn đi tiểu, nó lúc đó trong bụng vẫn còn run, hai mắt vẫn cứ chằm chằm nhìn ra cửa, sợ đến nỗi hai tay ôm chặt lấy chân của bà nội. Đến nhà vệ sinh, không dám đóng cửa, lại còn kêu bà nội đứng ngay cửa”. Lão sư tỷ nói: “Nếu không phải thiệt nhìn thấy ma quỷ, vì sao mà sợ đến như vậy? Sau khi đi tiểu về đến phòng, lại tháo mồ hôi đầy mình, sốt cũng đã lui rồi, ngủ một giấc ngon lành trời sáng thức dậy, lanh lợi lại như thường, bình an vô sự”. Lão sư tỷ lại nói tiếp: “Tôi rất cảm ơn sư tỷ, vì sư tỷ đến dạy chúng tôi niệm A Di Đà Phật, cho nên tôi mới nói cho sư tỷ nghe”.

Tôi liền hỏi: “Đang lúc thằng bé sốt cao, quỷ phá rất nghiêm trọng, sao bà không kêu con trai và con dâu bà dậy?”. Lão sư tỷ đáp: “Vì tụi nó ngủ trên lầu, oan nghiệp đeo đuổi từ bên ngoài đến, người không tin theo Phật, không cách gì giải quyết được, nên kêu cũng vô dụng, cho nên không có kêu tụi nó”. Lão sư tỷ đã hơn 70 rồi, từ lúc nghe được pháp môn Tịnh độ, tinh thần rất tốt, căn lành sâu dày phát trí huệ lớn, luôn giữ tâm không rời Phật, Phật không rời tâm. Gần đây nghe cư sĩ A Thẩm nói: “Lão sư tỷ đã vãng sanh hồi 4 năm trước rồi”.

9. Phật A Di Đà phóng quang gia bị

Đây là một câu chuyện thật xảy ra vào ngày mồng 9 tháng 11 ÂL năm Dân Quốc thứ 52 (Dân Quốc sơ niên là 1911) do niệm một câu đại chú vương vạn đức hồng danh mà được cảm ứng không thể nghĩ bàn. Một phụ nữ họ Lại ở trong vùng nông thôn mới do thành phố Đài Trung hỗ trợ, năm nay 54 tuổi, bà ta đã từng dẫn đứa cháu mới 5 tuổi của bà sang một vị liên hữu tên Lý Kim Phương đối diện với nhà bà để nhờ gia trì chú Đại Bi “thâu cảnh”. Gia trì chú Đại Bi “thâu cảnh” là một phương pháp rất hiệu nghiệm, cũng là một pháp môn phương tiện hay, khéo khuyên người niệm Phật.

Buổi trưa mồng 9 hôm đó, bà họ Lại đang làm việc trong nhà bếp, bỗng dưng đầu bà cúi gục xuống, toàn thân co giật. Đứa cháu 5 tuổi đó thế mà rất thông minh, thấy tình trạng như thế, vội vã chạy sang nhà đối diện lớn tiếng kêu lên: “Bà cụ ăn chay ơi! Bà cụ ăn chay ơi! Mau qua giúp bà của con “thâu cảnh”. Vị liên hữu Lý Kim Phương lập tức đến nhà bếp bà Lại, vừa xem, bà giựt mình hốt hoảng, chỉ thấy bà Lại hai con mắt trắng dờ, đã hôn mê bất tỉnh nhân sự, bà mẹ chồng hơn 70 tuổi đang đỡ một bên hông phải của bà ta; đứa con trai lớn đang đỡ hông bên trái, hai người đều sợ đến mức chỉ biết kêu la. Vị liên hữu Lý Kim Phương bảo họ cần phải trấn tỉnh và mọi người phải cùng nhau niệm A Di Đà Phật. Như thế niệm được khoảng 20 phút bà Lại đang trong hôn mê thở ra một hơi, mới mở miệng nói: “Ông ta đứng ở kia kìa, bảo tôi đi với ông ta”. Vị liên hữu Kim Phương hỏi bà ta: “Ông ta là ai vậy?”. Bà Lại đáp: “Là ông Lâm chồng tôi”. Vị liên hữu Kim Phương vừa cao giọng niệm Phật vừa nói với hồn quỷ rằng: “Ông Lâm à! Ông không nên dẫn bà Lại đi, mà nên cố gắng phò hộ sức khỏe của bà được bình an, vì bà ấy là một người con dâu hiếu thảo, trên thì lo hầu hạ mẹ của ông, dưới còn có con nhỏ chưa trưởng thành, cần phải nuôi dạy, ông nhất thiết không được dẫn bà ấy đi!”. Bà mẹ chồng của bà Lại lúc đó cũng nói: “Con à! Từ sau khi con qua đời, vợ con và mẹ cùng nương nhau mà sống, con không được dẫn nó đi, nếu con dẫn nó đi, để lại mẹ già cả thế này và mấy đứa nhỏ còn nhỏ như thế kia, làm sao mà sống đây? Như vậy con chính là đại bất hiếu!”. Vị liên hữu Kim Phương lần nữa lại khuyên hồn quỷ: “Ông Lâm à! Ông phải nên niệm A Di Đà Phật phát nguyện cầu sanh Tây Phương, mới có lối thoát, luân hồi trong sáu đường là cái khổ nói không cùng. Bây giờ tôi niệm A Di Đà Phật, ông cũng phải phát tâm niệm A Di Đà Phật theo!”. Nói xong liền niệm “A Di Đà Phật”, niệm liên tục không dừng. Niệm được khoảng nửa tiếng đồng hồ, thì nghe bà Lại bắt đầu nói: “Tam Tiên ánh vàng rực rỡ, Tam Tiên ánh vàng rực rỡ, chồng tôi cũng đi rồi”. Vị liên hữu Kim Phương hỏi bà ta: “Bà hỏi thử xem, Tam Tiên tên là gì?”. Bà Lại nói: “Họ nói là Phật A Di Đà phóng quang gia bị”. Bà Lại đang trong hôn mê tức thời tỉnh táo trở lại, chưa đầy mấy ngày sức khỏe của bà bình an vô sự (Tam Tiên tức là Tam Tôn, do vì bà Lại không phải tín đồ chính thức của Phật giáo, nên không biết tôn xưng Tam Tôn). Bà Lại lần này bị sự nguy khốn đó, cũng không phải không có nguyên nhân, việc xong bà mẹ chồng của bà ta nói với vị liên hữu Kim Phương rằng: “Thằng Lâm con tôi sau khi kết hôn với con dâu họ Lại này chưa từng có gây gổ với nhau lần nào, thật là một cặp vợ chồng hạnh phúc. Từ ba năm trước khi thằng Lâm chết rồi, con Lại ngày ngày đều thương nhớ chồng. Mười mấy hôm trước nó một mình đi ra mộ dọn dẹp, cúng bái, khóc lóc thảm thiết một trận nữa, cho nên bắt đầu từ hôm đó, đêm nào cũng mộng thấy hồn chồng về trong nhà. Điều kỳ lạ là không chỉ một mình nó mộng thấy, trong nhà lớn nhỏ đều mộng thấy cả!”.

Vị liên hữu Lý Kim Phương có hơi không hiểu: Tại sao một người đã chết ba năm rồi, thần thức còn ôm giữ trong mộ? Riêng tôi, tôi cho rằng việc này có hai cách giải thích:

Một là ông Lâm này lúc còn sống, “chấp ngã” rất nặng cho nên sau khi chết đọa vào quỷ đạo vẫn lưu luyến cái thi thể cũ của mình như trước mà trở thành loài quỷ giữ xác!

Hai là lúc bà Lại đi ra mộ quét dọn cúng bái, thì những cô hồn ngạ quỷ ở gần mộ đó biến hóa ra hình tướng của ông Lâm theo bà ta về nhà làm loạn! Căn cứ theo trong Kinh Địa Tạng có nói: “Cõi Diêm Phù Đề này, người hành thiện, lúc lâm chung, cũng có trăm ngàn quỷ thần ác đạo hoặc biến ra làm cha mẹ, nhẫn đến biến ra những bà con quyến thuộc, dẫn dắt người chết khiến vào đường ác, huống nữa là người lúc sống vốn tạo ác nghiệp”.

Hai cách giải thích trên đây, không biết thuộc về cách nào? Những vị độc giả thông minh, các ngài có thể giải đáp cho tôi không?

10. Con mèo đòi nợ, yêu cầu siêu độ

Phàm người khi mạng sắp lâm chung, ngoài con đường Thánh ở Tây Phương ra, thì nếu không vào được cõi trời hay loài người, thì cũng ắt vào các đường: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Quyến thuộc của người mạng chung, nếu có thể giúp cho họ niệm Phật, đó là đưa thần thức của họ vãng sanh vào đường Thánh Tây Phương mãi mãi thoát ly được biển khổ sanh tử. Nhưng cái ngày sắp mạng chung, giống như ngày 30 tháng chạp, những oan nghiệp đời trước, các chủ nợ đều đến, đâu có chịu cho anh đi dễ dàng! Nợ đã tính chưa xong, lâm chung làm sao để cho anh tiêu dao tự tại? Trong khoảnh sát na này thì phần lớn trách nhiệm ở nơi quyến thuộc và những người trợ niệm, cho nên người niệm Phật tu hành nhất thiết không nên ỷ vào mình tu hành nhiều năm, công phu rất tốt, các thứ công đức bố thí v.v… nhiều. Ngoài các bậc hành giả thật sự nắm chắc được việc tự tại muốn đi thì đi; còn lại, lúc sắp mạng chung vẫn phải lấy trợ niệm làm quan trọng. Bây giờ đơn cử ra một vị liên hữu vào tháng trước vãng sanh để chứng minh.

Vị liên hữu Hồng Hoàn trưởng ban của ban 48 nguyện kiêm ban trưởng của ban thí tài ở Liên xã Đài Trung, năm nay sáu mươi hai tuổi. Trong hai mươi năm gần gũi, đồng tu với ân sư Bính Công, có thể nói là người có phước báo nhứt, thành khẩn nhứt, phát tâm lớn nhứt, không có ai là sánh được với bà. Phước báo của bà ta là gia đình thanh nhàn nhứt, con cái, dâu rể, cháu ngoại đều hiếu thuận, cả nhà tin Phật, niệm Phật và của cải dư dã, bố thí từ nào đến giờ không có lận tiếc, cho nên sư phụ cho bà ta làm ban trưởng ban thí tài. Lòng thành khẩn đối với việc tin Phật của bà là mỗi khi sư phụ giảng kinh hoặc mở hội v.v… thì bà đều đi đủ không có mưa gió gì có thể ngăn trở; chẳng những tự tu tự lợi như thế, mà còn tâm tâm niệm niệm luôn nghĩ đến việc “lợi tha”. Tôi thường khen ngợi Hồng Hoàn với mọi người, hạng mà khó độ nhứt là bà con trong gia đình và những người hàng xóm, nhưng mà Hồng Hoàn thì sao? Thật có thể nói bà là bậc “bi trí song vận” (bi trí đầy đủ), phương tiện khéo léo, không những trong gia đình bà con đồng chí đồng đạo, ngay đến bà con hàng xóm xa gần, cả đến trong những ngõ hẻm ngóc ngách, hầu như nhà nào cũng đều phụng thờ tượng Tây Phương Tam Thánh, có thể độ được cả một con hẻm đều tin Phật, thật là hiếm thấy! Đây đều là cái thành quả phát Bồ Đề Tâm của bà. Chẳng những như thế, bà lại còn đảm nhiệm làm cán sự hội phụ nữ khu Bắc thành phố Đài Trung, đã từng khuyên dứt mười mấy gia đình bất hòa, năm đó có cặp vợ chồng trẻ, cảm tình sắp bị tan vỡ, lúc chồng vợ con cái sắp chia tay, thì nhờ biện tài vô ngại của bà khuyên bảo, gia đình trở lại tốt đẹp, và tốt hơn nữa là đều quy y Tam Bảo. Cho nên ai cũng đều khen ngợi hoàn cảnh gia đình của sư tỷ Hồng Hoàn là tốt đẹp, cùng với tinh thần từ bi ưa xả thí của bà, trong đời có thể nói là “thập toàn thập mỹ” (mười phân vẹn mười).

Tuy nhiên, trong cái đẹp có cái khiếm khuyết. Cái khiếm khuyết của sư tỷ Hồng Hoàn là vào năm ngoái bỗng nhiên bị bệnh ruột dư, đã đi bệnh viện khoa ngoại mổ một lần, đến trung tuần tháng 2 năm nay bệnh biến đổi nặng, đã qua Đông Tây y dược trị liệu vẫn không có hiệu quả. Lúc bệnh nặng đã từng có thỉnh thầy Bính Công đến khai thị, thầy thấy bà uống thuốc an thần, mơ mơ hồ hồ, liền dặn con cái của bà: “Về sau nhất thiết không nên tiếp tục cho bà uống thuốc an thần nữa, lúc trợ niệm tinh thần sẽ mơ hồ hồ như thế, thần thức sẽ không thể vãng sanh Tây Phương được!”. Đến 3 giờ buổi chiều ngày 17, tôi nhận được điện thoại của con gái của bà, nói là mẹ của cô đã hôn mê bất tỉnh nhân sự. Tôi lập tức cùng với sư tỷ Ngọc Trinh và mấy người nữa đi đến trợ niệm, lúc đó mọi người chúng tôi đều thấy bà ta hổn hển thở gấp, không còn biết gì, hai tay giở lên buông xuống liên tục, bộ dạng như đang muốn đẩy cái gì. Chúng tôi liên tục niệm Phật, niệm đến khoảng hơn 5 giờ, hơi thở gấp của bà đã từ từ ổn định lại, hai tay cũng không còn giở lên giở xuống nữa, dần dần tỉnh táo trở lại và đã có thể nói chuyện được rồi, bà nói với chúng tôi: “Sư tỷ, cám ơn các sư tỷ nhiều! Được rồi, các sư tỷ nghỉ đi!”. Tôi nói bà ta nên tĩnh tâm nhớ Phật, không nên nói chuyện nhiều. Lúc đó đã 6 giờ, tôi liền dặn dò con cái của bà rằng: “Nếu như lúc nửa đêm khuya khoắt, nguy hiểm, các con cháu, mọi người đều phải cố gắng niệm Phật, nhưng nhất định phải đồng thanh, không nên có người thì niệm “A”, có người thì niệm “Đà”, có người thì niệm “Di”, trước sau lộn xộn, như thế làm nhiễu loạn nhĩ căn của người sắp mạng chung”. Sau khi tôi dặn dò xong, liền cùng các liên hữu ai về nhà nấy.

Đến sáng ngày hôm sau, nhớ nghĩ người bạn tri âm sắp từ biệt cõi đời, không khỏi ngậm ngùi nhớ tiếc, tức khắc chạy đi xem coi tối qua như thế nào? Lúc tôi mới vào cửa A Hoàn nghe được tiếng tôi liền lớn tiếng kêu lên: “Sư tỷ Khán Trị lại đây, lại đây!”, tôi liền ngồi trên mép giường của bà, bà nói với tôi: “Chiều hôm qua may mà có các sư tỷ niệm Phật cho tôi, do vì lúc đó dường như đang bị cái chụp muỗi đen đè cứng, cái chụp đó nặng có mấy ngàn ký, đè đến nỗi tôi không thở nổi, chỉ còn có hai tay còn tự do, nên hai tay giở lên giở xuống muốn đẩy nó ra, nhưng lại đẩy không nổi”. Tôi hỏi bà ta: “Tại sao chị không niệm A Di Đà Phật?”. Bà nói: “Khắp mình bị đè thở không ra hơi, không những miệng niệm không ra, ngay cả trong tâm cũng không niệm được! May mà còn có thể nghe được tiếng niệm Phật của các chị, tiếng vừa to vừa rõ ràng, cái chụp muỗi đen đó dần dần biến mất, tôi mới cảm thấy thân thể nhẹ nhàng, từ từ tỉnh lại”.

Hồng Hoàn lại nói: “Sư tỷ Khán Thị à! Tôi hôm qua lại còn nhìn thấy một cảnh giới nữa, kể ra rất dài”. Tôi hỏi bà muốn nói cái gì, bà nói: “Tối qua khoảng 2 giờ, tôi nhìn thấy một đứa bé khoảng chưa đầy tám tuổi mặc đồ trắng hiện ra trong phòng tôi, tôi hỏi nó: “Mày là ăn trộm đến trộm đồ phải không?”, thằng nhỏ liền phủ nhận: “Không phải, không phải!”. Tôi hỏi tiếp nó: “Vậy mày ở đâu đến đây? Đến làm cái gì?”. Nó nói: “Tôi từ lục đạo luân hồi đến, muốn đến đòi nợ bà, tính sổ với bà”. Tôi nói: “Ta làm người thanh bạch, chưa từng thiếu nợ của người nào”. Thằng nhỏ đó lại nói: “Không phải đời này, mà là nợ đời trước. Do vì bà đời trước ở Đài Bắc làm người hiếu sát (hay giết, ưa giết), đã giết bốn mươi con mèo rồi đều vứt bỏ xuống sông Cô Long (tên cũ), không tin, bà đi kiểm tra lại thì biết, tôi là một con trong đó, do vì sau khi bà giết chết tôi bà vẫn cứ ném vào trong sông, tôi rớt xuống bên bờ, có một người họ Hứa cứu tôi, nhưng tôi đã không thể sống tiếp, nên đã dùng một sợi dây cột tôi lại, treo lên trên cây, tôi nhờ tinh hoa của mặt trời mặt trăng cho nên có thể được hình người này, nhưng còn ba mươi chín anh, chị, em của tôi vẫn còn hình dáng mèo chịu khổ ở nơi đó. Tôi đến đây là muốn bà siêu độ cho bầy mèo anh chị em của tôi thoát khổ.” Tôi vội vàng nói: “Được, được! Liên xã chúng tôi trong tháng sắp cúng tế Tổ, thuận tiện sẽ siêu độ cho các ngươi luôn”. Đứa bé đó lại nói: “Không được không được! Nhất định phải làm hai cái giỏ tre đi đựng ba mươi chín con mèo kia. Chính bà tụng kinh siêu độ tại nhà bà.” Tôi liền nhận lời, sáng hôm nay kêu Canh Thân viết thư cho một người bà con ở Đài Bắc hỏi thăm rồi”.

Qua ba ngày, người bà con ở Đài Bắc gởi thư hồi âm nói: trước đây rất lâu ở Đài Bắc thật có con sông này. Việc này của Hồng Hoàn không những nói với tôi, còn nói với rất nhiều liên hữu nữa. Bà liền thỉnh cư sĩ Triệu Đàm Thuyên, Vương Thanh Hán, mười mấy vị liên hữu đến nhà bà tụng Kinh Địa Tạng, tụng kinh sám ba ngày để siêu độ cho bốn mươi con mèo kia. Buổi tối ngày cuối cùng lại làm một nhà “phổ thí” (thí khắp) để mở hết những oan kết cho bà.

Đến sáng sớm mồng 5 tháng 3 âm lịch, có người gọi điện thoại đến nói Hồng Hoàn sắp vãng sanh rồi, hiện chỉ còn thở thoi thóp. Tôi liền lại cùng với sư tỷ Ngọc Trinh và mấy vị đến nhà bà niệm Phật, niệm được hơn một giờ, thì Tố Cầm con gái của bà, nói với tôi: “Sư tỷ! Má con bắt đầu từ đêm qua, chỉ còn một hơi thở mong manh như thế, đến bây giờ vẫn chưa được vãng sanh; má con trước đây từng có dặn dò con: cần phải trước khi vãng sanh, trước nên thay đồ dùm cho bà, không biết phải hay không là chưa thay đồ, nên không chịu vãng sanh? Sư tỷ! Bây giờ thay đồ cho má con được không?”. Tôi nói: “Không được, không được! Bây giờ động dời bà ta e rằng gây cho bà ta phiền não thì không được vãng sanh”. Thế là lại niệm hơn nửa tiếng đồng hồ, vẫn cứ như thế, tôi nghĩ có lẽ bà ta thật sự chấp phải thay đồ trước, liền kêu mọi người tạm ngừng niệm Phật, tôi đến bên tai của bà lớn tiếng nói: “Sư tỷ A Hoàn, chị niệm Phật hai mươi năm, tâm tâm niệm niệm đều là muốn vãng sanh Tây Phương, chị đã hiểu thế giới Ta bà này là giả, là khổ, đời người ở đời trong mấy chục năm, mỗi con người cuối cùng đều phải chết, chỉ là trước sau mà thôi, thế giới Cực Lạc mới là quê nhà an ổn của chúng ta; Phật A Di Đà là cha lành của chúng ta, sắp đến tiếp dẫn chị, chị phải buông bỏ hết vạn duyên, nhứt tâm niệm Phật, mọi người chúng tôi sẽ tiếp tục giúp chị niệm Phật, đưa chị vãng sanh Tây Phương Cực Lạc thế giới, sau này chị còn phải thừa nguyện lực trở lại quảng độ chúng sanh. A Hoàn! Chị phải buông bỏ tất cả, chúng tôi thỉnh Phật A Di Đà đến tiếp dẫn chị, chị phải niệm Phật theo đại chúng!”. Thật là không thể nghĩ bàn, mọi người đều nhìn thấy lúc tôi nói chuyện với bà, mắt của bà mở ra, đầu thì gật không ngớt, bày tỏ dáng điệu rất hài lòng, chúng tôi bèn niệm tiếp được năm phút, bà liền mỉm cười ra đi. Lúc đó là 11 giờ trưa ngày mồng 5 tháng 3. Sau khi bà dứt thở chúng tôi lại còn niệm tám giờ nữa mới để con cháu bà tắm rửa thay đổi y phục và lo đám tang.

Từ chuyện đơn cử có thật trên đây, chúng ta thấy: trước khi Hồng liên hữu lâm chung nhìn thấy một cái chụp đen nặng cả ngàn ký đè bà ta đến nỗi đau khổ vô cùng, tự mình không cách gì đẩy ra được; nếu như không có các vị liên hữu bên mình bà niệm Phật cho bà, thì làm sao có thể hồi dương được hơn mười ngày, dùng Phật pháp làm những công đức giải oan thích kết (mở bỏ những oan trái) cho những con mèo nhỏ kia. Mà những oan hồn kia biết Hồng liên hữu thường ngày niệm Phật, sẽ sanh Tây Phương thì món oan trái này sẽ không còn cách gì đòi cho được, bèn hiện thân ra đứa nhỏ thẳng thắn nói ra đoạn oan nghiệp bị giết hại đời trước, yêu cầu tụng kinh siêu độ cho chúng thoát khổ. Có thể nhìn thấy nhân quả đáng sợ, rất nguy hiểm biết bao! Tôi viết đến đây tự nhiên lông tóc dựng ngược, cảm thán mãi! Thật là “Thân này không lo tu ngay trong đời này, còn đợi đến đời nào mới độ được thân này!”.

 

LƯỢC SỬ TIỀN THÂN ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀ 48 LỜI ĐẠI NGUYỆN

Hành giả tu Pháp Môn Tịnh Độ cần nên biết những tiền thân, công hạnh tu tập và 48 lời đại nguyện của Đức Phật A Di Đà. Đức Phật A Di Đà có công đức rất lớn, lòng từ bi bao la, hạnh nguyện vĩ đại. Ngài phát ra 48 lời đại nguyện để trang nghiêm Phật Độ, tiếp dẫn chúng sanh.

Từ khi Ngài phát Bồ Đề Tâm cho đến ngày thành Phật, Ngài đã trãi qua hằng sa kiếp tu tập, giáo hóa cứu độ chúng sanh. Sau đây, lược thuật năm tiền kiếp của Ngài:

1. Mười sáu vị Vương Tử trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa

Đức Phật Đại Thông Trí Thắng, khi còn ở ngôi quốc vương có mười sáu người con trai. Lúc quốc vương từ bỏ ngai vàng, xuất gia thành Phật thì mười sáu vị vương tử đồng vào pháp hội, xin xuất gia làm Sa Di. Trải qua một thời gian tu học, mười sáu vị Sa Di đều chứng ngộ, đều có thần thông, trí tuệ.

Sau khi giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa cho đại chúng trong pháp hội, Đức Phật Đại Thông Trí Thắng liền nhập tịnh thất, trụ trong đại định.

Trong thời gian Đức Phật nhập thất, mười sáu vị Sa Di đều lên pháp tòa, giảng rộng nghĩa lý Kinh Pháp Hoa cho đại chúng. Mỗi vị Bồ Tát Sa Di độ được sáu trăm tám mươi muôn ức na do tha, hằng hà sa người.

Mười sáu vị Sa Di ấy hiện nay đều đã thành Phật, đang ngự trong đạo tràng ở mười phương thế giới. Vị Sa Di thứ mười sáu thành Phật ở cõi Ta Bà, hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Vị Sa Di thứ chín thành Phật ở thế giới Cực Lạc, tức là Đức Phật A Di Đà.

2. Thái Tử Thắng Công Đức

Về thuở quá khứ, có một vị thái tử tên là Bất Tư Nghị  Thắng Công Đức. Năm mười sáu tuổi thái tử được nghe kinh Pháp Bổn Đà La Ni nơi Đức Phật Bảo Công Đức Tinh Tú  Kiếp Vương Như Lai. Nghe kinh xong, Thái Tử tinh tấn tu tập trong bảy muôn năm không ngủ nghỉ, mà cũng không nằm dựa. Nhờ sức tinh tấn dõng mãnh ấy nên lần lần Thái Tử được gặp chín mươi ức trăm nghìn Đức Phật. Bao nhiêu kinh pháp của chư Phật truyền dạy Thái Tử đều có thể thọ trì, tu tập cả. Về sau Thái Tử xuất gia làm Sa môn, lại tu tập môn Pháp Bổn Đà La Ni chín muôn năm, và giảng truyền chính pháp cho mọi người. Một đời cần mẫn tu hành và cần mẫn giáo hóa, Thái Tử độ được tám mươi ức na do tha người phát Bồ Đề Tâm, trụ bậc Bất Thoái Chuyển.

Thái Tử Thắng Công Đức là tiền thân của đức Từ Phụ A Di Đà Phật.

3. Vị Tỳ Kheo quán tướng lông mày trắng của Đức Phật Không Vương

Kinh Quán Phật Tam Muội Hải, chép: Ðời quá khứ Ngài làm Tỳ Kheo, chăm lòng kính lễ quán tưởng tướng lông mày trắng của Đức Phật Không Vương, nên được thọ ký làm Phật hiệu là A Di Ðà.

4. Vua Vô Tránh Niệm

Trong Kinh Bi Hoa nói rằng: Về khoảng hằng sa kiếp trước, có một đại kiếp gọi là Thiện Trì. Khi ấy tại cõi Tản Đề Lam thế giới có vua Chuyển Luân Thánh Vương, tên Vô Tránh Niệm, thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: một là Đông Thắng Thần Châu, hai là Nam Thiệm Bộ Châu, ba là Tây Ngưu Hóa Châu, và bốn là Bắc Cu Lô Châu, tiếng nhơn hiền đồn dậy bốn phương, đức từ thiện đượm nhuần khắp xứ, nên hết thảy nhân dân ai nấy cũng sẳn lòng ái kính.

Vua ấy có nhiều người con và có một vị đại thần, tên là Bảo Hải, con dòng Phạm Chí, rất tinh thông về nghề xem thiên văn.

Ông Bảo Hải lại có một người con trai tướng tốt lạ thường, từ dưới chân lên đến trên đầu đều có ba mươi hai tướng tốt.

Khi con ông mới sanh ra, thì có các hàng khách tôn quý đem nhiều đồ lễ vật đến dâng cho, nhơn vậy mà đặt tên là Bảo Tạng.

Lúc khôn lớn, thì Bảo Tạng xem biết việc đời là thống khổ thân mạng lại vô thường, tự nhiên sanh lòng chán ngán, bỏ cuộc vinh hoa, liền xuất gia tu hành, chẳng đặng bao lâu mà đã thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai, đủ các đạo Pháp nhiệm mầu, thần thông rộng lớn. Khi thành Phật rồi, thì Ngài dạo khắp các nơi mà hóa độ chúng sanh, có nhiều hàng đệ tử đã chứng đặng quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, nên nhơn dân ai nấy cũng sẵn lòng hoan nghinh.

Có một bữa kia, vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng cùng Đại chúng đến giảng Đạo tại vườn Diêm Phù, gần bên thành, thì tự nghĩ rằng: “Nay Ta muốn đến chỗ Phật, đặng xem coi giảng Đạo lý gì mà thiên hạ tín ngưỡng đông như thế!”.

Nghĩ như vậy rồi, vua cùng các vị vương tử, đại thần và quyến thuộc bèn đến vườn Diêm Phù lễ Phật vừa xong, liền đi chung quanh ba vòng, rồi ngồi bên Ngài mà nghe Pháp.

Vua Vô Tránh Niệm xem thấy Đức Bảo Tạng Như Lai khoanh chân ngồi trên bảo tọa có hình con sư tử, rất bực trang nghiêm, đủ tướng tốt đẹp, chung quanh thân Ngài có ánh sáng nhiều sắc chói lòa.

Còn trong Pháp hội thì thấy: nào là những người đã xuất gia làm đệ tử của Phật cạo tóc đắp y, nào là những hàng vương tử đại thần mặc đồ anh lạc, nào là cung nga mỹ nữ dung mạo tốt xinh, nào là sĩ, nông, công, thương, áo xiêm chỉnh đốn, kẻ thì chấp tay ngồi im lặng, người thì quỳ gối thưa hỏi, xem bộ ai nấy cũng chăm ngó Phật mà nghe Pháp cả.

Vua Vô Tránh Niệm quan sát khắp đủ mọi lẽ, bèn ngắm nhìn thân mình, rồi trở lại ngó Phật, mắt sửng không nháy, lòng thiệt hoan nghênh, cái tâm niệm tín ngưỡng tự nhiên phát lộ, liền đảnh lễ Ngài và đi xung quanh ba vòng, rồi cũng ngồi xuống một bên Ngài mà chăm nghe lời giảng dạy.

Vua nghe Đức Bảo Tạng Như Lai diễn đủ các Pháp, thì lòng đã mở thông, căn thân thanh tịnh, rõ đường giải khổ, biết sự làm lành, liền quỳ xuống chấp tay mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nay con muốn sắm đủ những đồ ăn uống: áo chăn, mền nệm và thuốc men, đặng dưng cúng cho Ngài và đại chúng luôn trọn ba tháng ở đây mà giảng đạo, xin Ngài từ bi ai nạp”.

Vua Vô Tránh Niệm thấy Phật nhận lời, liền trở về truyền lịnh sắm sửa đủ mọi lễ, cứ đúng buổi mà dưng cúng không hề trễ nãi.

Vua lại khuyên bảo các vị vương tử, đại thần, quyến thuộc và nhơn dân rằng: “Các ngươi có biết hay không? Nay Trẫm đã mở lòng bố thí, kính thỉnh Đức Bảo Tạng Như Lai và đại chúng đến mà cúng dường trọn ba tháng. Những đồ báu trọng ngon đẹp của Trẫm thọ dụng bấy lâu nay đều đem dâng cúng tất cả. Các ngươi cũng thể theo ý Trẫm xả bớt huyễn tài mà cúng Phật Tăng đặng cầu phước báu”.

Cả thảy đều vâng lời vua khuyên, hết lòng sắm sửa lễ vật mà dưng cúng Phật.

Có một hôm, quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân Đức Bảo Tạng Như Lai, nằm chiêm bao thấy vua Vô Tránh Niệm làm sự bố thí thì lớn, mà việc cầu phước báu thì nhỏ. Sự ao ước của vua còn thuộc về phước hữu lậu trong cõi nhơn thiên, chưa thoát ra khỏi luân hồi sanh tử.

Vậy nên quan Đại thần chẳng đặng vui lòng, vì ý của ông muốn làm sao cho vua phát tâm cầu quả Bồ Đề, tu thành Phật đạo mà cứu vớt mọi loài chúng sanh, chớ không muốn cho vua cầu phước báu nhỏ nhen như hàng tiểu dân vậy.

Quan Đại thần suy nghĩ như vậy, bèn đến chỗ Phật Bảo Tạng Như Lai tỏ điềm chiêm bao ấy, và tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Muôn tâu Đại Vương! Xin suy nghĩ đến việc này. Về sự sanh tử luân hồi phải bỏ thân này mang lốt khác, nên khó đặng thân người. Nay Đại Vương đã cảm lấy phước báu làm đặng vương thân, thiệt là quí báu biết dường nào! Các Đức Phật tùy cơ duyên của chúng sanh cảm triệu mà ứng hiện ra đời, cũng như bông ưu đàm ứng thời mà nở, thiệt là ít có! Nay Đại Vương gặp Phật xuất thế, thì phần hân hạnh biết bao! Dứt trừ lòng dục vọng, làm mọi sự phước duyên, cũng là việc khó mà Đại vương làm đặng như vậy, thiệt là ít ai bì đặng!

Xin Đại Vương thứ lỗi cho ngu thần hỏi lời này: Ngày nay Đại Vương cúng dường Phật Tăng, dùng phước duyên đó mà cầu nguyện những việc chi, xin cho ngu thần rõ.

Nếu Đại Vương muốn cầu sanh về cõi Trời mà làm một vị thiên tử hưởng sự phước thọ hay là muốn cầu sanh về cõi Nhơn gian làm vua Chuyển Luân, thống lãnh bốn châu thiên hạ như ngày nay vậy, thì cũng còn ở trong khổ ải, chớ chưa ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Thưa Đại Vương! Hai sự phước báu tôi đã trần tấu đó đều là tướng vô định, đều là sự vô thường, thí như cơn gió thổi, dường tợ đám mây tan, có chắc chắn lâu dài chi đâu mà phải cầu nguyện!

Nếu sanh về cõi Trời, khi hưởng sự khoái lạc mà có tạo ác nghiệp, thì cũng phải đọa vào địa ngục, đặng chịu khổ. Còn như sanh về cõi nhơn gian, thì lại chịu mọi sự khổ não phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa cái khổ trạng ấy không thể kể xiết.

Vì Đại Vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước, nên mới hưởng đặng sự tôn vinh như vầy. Nếu nay Đại vương giữ gìn giới luật, thì sẽ đặng phước báu lớn hơn nữa: còn như tu học chánh pháp, thì sẽ thành chủng trí.

Vậy xin Đại vương nên phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ đừng cầu nguyện những việc phước nhỏ nhen như hạng người thường kia vậy”.

Vua Vô Tránh Niệm nghe quan Đại thần Bảo Hải khuyến thỉnh như thế, thì tâm lượng tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng: “Trẫm chẳng cầu những việc như khanh nói đó đâu! Trẫm muốn trãi khắp trong đường sanh tử, làm sự bố thí, trì giới, hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và cứu vớt chúng sanh, do nhân duyên ấy mà phát Tâm Bồ Đề”.

Đại thần Bảo Hải lại nói rằng: “Bồ Đề là một đạo rất trong sạch sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao sâu, khắp cả hư không, trùm cả sa giới rất có oai thần mảnh lực.

Vả lại đạo Bồ Đề là hạnh bố thí, sẽ đặng giàu sang, là hạnh trì giới, sẽ đặng thanh tịnh, là hạnh nhẫn nhục, sẽ đặng vô ngã, là hạnh tinh tấn, sẽ đặng bất thối, là hạnh thiền định, sẽ đặng vắng lặng, là hạnh Bát nhã, sẽ đặng sáng suốt.

Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng quả Niết Bàn. Vậy xin Đại vương nên phát tâm mà cầu đạo ấy”.

Vua Vô Tránh Niệm đáp rằng: “Này khanh! Đương thời trung kiếp, mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi! Nay Đức Bảo Tạng Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh, hoặc có kẻ chứng pháp Tam Muội, hoặc có người đặng bực Bồ Tát, hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõi Nhơn Thiên. Trong hàng chúng sanh có một người nào không trồng căn lành mà Đức Như Lai chẳng nói Pháp đoạn khổ.

Tuy Ngài là phước điền của chúng sanh, song những người không có căn lành thì Ngài không có thể hóa độ cho dứt đặng mọi sự khổ não.

Nay Trẫm phát Bồ Đề Tâm, tu Bồ Tát hạnh, học đạo Đại Thừa, chứng pháp môn rất mầu nhiệm, chuyên làm Phật sự mà giáo hóa chúng sanh. Trẫm muốn cầu làm sao cho khi thành Đạo Bồ Đề, thì Thế giới đặng trang nghiêm thanh tịnh chúng sanh không còn có một chút khổ gì. Nếu đặng như vậy thì Trẫm sẽ chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”.

Vua Vô Tránh Niệm nói như vậy rồi, bèn đi với quan Đại thần Bảo Hải đến chỗ Đức Bảo Tạng Như Lai, thấy Ngài đương nhập định, lại dùng phép thần thông biến hóa và phóng hào quang sáng suốt, hiện cả mười phương thế giới của Chư Phật ra trước mặt cho chúng hội xem: hoặc có cõi Phật đã Niết Bàn rồi, hoặc có cõi Phật đương Niết Bàn, hoặc có các cõi vị Bồ Tát mới ngồi nơi đạo tràng dưới cây Bồ Đề, đương hàng phục chúng ma, hoặc có cõi Phật mới thành đạo và mới nói Pháp, hoặc có cõi Phật thành đạo đã lâu, đương còn nói Pháp, hoặc có thế giới toàn là các bực Bồ Tát, hoặc có thế giới toàn là những hàng Thinh Văn và Duyên Giác, hoặc có thế giới không có Phật, Bồ Tát, Thinh Văn và Duyên Giác chi hết, hoặc có thế giới đủ năm món ác trược, hoặc có thế giới đủ các thứ trang nghiêm, hoặc có thế giới hèn dơ nhớp, hoặc có thế giới tốt đẹp lạ thường, hoặc có thế giới mà nhơn dân sống lâu vô cùng, hoặc có thế giới mà nhơn dân thọ mạng ngắn ngủi, hoặc có thế giới thường bị tai nạn thủy hỏa, hoặc có thế giới hằng bị tai nạn gió bão, hoặc có thế giới gần thành tựu, hoặc có thế giới đã thành tựu rồi.

Đại thần Bảo Hải thấy vậy, bèn tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Nay Đại vương nhờ sức oai thần của Đức Như Lai mà đặng thấy các thế giới, vậy Đại vương phát Bồ Đề Tâm muốn cầu lấy thế giới nào”.

Vua chấp tay mà thưa với Đức Bảo Tạng Như Lai rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng biết các vị Bồ Tát tu hạnh gì mà chiếm đặng cõi Phật tốt đẹp trang nghiêm, tu nghiệp gì mà chiếm đặng thế giới xấu xa ác trược.

Do nghiệp gì mà đặng thọ mạng lâu dài, tạo nghiệp gì mà thọ số ngắn ngủi? Xin Ngài chỉ dạy cho con biết mà tu học”.

Đức Bảo Tạng Như Lai nói rằng: “Vì bởi các vị Bồ Tát có sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới thanh tịnh, không có các điều ác trược, nên sau khi thành đạo được về ở cõi ấy rất trang nghiêm.

Còn các vị Bồ Tát nào do sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới ngũ trược đủ sự phiền não, nên sau khi thành đạo về ở cõi ấy”.

Vua Vô Tránh Niệm lễ Phật rồi lui trở về trong cung, một mình ngồi im lìm mà suy nghĩ đến sự thệ nguyện của mình, mong cầu cho đặng cõi cực kỳ tốt đẹp, đặng tiếp dẫn chúng sanh.

Suy nghĩ rồi vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Vì con muốn chứng đạo Bồ Đề, nên đem công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng mà cầu đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm.

Bạch đức Thế Tôn!

1. Nay tôi nguyện trong khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới đủ sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là sắc vàng và không có những đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh xen ở chung lộn. Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dữ đó nữa, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân tốt đẹp.

2. Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa. Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thai trong bông sen, lúc bông nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng lâu dài, không kể xiết đặng.

3. Tôi nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp, không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi bay các hướng.

4. Tôi nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng ba mươi hai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút dạo khắp các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường và nghe Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.

5. Tôi nguyện nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong cõi nhơn gian vậy.

6. Tôi phát nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy, đặng từ rày về sau, đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ Tát, làm sự hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ Đề mà thành quả Chánh Giác, phóng hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của tôi.

7. Tôi nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế giới khác, đã có tu tập thiện căn, hễ nghe danh hiệu tôi mà muốn sanh về cõi tôi, đến khi lâm chung đặng vãng sanh, chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch, tội chê bai các Pháp Đại Thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.

8. Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, mà có chúng sanh ở các thế giới đã phát Bồ Đề Tâm, tu Bồ Tát đạo, muốn sanh về cõi tôi, thì đến khi mạng chung, tôi và đệ tử tôi đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.

9. Tôi nguyện khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người nữ nhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm lòng vui mến và phát Bồ Đề tâm, cho đến lúc thành Phật, cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa.

Bạch Đức Thế Tôn! Con nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì con mới chịu thành Phật”.

Đức Bảo Tạng Như Lai nghe vua Vô Tránh Niệm nguyện mấy lời ấy rồi khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại vương phát nguyện sâu lớn, muốn cõi thanh tịnh. Kìa Đại vương hãy xem qua hướng Tây, cách trăm ngàn muôn ức cõi Phật có một thế giới gọi là Tôn Thiện Vô Cấu, giáo chủ cõi ấy hiệu là Tôn Âm Vương Như Lai, hiện nay đương vì các bực Bồ Tát mà giảng dạy Pháp Đại Thừa, giáo hóa các người Thượng căn, chứ không diễn thuyết mấy Pháp quyền tiểu”.

Trong cõi ấy cũng không có chúng sanh căn trí Tiểu Thừa và cũng không có một người nữ nhân. Nhưng y báo (y báo là cảnh vật) và chánh báo (chánh báo là căn thân) của Phật Tôn Âm Vương Như Lai thiệt thanh tịnh trang nghiêm, rất xứng hiệp với chỗ cầu nguyện của Đại vương đó! Vì Đại vương có thệ nguyện muốn cõi thanh tịnh, nên nay Ta đổi hiệu Đại vương là Vô Lượng Thanh Tịnh.

Khi Vô Lượng Thanh Tịnh mãn một trung kiếp, thì Đức Phật Tôn Âm Vương Như Lai nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền bá đặng mười trung kiếp. Đến khi diệt rồi, trải qua sáu mươi trung kiếp, thì cõi Tôn Thiện Vô Cấu đổi tên lại là: Di Lâu Quang Minh có Đức Phật, hiệu là Bất Khả Tư Nghị Công Đức Vương Như Lai, ứng hiện ra đời mà hóa đạo chúng sanh. Sau khi Đức Phật ấy nhập Niết Bàn rồi, trải vô số hằng sa kiếp và vô lượng Phật diệt độ, thì cõi Di Lâu Quang Minh đổi tên lại là: An Lạc, đến thời kỳ Vô Lượng Thanh Tịnh chứng quả về cõi đó mà thành Phật thì hiệu là: A Di Đà Như Lai (dịch là Vô Lượng Thọ), sống lâu vô cùng, tiếp dẫn vô lượng chúng sanh trong các thế giới về đó, rồi giáo hóa cho thành Phật đạo tất cả.

Vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng Như Lai thọ ký như vậy liền thưa rằng: “Bạch Đức thế Tôn! Nếu lòng thệ nguyện của con quả đặng y như lời thọ ký của Ngài, thì con kỉnh lễ xin nhờ Ngài dùng phép thần thông làm cho các Đức Phật ở trong hằng sa thế giới cũng thọ ký cho con như Ngài nữa”.

Vua Vô Tránh Niệm thưa rồi, đương cúi đầu thi lễ, tức thì mười phương thế giới thảy đều vang động.

Vua ở trong pháp Hội nghe Chư Phật đều thọ ký cũng như lời Đức Phật Bảo Tạng đã nói trên đó, thì rất đổi vui mừng, liền chấp tay đảnh lễ, rồi ngồi nghe Phật Bảo Tạng thọ ký cho các vị Bồ Tát khác.

Từ đó về sau, vua Vô Tránh Niệm mạng chung thọ sanh ra các đời khác, kiếp nào cũng giữ lời bổn nguyện, tu hạnh Bồ Tát cứu độ chúng sanh, trải vô lượng kiếp quả mãn công viên hiện thành Chánh Giác, đến nay đã mười đại kiếp rồi, Ngài ở cõi Cực Lạc Thế Giới bên Tây Phương, đương giảng dạy các Pháp Đại Thừa và hằng tiếp dẫn chúng sanh đem về cõi ấy.

5. Tỳ Kheo Pháp Tạng

Kinh Vô Lượng Thọ chép: thuở xưa quá a tăng kỳ vô số đại kiếp có Đức Phật ra đời hiệu là Thế Tự Tại Vương Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn.

Lúc bấy giờ có Quốc Vương nghe đức Phật thuyết pháp lòng rất vui đẹp phát tâm Vô thượng Bồ Đề, từ bỏ ngôi vua xuất gia làm Tỳ Kheo hiệu là Pháp Tạng.

Tỳ Kheo Pháp Tạng đối trước Đức Phật Thế Tự Tại Vương Như Lai phát nguyện rộng lớn để trang nghiêm Phật quốc vô lượng thanh tịnh trang nghiêm.

Thể theo tâm nguyện rộng lớn của Tỳ Kheo Pháp Tạng, Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai nói rõ hai trăm mười ức quốc độ trang nghiêm của chư Phật, mỗi quốc độ Ngài đều phóng quang hiện rõ.

Nghe và thấy các quốc độ nghiêm tịnh, Tỳ Kheo Pháp Tạng phát khởi thệ nguyện thù thắng vô thượng. Trọn đủ năm kiếp, Ngài suy xét nhiếp lấy công hạnh trang nghiêm thanh tịnh nước Phật.

Sau khi nhiếp lấy công hạnh thanh tịnh trang nghiêm hai trăm mười ức nước Phật xong, Ngài đến trước đức Thế Tự Tại Vương Như Lai và chúng hội phát 48 lời đại nguyện như sau:

1. Khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

2. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

3. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

4. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

5. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

6. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

7. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

8. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

9. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

10. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

11. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

12. Khi tôi thành Phật, quang minh có hạn lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

13. Khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

14. Khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết được số lượng ấy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

15. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh gGác.

16. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi mà còn nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

17. Khi tôi thành Phật, mười phương vô lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

18. Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sanh thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

19. Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương phát Tâm Bồ Đề, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

20. Khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức, chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

21. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại nhơn thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

22. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

23. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

24. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi Chánh Giác.

25. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết trí thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

26. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng được thân Kim Cương Na La Diên thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

27. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

28. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

29. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài thì tôi chẳng ở ngôi chánh giác.

30. Khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài của Bồ Tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

31. Khi tôi thành Phật, nước tôi thanh tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

32. Khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

33. Khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

34. Khi tôi thành Phật, những loài chúng sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

35. Khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa phát Tâm Bồ Đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân người nữ lại thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

36. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

37. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

38. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như Phật khen ngợi tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì tôi chẳng ở ngôi Ghánh Giác.

39. Khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

40. Khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

41. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng ở ngôi Ghánh Giác.

42. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

43. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

44. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

45. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội, an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

46. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

47. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối chuyển thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

48. Khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối chuyển thì tôi chẳng ở ngôi Chánh Giác.

Tỳ Kheo Pháp Tạng phát nguyện xong, khắp mặt đất liền chấn động sáu cách. Trời mưa hoa đẹp rải trên mình Ngài. Âm nhạc tự nhiên trên hư không khen rằng: Quyết định chắc thành Vô Thượng Chánh Giác.

Kể từ đó, Ngài siêng năng tinh tấn cần khổ tu tập trãi qua vô lượng kiếp. Đến khi công tròn quả mãn, Ngài chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác hiệu là A Di Đà ở cõi Tây Phương Cực Lạc.

 

THÂN TƯỚNG ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật diễn tả thân tướng Đức Phật A Di Đà như sau:

“Thân của đức A Di Đà Phật như trăm ngàn muôn ức lần sắc vàng diêm phù đàn của cõi trời Dạ Ma, cao sáu mươi muôm ức hằng hà sa do tuần. Lông trắng giữa chân mày uyển chuyển xoáy tròn về phía hữu như năm trái núi Tu Di, đôi mắt trắng xanh biếc như bốn đại hải, các lỗ chân lông nơi thân đều phóng ánh hào quang như núi Tu Di. Viên quang của Đức Phật lớn như trăm ức cõi đại thiên. Trong viên quang có trăm muôn ức na do tha hằng hà sa vị hóa Phật, mỗi hóa Phật lại có vô số hóa Bồ Tát theo hầu.

Thân mình của Đức Phật có tám mươi bốn ngàn tướng tốt, mỗi tướng có tám muôn bốn nghìn tùy hình hảo, mỗi hình hảo có tám muôn bốn nghìn tia sáng. Mỗi tia sáng chiếu khắp thập phương thế giới, nhiếp lấy chúng sinh niệm Phật không bỏ rơi. Sắc đẹp của những tia sáng cùng với hóa Phật không thể dùng lời tả xiết.

Muốn quán tướng hảo của Phật thì nên quán tướng lông trắng giữa chân mày trước. Nếu tướng lông trắng hiện rõ thì bao nhiêu tướng hảo khác tự lần lượt hiển hiện”.

 

KẾT LUẬN

Trong pháp hội giảng Kinh A Di Đà, chẳng những riêng Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni ca ngợi, tán thán Kinh A Di Đà, và công hạnh độ sanh của Đức Phật A Di Đà, mà mười phương Chư Phật cũng đồng tán thán ca ngợi. Sau đây là đọan trích trong Kinh A Di Đà:

“Xá Lợi Phất! Như Ta hôm nay ngợi khen công đức lợi ích chẳng thể nghĩ bàn của Đức Phật A Di Đà, phương Đông cũng có Đức A Súc Bệ Phật, Tu Di Tướng Phật, Đại Tu Di Phật, Tu Di Quang Phật, Diệu Âm Phật; Hằng hà sa số những Đức Phật như thế đều ở tại nước mình, hiện ra tướng lưỡi rộng dài trùm khắp cõi tam thiên đại thiên mà nói lời thành thật rằng: “Chúng sanh các ngươi phải nên tin kinh: Xưng Tán Bất Khả Tư Nghị Công Đức Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm Này”.

Cứ như vậy, chư Phật Phương Tây, Nam, Bắc, Thượng và Hạ Phương cũng đồng tán thán ca ngợi.

Qua sự tán thán ca ngợi của Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, và chư Phật mười phương, chúng ta thấy tầm quan trọng bộ Kinh A Di Đà, và hạnh nguyện độ tha của Đức Phật A Di Đà. Kinh A Di Đà dạy Pháp Môn Tịnh Độ, khuyên người niệm Phật cầu nguyện vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc. Vậy, Pháp Môn Tịnh Độ là pháp môn rất quan trọng, đặc biệt luôn được chư Phật mười phương quan tâm, ca ngợi, tán dương, khuyến khích, chỉ dạy chúng sanh tu tập. Pháp môn này là phương tiện thù thắng độ chúng sanh của chư Phật nên các Ngài luôn bảo vệ, giữ gìn, hộ niệm.

Nếu ai tu tập Pháp Môn này thì cũng được Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, Đức Phật A Di Đà và chư Phật mười phương bảo vệ, giữ gìn, hộ niệm và tiếp dẫn vãng sanh.

Pháp Môn Tịnh Độ là pháp thù thắng, siêu việt, dễ tu, mau chứng, phù hợp với mọi trình độ căn cơ chúng sanh, là con đường tu tắt, sớm giải thoát, sớm thành Phật nên mới được chư Phật quan tâm, hộ niệm như vậy.

Chúng ta hôm nay có duyên lành, phước đức từ nhiều đời nhiều kiếp nên mới gặp được pháp môn này, lại có thiện căn phước đức hơn nữa là có lòng tin Pháp Môn Tịnh Độ. Vậy ngay bây giờ, chúng ta hãy thực hành tu tập pháp môn này, nghĩa là hàng ngày chuyên tâm niệm danh hiệu Đức Phật A Di Đà, và cầu nguyện vãng sanh về Tây Phương Cực Lạc, để sớm được giải thoát, sớm thành Phật đạo.

Nhưng, muốn tu tập Pháp Môn Tịnh Độ được thành công, phải có ba điều kiện quan trọng đó là Tín, Hạnh và Nguyện. Tín phải tin sâu, Nguyện phải tha thiết, Hạnh phải chuyên cần. Chuyên cần nghĩa là phải siêng năng tinh tấn niệm Phật, niệm suốt đời, niệm cho đến khi nào được vãng sanh mới thôi.

Cuộc đời là một biển khổ mênh mông, chúng ta đang trôi nổi, chìm đắm trong biển khổ này từ vô lượng kiếp đến nay, và tiếp tục chìm đắm trôi nổi đến vô lượng kiếp về sau. May mắn thay, giữa biển khổ mênh mông chúng ta gặp được cái phao cứu mạng, phao đây chỉ cho Pháp Môn Tịnh Độ, nếu không có Pháp Môn Tịnh Độ thì làm sao chúng ta thoát khỏi được biển khổ sanh tử này.

Một lần nữa, kính khuyên chư thiện nam tín nữ, ai có duyên gặp được Pháp Môn Tịnh Độ, thì hãy thực hành tu tập, hàng ngày chuyên tâm niệm Phật, và phát nguyện cầu vãng sanh về cõi Tây Phương Cực Lạc để sớm được giải thoát thành Phật. Sau đó, chúng ta cùng với chư Bồ Tát, chư Phật thị hiện, phân thân đến khắp mươi phương thế giới giáo hóa, cứu độ chúng sanh.

Nam Mô A Di Đà Phật

[1] Giới Bát Quan Trai: Là giới pháp cho 2 hàng tại gia Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di thụ trì 1 ngày 1 đêm giới xuất gia. Gồm: 1. Không sát sanh; 2. Không trộm cắp; 3. Không dâm dục; 4. Không nói dối; 5. Không uống rượu; 6. Không bôi son phấn, xịt nước hoa, không ca hát nhảy múa; hoặc xem ca hát nhảy múa; 7. Không ngủ nghỉ nơi gường sập lộng lẩy; 8. Không ăn quá ngọ. Từ Điển Phật Học Hán Việt, trang 1370, xuất bản năm 2007.

[2] Nước bát công đức (Bát công đức thủy): Một trong trẻo sạch sẽ, hai thanh tịnh mát mẻ, ba có vị ngon ngọt, bốn nhẹ nhàng mền mại, năm nhuần nhị mượt mà, sáu yên ổn điều hòa, bảy uống vào trừ được vô lượng quá hoạn như đói khát v.v…, tám uống xong thì chắc chắn có thể trưởng dưỡng được các căn, Tứ đại được tăng thêm. Từ Điển Phật Học Hán Việt, trang 107, xuất bản năm 2007.

 

[3] Thập thiện: Tức là mười nghiệp đạo thiện. Những gì là mười? Nghĩa là xa lìa sát-sanh, trộm cắp, tà-hạnh, vọng-ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ-ngữ, tham-dục, sân-nhuế và tà-kiến. Kinh Thập Thiện Nghiệp đạo, Chương II, HT Trí Thủ dịch.

[4] A-tu-la: Dịch là vô đoan, nghĩa là dung mạo xấu xí. A-tu-la có 3 loại: 1. A-tu-la thiên đạo ở khoảng giữa đất trống nơi thành Bảo thành; 2. A-tu-la qủi đạo ở men biển hoặc ở trong các hang núi; 3. A-tu-la súc đạo ở đáy biển. Nếu là người mộ tu hành, chăm bố thí cúng dường, nhưng tính tình lại hay cáu gắt, kiêu căng thì người đó sau này sẽ sinh thành hạng A-tu-la. Trong hạng A-tu-la, đàn ông thì hình tướng xấu xí, nhưng đàn bà thì rất đẹp. Từ Điển Phật Học Hán Việt, trang 40, xuất bản năm 2007.